April 1, 2016; revised June 30, 2021
Ngày 1/4/2016; Sửa ngày 30/6/2021
- It is possible that one may ask, “If anicca, dukkha, anatta are so important, why are they not included in the 37 Factors of Enlightenment?” After all, one attains Nibbāna via cultivating the 37 Factors of Enlightenment (also called 37 Bodhipākkhiya Dhamma, or the Dhamma concepts that take one to Bodhi or “bhava” + “uddha,” i.e., to Nibbāna; “pākkhiya” means “on the side of”).
Có thể có người thắc mắc, “Nếu anicca, dukkha, anatta quan trọng đến vậy, tại sao chúng không nằm trong 37 Yếu Tố Giác Ngộ?” Suy cho cùng, người ta đạt Nibbāna nhờ tu tập 37 Yếu Tố Giác Ngộ (còn gọi là 37 Bodhipākkhiya Dhamma, tức là các khái niệm Dhamma dẫn đến Bodhi hay“bhava” + “uddha,” nghĩa là đạt Nibbāna; “pākkhiya” có nghĩa là “thuộc về phía”).
- The key to the answer is that there are two 37 Factors of Enlightenment, one is mundane (lokiya) and one is transcendental (lokuttara). We have previously discussed that there are two eightfold paths as well: one mundane and one transcendental; see, “Mahā Cattārīsaka Sutta (Discourse on the Great Forty).”
Điểm mấu chốt của câu trả lời là có hai loại 37 Yếu Tố Giác Ngộ — một thuộc thế gian (lokiya) và một thuộc siêu thế gian (lokuttara). Trước đây, ta cũng đã nói rằng có hai Bát Thánh Đạo: một thế gian và một siêu thế gian; xem “Mahā Cattārīsaka Sutta (Discourse on the Great Forty).”
- The mundane versions are followed by those who do not comprehend the Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta). Thus, Tilakkhaṇa are preconditions (prerequisites) to be able to follow the Noble Path.
Phiên bản thế gian được thực hành bởi những người chưa hiểu rõ Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta). Do đó, Tilakkhaṇa là điều kiện tiên quyết để có thể bước lên Thánh Đạo.
- This is related to the fact that the 37 Factors of Enlightenment were there when Prince Siddhartha was born. The existence of the mundane version of the 37 Factors of Enlightenment or eightfold paths is possible only if there has been a previous Buddha in the same mahā kappa, where a mahā kappa is the time span of an “Earth system” or more precisely a solar system with an Earth-like planet supporting human life (an eon).
Điều này liên quan đến thực tế rằng 37 Yếu Tố Giác Ngộ đã tồn tại khi Thái tử Siddhartha ra đời. Phiên bản thế gian của 37 Yếu Tố Giác Ngộ hay bát chánh đạo chỉ có thể tồn tại nếu trước đó đã có một vị Phật xuất hiện trong cùng một mahā kappa, tức là chu kỳ thời gian của một “hệ Trái Đất” — hay chính xác hơn, một hệ mặt trời có hành tinh giống Trái Đất có thể duy trì sự sống con người (một đại kiếp).
- All Buddhas discover the Tilakkhaṇa, the Four Noble Truths, the Noble Eightfold Path, etc. by their own efforts. But since these Dhamma concepts encompass Nature’s laws, all Buddhas keep rediscovering the same Dhamma.
Tất cả vị Phật đều tự mình khám phá ra Tilakkhaṇa, Tứ Thánh Đế, Bát Thánh Đạo, v.v. Nhưng vì những khái niệm Dhamma này bao trùm quy luật Tự nhiên, nên mọi vị Phật đều khám phá lại cùng một Dhamma.
- However, like anything else in this world, a “Buddha Sāsana” or the “original Dhamma preached by a Buddha” lasts only for a certain time. For Buddha Gotama, his Sāsana is supposed to last only 5000 years (when the human lifespan is about 100 years), and we are halfway through.
Tuy nhiên, cũng như mọi thứ khác trong thế gian, một “Sāsana của Đức Phật” — tức là Dhamma nguyên thủy do một vị Phật thuyết — chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Đối với Đức Phật Gotama, Sāsana của Ngài được cho là sẽ tồn tại 5000 năm (khi tuổi thọ con người khoảng 100 năm), và hiện nay chúng ta đã đi được một nửa chặng đường đó.
