August 15, 2020; revised August 16, 2020
Ngày 15/8/2020; chỉnh sửa ngày 16/8/2020
Mind and matter go together in Buddha Dhamma. It is one meaning of “nāmarūpa.” It starts at a level much finer than the atomic level in modern science. It is even below the elementary particle level.
Tâm (danh) và vật chất (sắc) đi đôi với nhau trong Dhamma của Đức Phật. Đó là một ý nghĩa của “nāmarūpa.” Mối quan hệ ấy bắt đầu ở một cấp độ tinh vi hơn rất nhiều so với cấp độ nguyên tử trong khoa học hiện đại — thậm chí còn dưới cả cấp độ hạt cơ bản.
The Three Basic Building Blocks of Buddha Dhamma
Ba Thành tố Cơ bản của Dhamma của Đức Phật
- Everything in this world arises out of three building blocks: citta, cetasika, and rūpa.
Mọi thứ trong thế giới này sinh khởi từ ba thành tố: citta, cetasika và rūpa.
- An analogy in modern science is to start with electrons, protons, and neutrons (elementary particles would be even more fundamental). A tasty cake, an oak tree, or a nuclear bomb all have origins in those fundamental particles.
Một phép so sánh trong khoa học hiện đại là bắt đầu với electron, proton và neutron (các hạt sơ cấp còn căn bản hơn). Một chiếc bánh ngon, một cây sồi hay một quả bom hạt nhân đều bắt nguồn từ các hạt cơ bản ấy.
- In the same way, Buddha Dhamma (the theory) can start with those three fundamental entities. They can describe all mental phenomena as well as material phenomena.
Tương tự, Dhamma của Đức Phật (như một lý thuyết) có thể khởi đi từ ba thực thể căn bản đó. Chúng có thể mô tả cả các hiện tượng tâm lẫn các hiện tượng vật chất.
- On the other hand, modern science can describe ONLY material phenomena. It just ASSUMES that mental phenomena come out of material phenomena. But that assumption has NOT been validated. See the previous post, “Theories of Our World – Scientific Overview.”
Ngược lại, khoa học hiện đại CHỈ có thể mô tả các hiện tượng vật chất. Khoa học chỉ GIẢ ĐỊNH rằng các hiện tượng tâm phát sinh từ các hiện tượng vật chất. Nhưng giả định đó CHƯA được kiểm chứng. Xem bài trước: “Theories of Our World – Scientific Overview”.
- Modern science cannot explain how a living-being is born. It seems to say that “it just happens.” We will discuss that below.
Khoa học hiện đại không thể giải thích một chúng sinh sinh ra như thế nào. Có vẻ như chỉ nói rằng “nó tự xảy ra.” Chúng ta sẽ bàn điều đó bên dưới.
Connection Between Mind and Matter
Mối liên hệ giữa Tâm và Vật chất
- In Buddha Dhamma, analysis of rūpa directly provides the connection between mind and matter.
Trong Dhamma của Đức Phật, phân tích về rūpa trực tiếp cho thấy mối liên hệ giữa tâm và vật chất.
- In Abhidhamma, there are 28 types of rūpa. However, there are only a few types of rūpa that are sufficient to start our discussion here.
Trong Abhidhamma có 28 loại rūpa. Tuy nhiên, chỉ cần vài loại rūpa là đủ để bắt đầu phần thảo luận ở đây.
- We will start with six types of rūpa directly related to the mind and are essential in sensing the external world. First, there is hadaya vatthu, the “seat of the mind,” where thoughts (citta) arise. Seeing, hearing, smelling, tasting, and body touching sensations are sensed at five pasāda rūpa: cakkhu, sota, ghāna, jivhā, and kāya.
Chúng ta sẽ bắt đầu với sáu loại rūpa liên hệ trực tiếp đến tâm và thiết yếu để cảm nhận thế giới bên ngoài. Trước hết là hadaya vatthu — “chỗ ngụ/sở y của tâm”, nơi các ý nghĩ (citta) sinh khởi. Năm cảm giác thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm được cảm thọ tại năm pasāda rūpa: cakkhu, sota, ghāna, jivhā và kāya.
- We are accustomed to the idea that we see things with our eyes, hear with our ears, etc. But all those five physical sense faculties just have inert matter. Inert matter cannot “sense” or “feel” anything.
