Upaya and Upādāna – Two Stages of Attachment / Upaya và Upādāna – Hai Giai đoạn của Sự dính mắc

November 11, 2023; revised February 26, 2024 (#5); September 26,2024 (#2, #3, #5, #12)

Ngày 11/11/2023; chỉnh sửa ngày 26/02/2024 (#5); ngày 26/09/2024 (#2, #3, #5, #12)

Upaya is the first stage of attachment of a mind to a sensory input. If the initial attachment is strong, it will keep attaching with the subsequent “upādāna” step. A nimitta (sensory input) becomes an ārammaṇa (attached sensory input) when getting to the upādāna step. [See “Upaya Sutta (SN22.53)”. upaya : [m.] attachment. nimitta : [nt.] sign; omen; portent; cause. ārammaṇa : [nt.] a sense-object.]

Upaya là giai đoạn đầu tiên của sự dính mắc của tâm đối với một đối tượng giác quan. Nếu sự dính mắc ban đầu đủ mạnh, nó sẽ tiếp tục dính mắc ở bước tiếp theo là “upādāna”. Một nimitta (đối tượng giác quan) trở thành một ārammaṇa (đối tượng giác quan đã bị dính mắc) khi tiến đến bước upādāna. [Xem “Upaya Sutta (SN22.53)”. upaya: [m.] sự dính mắc. nimitta: [nt.] dấu hiệu; điềm; dấu hiệu báo trước; nguyên nhân. ārammaṇa: [nt.] đối tượng của giác quan.]

Upaya and Upādāna

Upaya và Upādāna

Print/Download:WebLink: PDF Download: Upaya and Upādāna.”

In/Tải xuống:WebLink: PDF Download: Upaya and Upādāna.”

Difference Between Kāma Dhātu and Kāma Bhava

Sự khác biệt giữa Kāma Dhātu và Kāma Bhava

  1. The Buddha described this difference in the “WebLink: suttacentral: Sanidāna Sutta (SN 14.12)”: “Kāmadhātuṁ, bhikkhave, paṭicca uppajjati kāmasaññā, kāmasaññaṁ paṭicca uppajjati kāmasaṅkappo, kāmasaṅkappaṁ paṭicca uppajjati kāmacchando, kāmacchandaṁ paṭicca uppajjati kāmapariḷāho, kāmapariḷāhaṁ paṭicca uppajjati kāmapariyesanā.” OR “Attachment to kāma dhātu leads to kāma saññā, attachment to kāma saññā leads to kāma saṅkappa, attachment to kāma saṅkappa leads to kāmacchanda..and so on to kāma pariyesanā.”

Đức Phật đã mô tả sự khác biệt này trong “WebLink: suttacentral: Sanidāna Sutta (SN 14.12)”: “Kāmadhātuṁ, bhikkhave, paṭicca uppajjati kāmasaññā, kāmasaññaṁ paṭicca uppajjati kāmasaṅkappo, kāmasaṅkappaṁ paṭicca uppajjati kāmacchando, kāmacchandaṁ paṭicca uppajjati kāmapariḷāho, kāmapariḷāhaṁ paṭicca uppajjati kāmapariyesanā.” Hay “Sự dính mắc vào kāma dhātu dẫn đến kāma saññā; dính mắc vào kāma saññā dẫn đến kāma saṅkappa; dính mắc vào kāma saṅkappa dẫn đến kāmacchanda… và tiếp tục dẫn đến kāma pariyesanā.”

  • That verse explains why Arahants and Anāgāmis also have kāma saññā. That step does not involve “rāga, dosa, moha,” or “saŋ” (alternatively written as “sañ” or “saṅ”). Here, “kāma” does not refer to “assāda” (or “placing a value on sensual pleasures”) but only to be associated with “kāma loka.” This is discussed below.

Câu kệ đó giải thích vì sao các vị Arahant và Anāgāmi cũng có kāma saññā. Bước này không liên quan đến “rāga, dosa, moha” hay “saŋ” (cũng có thể viết là “sañ” hoặc “saṅ”). Ở đây, “kāma” không chỉ “assāda” (tức là đặt giá trị vào các khoái lạc giác quan) mà chỉ đơn giản liên hệ đến “kāma loka”. Điều này sẽ được thảo luận bên dưới.