- There have been four Buddhas on this Earth (which formed about 4.6 billion years ago), and Buddha Gotama was the fourth. The three Buddhas preceding him were: Kakusandha, Konagama, and Kassapa; one more Buddha, Buddha Maitreya, is supposed to appear long after the Gotama Buddha Sāsana
Đã có bốn vị Phật xuất hiện trên Trái Đất này (Trái Đất này hình thành khoảng 4,6 tỷ năm trước), và Đức Phật Gotama là vị thứ tư. Ba vị Phật trước Ngài là Kakusandha, Konagama và Kassapa; và sẽ còn một vị Phật nữa — Phật Maitreya (Di Lặc) — xuất hiện rất lâu sau khi Sāsana của Đức Gotama biến mất.
- It is said that a Buddha comes to this world to reveal three words and eight letters (in Pāli): “Attakkarā theenapadā Sambuddhena pakāsithā, na hi sīla vataṁ hotu uppajjanti Tathāgatā,” which means, “a Buddha (Tathāgatā) is born NOT just to show how to live a moral life, but to reveal three words to the world.”
Người ta nói rằng một vị Phật đến với thế gian là để truyền dạy ba từ gồm tám chữ (trong Pāli): “Attakkarā theenapadā Sambuddhena pakāsithā, na hi sīla vataṁ hotu uppajjanti Tathāgatā,” có nghĩa là “Một vị Phật (Tathāgatā) sinh ra KHÔNG chỉ để dạy cách sống đạo đức, mà để truyền dạy ba từ cho thế gian.”
- These three words are anicca, dukkha, anatta.
Ba từ đó là anicca, dukkha, anatta.
- When a given Buddha Sāsana fades away, it does not disappear abruptly. What happens is that the true meanings gradually get lost, and are replaced by easier to grasp, mundane meanings; the first to lose the true meanings are anicca, dukkha, anatta. Without them, all other concepts remain there with mundane meanings.
Khi một Sāsana của Đức Phật tàn lụi, nó không biến mất đột ngột. Thay vào đó, ý nghĩa chân thật dần bị mai một và được thay thế bằng những cách hiểu thế tục dễ tiếp thu hơn; và ba từ đầu tiên bị hiểu sai là anicca, dukkha, anatta. Khi ba pháp ấn này bị mất nghĩa, các khái niệm khác vẫn tồn tại, nhưng chỉ còn mang ý nghĩa thế gian.
- When the Kassapa Buddha Sāsana faded away, most of the concepts survived only with mundane meanings, and that is why most terms like kamma and even Satta Bojjhaṅga survived up to the time of Prince Siddhartha’s birth.
Khi Sāsana của Đức Phật Kassapa suy tàn, hầu hết các khái niệm chỉ còn tồn tại với nghĩa thế tục, và đó là lý do tại sao các thuật ngữ như kamma và thậm chí cả Satta Bojjhaṅga vẫn còn được lưu truyền cho đến thời Thái tử Siddhartha ra đời.
- In fact, even during a given Buddha Sāsana, the true meanings of Tilakkhaṇa get lost for periods of time but are revived by Jāti Sotāpannas (when one attains the Sotāpanna stage, it is not lost in future lives; so, if one is reborn human, they will be a Jāti Sotāpanna). Thus, during a given Buddha Sāsana, such Jāti Sotāpannas keep bringing back the true Dhamma until the end of that Buddha Sāsana.
Thực tế, ngay trong cùng một thời kỳ Sāsana của một vị Phật, ý nghĩa chân thật của Tilakkhaṇa đôi khi cũng bị mai một trong một giai đoạn, nhưng được phục hồi lại bởi các Jāti Sotāpanna (người đã chứng quả Sotāpanna từ trước, và điều đó không mất đi trong các kiếp sau; nếu tái sinh làm người, họ vẫn là Jāti Sotāpanna). Do đó, trong suốt thời kỳ Sāsana của một Đức Phật, các Jāti Sotāpanna tiếp tục khôi phục lại Dhamma chân thật cho đến khi Sāsana ấy của Đức Phật chấm dứt.
- After that, no more Jāti Sotāpannas are born, and true Dhamma disappears from this world (or, more correctly, from this Earth). Again, the mundane versions may survive for a long time.