Chúng ta quen với ý nghĩ rằng mình nhìn bằng mắt, nghe bằng tai, v.v. Nhưng năm giác quan vật lý ấy chỉ là vật chất vô tri. Vật chất vô tri không thể “cảm nhận” hay “cảm thọ” bất cứ điều gì.
- Scientists go one step further and say that eyes, ears, etc. only capture the corresponding visual, auditory… signals. They say that it is in the brain that those sensations are processed and “detected.” But they have no idea how such a “feeling” or “sensation” can arise in a brain. After all, the brain itself is made of inert atoms and molecules!
Các nhà khoa học tiến thêm một bước và cho rằng mắt, tai, v.v. chỉ thu nhận các tín hiệu thị giác, thính giác… Họ nói rằng những cảm giác đó được xử lý và “nhận biết” trong não. Nhưng họ không biết làm sao một “cảm thọ” hay “cảm giác” có thể sinh ra trong não — rốt cuộc não cũng được cấu tạo từ các nguyên tử và phân tử vô tri!
Brain Sends Those Signals to the “Actual Sensing Units”
Não bộ Gửi các Tín hiệu Đó tới “các Đơn vị Cảm nhận Thực sự”
- It is correct that the brain processes those sensory signals captured by eyes, ears, etc. However, there is nothing in the brain that actually “detect” or “experience” those signals.
Đúng là não xử lý các tín hiệu giác quan do mắt, tai, v.v. thu nhận. Tuy nhiên, trong não không có gì thực sự “nhận biết” hay “trải nghiệm” các tín hiệu ấy.
- As mentioned above, those actual sensing units are the hadaya vatthu and the five pasāda rūpa. I will stick to these Pāli terms, and you will see that it is necessary to do so. The English vocabulary does not have corresponding words.
Như đã nói, các đơn vị cảm nhận thực sự chính là hadaya vatthu và năm pasāda rūpa. Tôi sẽ giữ các thuật ngữ Pāli này và bạn sẽ thấy rằng điều đó là cần thiết vì tiếng Anh không có từ tương ứng chính xác.
- Now, we need to discuss two issues. Where are those six “sensing units” located? Also, how can they “feel” or “sense” those signals? Let us consider the latter question first.
Giờ ta cần bàn hai vấn đề. Sáu “đơn vị cảm nhận” đó nằm ở đâu? Và làm sao chúng có thể “cảm thọ” hay “cảm nhận” các tín hiệu ấy? Hãy xét câu hỏi thứ hai trước.
- It is kammic energy that creates those six elementary sensory units (hadaya vatthu and the five pasāda rūpa of cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya) at the beginning of a new existence. For simplicity, let us call those six entities “sensing units.” In some existences, there are less than six. For example, a rūpāvacara Brahma has only three, and an arūpāvacara Brahma has only one (just hadaya vatthu).
Chính năng lượng kamma tạo ra sáu đơn vị cảm nhận sơ đẳng (hadaya vatthu và năm pasāda rūpa là cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya) vào lúc khởi đầu một hữu (một sự tồn tại mới). Để đơn giản, ta gọi chung đó là “các đơn vị cảm nhận”. Ở một số hữu, số đơn vị này ít hơn sáu; chẳng hạn, rūpāvacara Brahma chỉ có ba, còn arūpāvacara Brahma chỉ có một (chính là hadaya vatthu).
- ONLY kammic energy can create those special types of rūpa. They have a trace of matter (suddhaṭṭhaka) AND also the ability to “feel” or “experience” the sensory inputs. That is the FUNDAMENTAL connection between mind and matter.
CHỈ năng lượng kamma mới có thể tạo ra những loại rūpa đặc biệt ấy. Chúng có một dấu vết vật chất (suddhaṭṭhaka) ĐỒNG THỜI có khả năng “cảm thọ” hay “trải nghiệm” các dữ liệu giác quan. Đó chính là mối liên hệ CĂN BẢN giữa tâm và vật chất.
Kammic Energy – Origin of Life
Năng lượng Kamma – Nguồn gốc của Sự sống
- It is the kammic energy created by a STRONG previous kamma that leads to a new existence as a result (vipāka) of that kamma.
Chính năng lượng kamma được tạo bởi một kamma MẠNH trong quá khứ dẫn đến một hữu mới như là quả (vipāka) của kamma ấy.