Sau đó, không còn Jāti Sotāpanna nào được sinh ra nữa, và Dhamma chân thật biến mất khỏi thế giới này (hay nói chính xác hơn là khỏi Trái Đất). Tuy nhiên, các phiên bản mang tính thế tục có thể vẫn tồn tại trong thời gian dài.
- Then the world has to await the appearance of a new Buddha to reveal the true meanings of anicca, dukkha, anatta. But a mahā kappa with five Buddhas (like ours) is a rare event, and it is called Mahā Badda Kappa.
Khi đó, thế giới phải chờ đợi sự xuất hiện của một vị Phật mới để giảng dạy lại ý nghĩa chân thật của anicca, dukkha, anatta. Tuy nhiên, một mahā kappa có năm vị Phật (như kiếp này của chúng ta) là điều cực kỳ hiếm, và được gọi là Mahā Badda Kappa.
- More common is to have no Buddhas or just a single Buddha in a given mahā kappa. For example, there were 30 mahā kappā before this mahā kappa where there was not even a single Buddha present.
Trường hợp phổ biến hơn là không có vị Phật nào, hoặc chỉ có một vị Phật xuất hiện trong một mahā kappa. Chẳng hạn, trong 30 mahā kappā trước mahā kappā này, không có một vị Phật nào xuất hiện.
- This is why the Buddha emphasized that there is a very brief window of time to attain Nibbāna (at least to attain the Sotāpanna stage).
Đây là lý do tại sao Đức Phật nhấn mạnh rằng chỉ có một khoảng thời gian rất ngắn để đạt được Nibbāna (ít nhất là chứng bậc Sotāpanna).
- The time span of each Buddha Sāsana is different because the average lifetime of humans keeps changing. Gotama Buddha Sāsana is supposed to be 5000 years long, with the average lifetime of a human being about 100 years. During the Buddha Sāsana of Buddha Kassapa, the human lifespan was about 20,000 years. Thus, we can guess that Sāsana lasted about 20,000 x 50 = about a million years.
Thời gian tồn tại của mỗi Sāsana của Đức Phật khác nhau, vì tuổi thọ trung bình của con người thay đổi theo từng thời kỳ. Sāsana của Đức Phật Gotama được cho là kéo dài 5000 năm, khi tuổi thọ trung bình của con người khoảng 100 năm. Trong thời Đức Phật Kassapa, tuổi thọ con người khoảng 20.000 năm, do đó có thể ước lượng rằng Sāsana của Ngài kéo dài khoảng 20.000 × 50 = khoảng một triệu năm.
- Therefore, even though there will be one more Buddha appearing in this mahā kappa, the total time one could be potentially exposed to Buddha Dhamma would be only a few million years.
Vì vậy, mặc dù sẽ có thêm một vị Phật nữa xuất hiện trong mahā kappa này, tổng thời gian mà chúng sinh có thể được tiếp xúc với Dhamma của Đức Phật chỉ kéo dài trong vài triệu năm.
- Our Earth (i.e., the Solar system) may last a few more billion years, so we can say that the lifetime of this mahā kappa is roughly 8–10 billion years or 8000–10,000 million years. Only a few million years, at most, is the “short window” that is available to work towards Nibbāna.
Trái Đất của chúng ta (tức hệ Mặt Trời) có thể tồn tại thêm vài tỷ năm nữa, do đó có thể nói rằng tuổi thọ của mahā kappa này vào khoảng 8–10 tỷ năm, tức 8000–10.000 triệu năm. Trong đó, chỉ có vài triệu năm — nhiều nhất — là “khoảng thời gian ngắn ngủi” để nỗ lực hướng đến Nibbāna.
- Of course, one needs to be fortunate enough to be born human on this Earth during the Maitreya Buddha Sāsana to get the next opportunity to work towards Nibbāna. This is an improbable event for any given person.
Dĩ nhiên, phải có phước duyên rất lớn mới có thể được sinh làm người trên Trái Đất này trong Sāsana Đức Phật Maitreya để có cơ hội tiếp theo tu tập hướng đến Nibbāna. Đó là một sự kiện vô cùng hiếm hoi đối với bất kỳ ai.
- Also see, “Rebirth – Connection to Suffering in the First Noble Truth.” Even when one is born human, most mahā kappā (eons) will have no Buddhas present to teach the way to Nibbāna.
Cũng xem thêm “Rebirth – Connection to Suffering in the First Noble Truth.” Ngay cả khi được sinh làm người, trong hầu hết các đại kiếp (mahā kappa), sẽ không có vị Phật nào xuất hiện để chỉ dạy con đường đến Nibbāna.
- Going back to our main discussion, when Buddha Kakusandha appeared first in this world (i.e., on this Earth), there was no previous Buddha on this Earth. Therefore, concepts like the eightfold path, Satta Bojjhaṅga, 37 Factors of Enlightenment (or terms like kamma and rebirth) were not there even by name.
Trở lại chủ đề chính, khi Đức Phật Kakusandha xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới này (tức trên Trái Đất), trước đó chưa có vị Phật nào từng xuất hiện ở đây. Do đó, các khái niệm như Bát chánh đạo, Satta Bojjhaṅga, 37 Yếu Tố Giác Ngộ (hoặc các thuật ngữ như kamma và tái sinh) thậm chí chưa hề tồn tại dưới bất kỳ tên gọi nào.
- It is clear why those concepts were there before Buddha Gotama (i.e., when Prince Siddhartha was born). After Buddha Kassapa’s Sāsana faded away, mundane interpretations of key concepts were passed down through generations (initially through vedic traditions, which then transitioned to the Hindu religion; of course, most concepts survived only by the name).
Điều này giải thích tại sao các khái niệm ấy lại tồn tại trước thời Đức Phật Gotama (tức vào lúc Thái tử Siddhartha ra đời). Sau khi Sāsana của Đức Phật Kassapa suy tàn, những cách hiểu thế tục về các khái niệm chính đã được truyền qua nhiều thế hệ (ban đầu qua truyền thống Veda, sau đó được kế thừa trong Ấn giáo; tất nhiên, phần lớn các khái niệm chỉ còn tồn tại dưới tên gọi).
- Therefore, not only concepts like kamma, rebirth, the five (and eight) precepts were there when Prince Siddhartha was born, but also Satta Bojjhaṅga and ways to attain jhānā. Of course, those meanings were mundane and the jhānā were anāriya jhānā. Without Tilakkhaṇa, it is not possible to attain Ariya jhānā.
Vì vậy, không chỉ các khái niệm như kamma, tái sinh, năm (và tám) giới đã tồn tại khi Thái tử Siddhartha ra đời, mà cả Satta Bojjhaṅga và các phương pháp chứng đắc jhāna cũng có. Tuy nhiên, những khái niệm đó mang nghĩa thế tục, và các jhāna ấy là anāriya jhāna. Không có Tilakkhaṇa, không thể đạt được Ariya jhāna.
- The difference that the Buddha Gotama made was to bring back the true Dhamma based on the true nature of this world, i.e., anicca, dukkha, anatta. But even during a given Buddha Sāsana, the true Dhamma starts to fade away from time to time (people tend to embrace the easy and mundane version) and needs to be revived by a jāti Sotāpanna.
Điều khác biệt mà Đức Phật Gotama mang lại là phục hồi lại Dhamma chân thật dựa trên bản chất thực của thế giới — tức anicca, dukkha, anatta. Tuy nhiên, ngay trong cùng một thời kỳ Sāsanacủa Ngài, Dhamma chân thật vẫn dần phai mờ theo thời gian (con người có xu hướng bám vào phiên bản dễ hiểu và mang tính thế tục hơn) và cần được phục hồi lại bởi các Jāti Sotāpanna.
- And that is what is happening even at present. The true Dhamma of Buddha Gotama had again started to fade away, and a jāti Sotāpanna in Sri Lanka is bringing back the correct or lokuttara version now. Within the past 2500 years, it happened at least once before, and we will discuss that when the time is appropriate.
Và đó chính là điều đang xảy ra ngay trong thời hiện tại. Dhamma chân thật của Đức Phật Gotama đã một lần nữa bắt đầu phai mờ, và một Jāti Sotāpanna tại Sri Lanka đang phục hồi lại bản chất đúng đắn — tức phiên bản siêu thế gian (lokuttara) — của Dhamma. Trong vòng 2500 năm qua, điều này đã từng xảy ra ít nhất một lần, và chúng ta sẽ bàn chi tiết khi đến thời điểm thích hợp.
- The difference between the two versions of the 37 Factors of Enlightenment or the Eightfold Paths is that the Noble versions are based on Tilakkhaṇa: anicca, dukkha, anatta. Their true meaning is that it is fruitless, tiring, and often dangerous to keep struggling to attain happiness in this world; that is the real meaning of dukkha or suffering. And Dukkha Sacca (First Noble Truth) is that this dukkha (suffering) can be overcome; see “Anatta and Dukkha – True Meanings.”