- For example, if person X kills another person, then that person X would have created a kammic seed (or a kamma bīja) that can germinate and give rise to existence in hell. If the kamma were rape, that would create a kammic seed to be born an animal. The vipāka (result) is according to the kamma. That is described in detail in “Paṭicca Samuppāda.”
Ví dụ, nếu người X giết người khác, thì người ấy đã tạo ra một hạt giống kamma (một kamma bīja) có thể nảy mầm và đưa đến một hữu ở địa ngục. Nếu kamma là cưỡng bức, điều đó tạo một hạt giống kamma để sinh làm loài loài vật. Vipāka (quả) tương ứng với kamma. Điều này được trình bày chi tiết trong “Paṭicca Samuppāda”.
- At the beginning of a new existence, kammic energy creates a set of “sensing units” appropriate for that existence. All living-beings in the kāma loka (six Deva realms, the human realm, and the four apāyā) have all six units listed in #3 above.
Vào lúc khởi đầu của một hữu mới, năng lượng kamma tạo ra một tập hợp “các đơn vị cảm nhận” phù hợp với hữu đó. Tất cả chúng sinh trong kāma loka (sáu cõi Deva, cõi người và bốn apāyā) đều có đủ sáu đơn vị nêu ở #3 phía trên.
Examples of Various Existences
Ví dụ về các Hữu Khác nhau
- Without getting deeper into Paṭicca Samuppāda, let us try to get the basic idea of that process. It just says that an existence corresponds to the kamma that gave rise to that existence.
Không đi sâu vào Paṭicca Samuppāda, chúng ta hãy nắm ý chính của tiến trình ấy: một hữu tương ứng với kamma đã làm khởi sinh hữu đó.
- Someone who cultivates one of the four highest jhāna (arūpāvacara jhāna) will be born as an arūpāvacara Brahma. Someone in such an arūpāvacara jhāna does not experience any of five sensory inputs (seeing, hearing, smelling, tasting, and touching). As a result (vipāka) of cultivating such a jhāna, one would be born in the corresponding arūpāvacara realm (there are four such realms.) An arūpāvacara Brahma cannot see, hear, smell, taste, or touch anything. He has only a hadaya vatthu, and thus, can only think (just like the experience in an arūpāvacara jhāna.) A hadaya vatthu is the LEAST bit of matter that can sustain mind (mental activity).
Người hành tập một trong bốn tầng jhāna cao nhất (arūpāvacara jhāna) sẽ tái sanh làm arūpāvacara Brahma. Khi ở trong arūpāvacara jhāna, người hành không kinh nghiệm bất kỳ dữ liệu giác quan nào (thấy, nghe, ngửi, nếm, và xúc chạm). Kết quả (vipāka) của việc tu tập jhāna ấy là, người đó sẽ sanh về cõi arūpāvacara tương ứng (có bốn cõi như vậy). Một arūpāvacara Brahma không thể thấy, nghe, ngửi, nếm hay xúc chạm bất cứ thứ gì. Vị ấy chỉ có hadaya vatthu (tâm căn), do đó chỉ có thể tư duy (giống như trải nghiệm trong arūpāvacara jhāna). Hadaya vatthu là phần sắc vi tế NHỎ NHẤT có thể nâng đỡ tâm (hoạt động tâm).
- Therefore, existence as an arūpāvacara Brahma is the simplest. One is free of burdens of making a living to buy houses, cars, or even food. There is no need to eat. That “Brahma body” only has a hadaya vatthu, which is so small that a Brahma cannot be seen even with the finest microscope scientists have. Kammic energy sustains that “body” with just an unimaginably small amount of “matter.”
Vì vậy, hiện hữu như một arūpāvacara Brahma là đơn giản nhất. Không còn gánh nặng mưu sinh để mua nhà, xe, hay thậm chí thức ăn.
Không cần phải ăn. “Thân Brahma” ấy chỉ có hadaya vatthu, vi tế đến mức ngay cả với kính hiển vi tinh vi nhất của khoa học cũng không thể thấy Brahma ấy. Năng lượng kamma duy trì “thân” ấy chỉ với một lượng “sắc” nhỏ không thể tưởng tượng.
- At the next higher level of “complexity” are the 16 rūpāvacara Brahma As you can guess now, birth in a rūpāvacara Brahma realm is a vipāka of cultivating rūpāvacara jhāna. A human can get into a rūpāvacara jhāna by suppressing or removing the cravings for close-contact sensory pleasures (eating, smelling, and touching). The bottom line is that a rūpāvacara Brahma can only see and hear in addition to being able to think. Thus, a rūpāvacara Brahma would have only cakkhu and sota pasāda rūpa in addition to hadaya vatthu. Thus he would have only three “sensing units.”
Mức “phức tạp” cao hơn kế tiếp là 16 cõi rūpāvacara Brahma. Như có thể đoán, sanh về cõi Brahma rūpāvacara là một vipāka của việc tu tập rūpāvacara jhāna. Một người có thể nhập rūpāvacara jhāna bằng cách đè nén hay loại trừ tham ái đối với các lạc thú giác quan cần tiếp xúc gần (ăn, ngửi, và xúc chạm). Tóm lại, một rūpāvacara Brahma ngoài khả năng tư duy thì chỉ có thể thấy và nghe. Do đó, một rūpāvacara Brahma chỉ có thêm cakkhu và sota pasāda rūpa bên cạnh hadaya vatthu. Vì vậy vị ấy chỉ có ba “đơn vị cảm nhận.”
- It is only in the kāma loka (six Deva realms, the human realm, and the four apāyā) that living-beings have all six “sensing units” listed in #3 above. Births in kāma loka are much more complex, and that is where one needs a better understanding of Paṭicca Samuppāda to describe various births such as animal and hell beings. Of course, those births in the four apāyā are due to akusala kamma.
Chỉ ở kāma loka (sáu cõi Deva, cõi người, và bốn apāyā) chúng sinh mới có đủ cả sáu “đơn vị cảm nhận” như đã liệt kê ở trên. Các lần sanh trong kāma loka phức tạp hơn nhiều, và ở đó cần hiểu rõ Paṭicca Samuppāda để mô tả các loại sanh khác nhau như súc sanh hay chúng sinh địa ngục. Dĩ nhiên, các lần sanh vào bốn apāyā là do akusala kamma.
A Human Gandhabba Is a Set of Six “Sensory Units”
Một Gandhabba của Loài người là một Tập hợp Sáu “Đơn vị Cảm nhận”
- At the beginning of human existence, kammic energy creates a human gandhabba (or a manomaya kāya) with a hadaya vatthu and five pasāda rūpa. That is the basic mind and matter overlap (nāmarūpa) in a human.
Ngay khi khởi đầu hiện hữu làm người, năng lượng kamma tạo ra một gandhabba (hay manomaya kāya) với một hadaya vatthu và năm pasāda rūpa. Đó là sự chồng lớp căn bản giữa tâm và vật chất (nāmarūpa) nơi con người.
- Just like it is impossible to see a Brahma, it is not possible to see a gandhabba. A gandhabba is almost like a Brahma, but with a full set of pasāda rūpa.
Cũng như không thể thấy một vị Brahma, ta cũng không thể thấy một gandhabba. Một gandhabba gần giống một Brahma, nhưng có đầy đủ bộ pasāda rūpa.
- After created by kammic energy, a gandhabba stays with that “invisible body” may be for even many years. When a “matching womb” becomes available, it is pulled into that womb by kammic
Sau khi được năng lượng kamma tạo thành, gandhabba có thể ở trong “thân vô hình” ấy suốt nhiều năm. Khi có một “tử cung phù hợp”, gandhabba bị năng lượng kamma kéo vào tử cung đó.
- Modern science can explain the growth of a baby, starting with an embryo in a womb. But it CANNOT explain how that baby became CONSCIOUS.
Khoa học hiện đại có thể giải thích sự phát triển của một em bé từ phôi thai trong tử cung, nhưng KHÔNG thể giải thích em bé trở nên CÓ Ý THỨC bằng cách nào.
- The conception of a human baby (i.e., creating an embryo from an inert zygote) happens when a gandhabba comes into the womb and merges with the zygote. For details, see “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception.”
Sự thụ thai của một em bé (tức hình thành phôi từ hợp tử vốn vô tri) xảy ra khi gandhabba vào tử cung và hòa nhập với hợp tử. Để biết chi tiết, xem bài “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception.”