Sự khác biệt giữa hai phiên bản của 37 Yếu Tố Giác Ngộ hoặc Bát Chánh Đạo nằm ở chỗ: phiên bản Thánh dựa trên Tilakkhaṇa — anicca, dukkha, anatta. Ý nghĩa chân thật của chúng là: việc không ngừng vật lộn để tìm kiếm hạnh phúc trong thế giới này là vô ích, mệt mỏi và thường nguy hiểm; đó chính là bản chất thật của dukkha (khổ). Và Dukkha Sacca (Sự thật Cao quý Thứ nhất) nói rằng sự khổ này có thể được vượt qua; xem “Anatta and Dukkha – True Meanings.”
- The mundane versions can be grasped by a normal human who is unaware of the true Tilakkhaṇa or the true nature of this world. The transcendental or lokuttara versions can be comprehended only with an understanding of anicca, dukkha, anatta.
Phiên bản thế tục có thể được người bình thường hiểu được, những người chưa biết đến bản chất thật của Tilakkhaṇa hay của thế giới này. Còn phiên bản siêu thế gian (lokuttara) chỉ có thể được hiểu khi đã thấu triệt anicca, dukkha, anatta.
- Without an understanding of the anicca nature, we perceive that sense pleasures are good, and are worth striving for. But when one starts comprehending the anicca nature, one realizes that suffering is actually rooted in sense pleasures; see, “Assāda, Ādīnava, Nissaraṇa – Introduction.”
Nếu chưa hiểu rõ bản chất của anicca, ta sẽ cho rằng các khoái lạc giác quan là điều tốt và đáng để theo đuổi. Nhưng khi bắt đầu hiểu được anicca, ta nhận ra rằng gốc rễ của khổ chính là trong những khoái lạc ấy; xem “Assāda, Ādīnava, Nissaraṇa – Introduction.”
- But the Tilakkhaṇa (starting with anicca nature) are hard to comprehend. It helps to understand and follow the mundane versions of Dhamma concepts first; see “Buddha Dhamma – In a Chart” and “What is Unique in Buddha Dhamma?” referred to in that chart.
Tuy nhiên, Tilakkhaṇa (bắt đầu với bản chất anicca) rất khó để thấu hiểu. Sẽ hữu ích nếu trước hết hiểu và thực hành theo các khái niệm Dhamma ở mức thế tục; xem “Buddha Dhamma – In a Chart” và “What is Unique in Buddha Dhamma?” được đề cập trong biểu đồ đó.
- Not everyone can grasp the deeper meanings of anicca, dukkha, anatta right away. It takes significant effort. After all, a Sotāpanna is better off than an Emperor or a King (see “Why a Sotāpanna is Better off than any King, Emperor, or a Billionaire”). One should not think it can be done easily (even though it may be easier for those who have cultivated the Path in recent past lives).
Không phải ai cũng có thể ngay lập tức nắm bắt ý nghĩa sâu xa của anicca, dukkha, anatta. Điều đó đòi hỏi nỗ lực lớn. Sau cùng, một vị Sotāpanna còn hạnh phúc hơn cả một vị vua hay hoàng đế (xem “Why a Sotāpanna is Better off than any King, Emperor, or a Billionaire”). Không nên nghĩ rằng có thể đạt được điều này dễ dàng (dù có thể nhẹ hơn với những ai đã từng tu tập Con đường này trong các kiếp gần đây).
- To summarize, the critical difference between the two types of 37 Factors of Enlightenment is the following:
Tóm lại, sự khác biệt then chốt giữa hai loại 37 Yếu Tố Giác Ngộ như sau:
- The mundane (lokiya) 37 Factors of Enlightenment are cultivated to live a “moral life” and to seek “good rebirths” in future lives.
Phiên bản thế tục (lokiya) của 37 Yếu Tố Giác Ngộ được tu tập nhằm sống một “đời đạo đức” và tìm kiếm “tái sinh tốt đẹp” trong tương lai.
- The transcendental (lokuttara) 37 Factors of Enlightenment can be cultivated only after realizing that this world of 31 realms has nothing but suffering to offer in the long run.