Many Physical Bodies For a Single Mental Body (Gandhabba)
Nhiều Thân vật lý cho một Thân tâm Duy nhất (Gandhabba)
- Therefore, a human being does not start with a physical body, i.e., with physical eyes, ears, etc. or the brain. As the Buddha explained, a physical body is a temporary residence for a human Gandhabba. Within a human existence (that may last thousands of years), a gandhabba may acquire MANY different physical bodies. See, “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein.”
Vì vậy, một con người không khởi đầu bằng thân vật lý — tức mắt, tai… hay não vật lý. Như Đức Phật giảng, thân vật lý chỉ là chỗ ở tạm thời cho gandhabba của loài người. Trong một hiện hữu làm người (có thể kéo dài hàng ngàn năm), một gandhabba có thể mang RẤT NHIỀU thân vật lý khác nhau. Xem “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein.”
- When the gandhabba is trapped inside a physical body, it has to get external sensory signals indirectly. The eyes, ears, etc. capture those sensory signals, which are then processed by the brain. We will discuss how the brain transfers that information to the gandhabba in a future post.
Khi gandhabba bị “giam” trong một thân vật lý, nó phải nhận các tín hiệu giác quan từ bên ngoài một cách gián tiếp. Mắt, tai… thu nhận các tín hiệu ấy, rồi não xử lý chúng. Chúng ta sẽ bàn việc não truyền thông tin đó cho gandhabba trong một bài viết sau.
- It is a human existence (bhava) that is hard to get. But within a human bhava, one may be born many times with different human bodies. That is why we have so many rebirth stories where one is reborn within several years.
Khó đạt được chính là một hiện hữu làm người (bhava). Nhưng trong một bhava làm người, một người có thể sanh nhiều lần với những thân người khác nhau. Vì thế mới có nhiều câu chuyện tái sanh, nơi một người tái sanh chỉ trong vài năm.
- For the duration of a human bhava, one will have ONLY ONE mental body (manomaya kāya), also known as gandhabba. Of course, that gandhabba may undergo some changes. But it will last the whole duration of that human bhava.
Trong suốt một bhava làm người, CHỈ CÓ MỘT thân tâm (manomaya kāya), còn gọi là gandhabba. Dĩ nhiên, gandhabba ấy có thể có một số thay đổi. Nhưng nó tồn tại suốt thời gian của bhava làm người đó.
Pāli Word for Eye Is Not Cakkhu – It Is Nayana or Akkhi
Từ Pāḷi chỉ “Con mắt” Không phải Cakkhu – Mà là Nayana hoặc Akkhi
- Most people do not realize the following critical fact. Pāli words for eyes, ears, nose, tongue, and the body, are nayana (or akkhi), kaṇṇa, nāsā (or nāsikā), jivhā, and sarīra or deha or kāya.
Đa số mọi người không nhận ra sự thật then chốt sau đây. Các từ Pāḷi chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi và thân lần lượt là nayana (hoặc akkhi), kaṇṇa, nāsā (hoặc nāsikā), jivhā, và sarīra hoặc deha hoặc kāya.
- The Pāli words cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya refer to the five pasāda rūpa associated with the manomaya kāya (gandhabba).
Các từ Pāḷi cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya là để chỉ năm pasāda rūpa gắn với manomaya kāya (gandhabba).
- Thus, two words could be used in both ways either to refer to a physical sense faculty or a pasāda rūpa (jivhā and kāya).
Vì vậy, có hai từ có thể dùng theo cả hai nghĩa: hoặc chỉ giác quan vật lý, hoặc chỉ pasāda rūpa (là jivhā và kāya).
- While inside a physical body, a gandhabba is shielded from the external world. We will discuss how pasāda rūpā receive signals from the physical sensory faculties in the next post.
Khi ở trong thân vật lý, gandhabba bị che chắn khỏi thế giới bên ngoài. Chúng ta sẽ bàn cách các pasāda rūpā nhận tín hiệu từ các giác quan vật lý trong bài tiếp theo.
- In the Abhidhamma analysis of rūpa, the five pasāda rūpa are listed as five fundamental types of rūpa. Thus, it is clear that cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya DO NOT refer to eyes, ears, nose, tongue, and the physical body!