Phiên bản siêu thế gian (lokuttara) chỉ có thể được tu tập sau khi nhận ra rằng thế giới 31 cõi này, xét đến cùng, chỉ mang lại khổ đau.
- The 37 factors are the same in both versions, but each term has a deeper meaning in the lokuttara version since it has Nibbāna as the goal.
Cả hai phiên bản đều có cùng 37 yếu tố, nhưng trong phiên bản lokuttara, mỗi yếu tố mang ý nghĩa sâu sắc hơn vì mục tiêu là Nibbāna.
- As one starts to grasp the meanings of Tilakkhaṇa, one will automatically transition over to the lokuttara version. There is no need to worry about which version one is cultivating. The difference is not in terms but in grasping the anicca (and thus dukkha and anatta).
Khi bắt đầu hiểu được ý nghĩa của Tilakkhaṇa, người tu sẽ tự nhiên chuyển sang phiên bản lokuttara. Không cần bận tâm về việc mình đang thực hành phiên bản nào. Sự khác biệt không nằm ở thuật ngữ mà ở mức độ thấu hiểu anicca (và do đó là dukkha và anatta).
- Furthermore, it is not necessary to cultivate (or even memorize) all 37 factors. When one cultivates even one factor, all 37 grow together; but it is good to know the factors and how they work together. The 37 factors are listed in “37 Factors of Enlightenment.”
Hơn nữa, không cần phải tu tập (hay ghi nhớ) toàn bộ 37 yếu tố. Khi tu tập chỉ một yếu tố, tất cả 37 yếu tố khác cùng phát triển. Tuy nhiên, vẫn nên biết rõ các yếu tố ấy và cách chúng hỗ trợ lẫn nhau. Danh sách 37 yếu tố được nêu trong “37 Factors of Enlightenment.”
- There are many things to contemplate in the above material to continue this discussion on the 37 factors in a follow-up post. Some of the ideas discussed above may seem surprising (but also illuminating to those who may have wondered how terms like kamma and Satta Bojjhaṅga were in usage before Buddha Gotama). They will turn out to be supported by future evidence and by the inter-consistency that I always emphasize.
Có nhiều điểm cần suy ngẫm trong phần trên để tiếp tục bàn luận về 37 yếu tố trong bài sau. Một số ý tưởng được nêu ra có thể khiến người đọc ngạc nhiên (nhưng lại khai sáng cho những ai từng thắc mắc tại sao các thuật ngữ như kamma hay Satta Bojjhaṅga lại tồn tại trước thời Đức Phật Gotama). Những điều ấy sẽ được chứng thực bằng các bằng chứng trong tương lai và bởi tính nhất quán nội tại của Dhamma mà tôi luôn nhấn mạnh.
- Even though we may not have all the evidence of historical facts (they keep emerging slowly), there is no need to wait for fool-proof archaeological evidence.
Dù ta chưa có đầy đủ bằng chứng lịch sử (chúng đang dần được phát hiện), không cần phải chờ đợi bằng chứng khảo cổ tuyệt đối.
- One can analyze and examine the “bigger picture” of the Buddha, the soundness of Abhidhamma, and the solid inter-consistency of Buddha Dhamma to realize that the above explanation must be correct. Of course, we will discuss much more detail in future posts.
Người học có thể quan sát và phân tích “bức tranh tổng thể” của giáo lý Đức Phật, tính chặt chẽ của Abhidhamma, và sự nhất quán nội tại của Dhamma của Đức Phật để nhận ra rằng những giải thích trên là đúng đắn. Tất nhiên, chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn trong các phần tiếp theo.
- In many areas, I have published only a small fraction of material due to time limitations. I will not publish anything that I have doubts about. It is immensely satisfying to figure out a “missing piece” and be able to “see the bigger picture” with more clarity. It is also amazing how deep, consistent, and wonderful Buddha Dhamma is.
Trong nhiều lĩnh vực, tôi chỉ mới công bố một phần rất nhỏ tài liệu vì giới hạn thời gian. Tôi sẽ không công bố bất cứ điều gì nếu còn nghi ngờ. Việc khám phá ra một “mảnh ghép bị thiếu” và nhìn rõ “bức tranh tổng thể” đem lại sự mãn nguyện vô cùng lớn. Thật đáng kinh ngạc khi thấy Dhamma của Đức Phật sâu sắc, nhất quán và tuyệt diệu đến mức nào