Trong phần phân tích rūpa của Abhidhamma, năm pasāda rūpa được liệt kê là năm loại rūpa căn bản. Do đó, rõ ràng cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya KHÔNG chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi và thân vật lý!
- On p. 236 of 1, they are listed as “sensitive phenomena.” If you look at p. 237, the Pāli term is “pasāda rūpa.” The five types of pasāda rūpa are #5 through #9 in Table 6.1 on p. 237. I tried to make that clear in the post, “Rūpa (Material Form) – Table.”
Ở trang 236 của Tài liệu tham khảo 1, chúng được liệt kê là “sensitive phenomena” (hiện tượng cảm thọ). Ở trang 237, thuật ngữ Pāḷi là “pasāda rūpa.” Năm loại pasāda rūpa là các mục #5 đến #9 trong Bảng 6.1 ở trang 237. Tôi đã cố làm rõ điều đó trong bài “Rūpa (Material Form) – Table.”
- In 1, the description of rūpa is in Chapter VI (pp. 234–263.)
Trong Tài liệu tham khảo 1, phần mô tả rūpa nằm ở Chương VI (tr. 234–263).
- By the way, I will use 1 as the standard text on Abhidhamma for this series of posts. I have provided a link to the free pdf version. Ref. 2 is good as well.
Nhân đây, tôi sẽ dùng Tài liệu tham khảo 1 làm văn bản chuẩn về Abhidhamma cho loạt bài này. Tôi đã cung cấp liên kết bản pdf miễn phí. Tài liệu tham khảo 2 cũng rất tốt.
Summary – Special Types of Rūpa With Ability to “Sense”
Tóm lược – Những Loại rūpa Đặc biệt Có khả năng “Cảm nhận”
- There are six “sensing units” (created by kammic energy) that have the ability to “sense” or “experience.” That kammic energy is created with citta and cetasika. Therefore, it is a cyclic process (and why the rebirth process has no beginning!). We will discuss that intricate mind and matter connection in upcoming posts.
Có sáu “đơn vị cảm nhận” (được tạo bởi năng lượng kamma) có khả năng “cảm nhận” hay “trải nghiệm.” Năng lượng kamma ấy được tạo cùng với citta và cetasika. Do đó đây là một tiến trình tuần hoàn (và vì thế chuỗi tái sanh không có khởi đầu!). Chúng ta sẽ bàn mối liên hệ vi tế giữa tâm và vật chất trong các bài tới.
- We started the post by pointing out that citta, cetasika, and rūpa can describe EVERYTHING in this world.
Chúng ta mở đầu bài viết bằng cách chỉ ra rằng citta, cetasika và rūpa có thể mô tả MỌI THỨ trong thế giới này.
- In the above, we went through a simple description of the arising of a living-being with a set of “sensing units.” That particular living-being will then do more kamma and create the seeds for more future births.
Ở trên, chúng ta đã đi qua một mô tả giản lược về sự hình thành của một chúng sinh với một tập “đơn vị cảm nhận.” Chúng sinh ấy rồi sẽ tạo thêm kamma và gieo hạt giống cho những lần sanh tương lai.
- That is how the rebirth process continues.
Đó là cách tiến trình tái sinh tiếp diễn.
- However, by understanding this relationship between mind and matter, we have the ability to avoid “bad births” and also to attain Nibbāna. We will get into details in future posts.
Tuy nhiên, bằng cách hiểu mối liên hệ giữa tâm và vật chất, chúng ta có khả năng tránh các “cảnh giới xấu” và cũng có thể chứng đắc Nibbāna. Chúng ta sẽ đi vào chi tiết trong các bài sau.
References
Tài liệu tham khảo
- “WebLink: PDF file download: Comprehensive Manual of Abhidhamma,” by Bhikkhu Bodhi (2000.)
“WebLink: PDF file download: Comprehensive Manual of Abhidhamma,” của Bhikkhu Bodhi (2000).
- “WebLink: PDF file download: Buddha Abhidhamma – Ultimate Science,” by Dr. Mehm Tin Mon. Both are free publications. Click the link to open the pdf.
“WebLink: PDF file download: Buddha Abhidhamma – Ultimate Science,” của Tiến sĩ Mehm Tin Mon. Cả hai đều là ấn phẩm miễn phí. Nhấp liên kết để mở file pdf.