  • But Arahants’ minds don’t go through the rest of the steps in that verse: kāma saṅkappa, kāmacchanda, kāmapariḷāha, kāmapariyesanā. Kammic energies are generated in these steps.

Nhưng tâm của các vị Arahant không đi qua các bước còn lại trong câu kệ đó: kāma saṅkappa, kāmacchanda, kāmapariḷāha, kāmapariyesanā. Năng lượng kamma được tạo ra trong các bước này.

  • However, the mind of anyone below the Arahant/Anāgāmi stages may attach and automatically generate kāma saṅkappa. That is the “upaya” step.

Tuy nhiên, tâm của bất kỳ ai dưới các bậc Arahant/Anāgāmi có thể dính mắc và tự động sinh ra kāma saṅkappa. Đó là bước “upaya”.

  1. If that ārammaṇa is strong enough, the mind may keep attaching to it repeatedly (remember that thousands of citta vīthi run through a mind in a second), leading to kāmacchanda, kāmapariḷāha, kāmapariyesanā. That is the “upādāna” step.

Nếu ārammaṇa đó đủ mạnh, tâm có thể tiếp tục dính mắc vào nó lặp đi lặp lại (hãy nhớ rằng hàng ngàn citta vīthi diễn ra trong tâm chỉ trong một giây), dẫn đến kāmacchanda, kāmapariḷāha, kāmapariyesanā. Đó là bước “upādāna”.

  • Strong attachment starts at the kāmacchanda stage; then, the mind becomes agitated and wants to pursue the ārammaṇa urgently (kāma pariḷāha); then it starts thinking, speaking, and doing things seeking maximum pleasure (or avoiding any hindrance) at the kāma pariyesanā stage (here, pariyesanā means “to investigate/actively engage.”)

Sự dính mắc mạnh bắt đầu từ giai đoạn kāmacchanda; sau đó tâm trở nên dao động và muốn theo đuổi ārammaṇa một cách khẩn trương (kāma pariḷāha); rồi nó bắt đầu suy nghĩ, nói và hành động để tìm kiếm khoái lạc tối đa (hoặc tránh mọi trở ngại) ở giai đoạn kāma pariyesanā (ở đây pariyesanā có nghĩa là “tìm hiểu/tham gia tích cực”).

  • The above chart summarizes those steps and points to key concepts (like ajjhatta kāya/bahiddha kāya, purāṇa kamma/nava kamma, etc. that we will discuss in upcoming posts. Please print this chart and have it ready when reading any post in this section.

Biểu đồ ở trên tóm tắt các bước đó và chỉ ra các khái niệm quan trọng (như ajjhatta kāya/bahiddha kāya, purāṇa kamma/nava kamma, v.v.) mà chúng ta sẽ thảo luận trong các bài viết sắp tới. Vui lòng in biểu đồ này và chuẩn bị sẵn khi đọc bất kỳ bài viết nào trong phần này.

  • Critical Point (added on September 26, 2024): All sensory inputs trigger a mind to go through the “upaya stage” (boxes in red in the above chart), which is the same as the “purāṇa kamma However, unless a mind attaches further at the kāmacchanda step, it will NOT get to the upādāna stage” (boxes in blue in the above chart), which is the same as the “nava kamma stage” and generate potent kamma via vacī and kāya saṅkhāra. Also, see “Purāṇa and Nava Kamma – Sequence of Kamma Generation.”

Điểm then chốt (được bổ sung ngày 26/09/2024): Mọi đối tượng giác quan đều khiến tâm đi qua “giai đoạn upaya” (các ô màu đỏ trong biểu đồ ở trên), cũng chính là “giai đoạn purāṇa kamma”. Tuy nhiên, trừ khi tâm tiếp tục dính mắc ở bước kāmacchanda, nếu không nó sẽ KHÔNG đi đến “giai đoạn upādāna” (các ô màu xanh trong biểu đồ ở trên), cũng chính là “giai đoạn nava kamma”, và tạo ra kamma mạnh thông qua vacī và kāya saṅkhāra. Xem thêm “Purāṇa and Nava Kamma – Sequence of Kamma Generation.”

  1. Attachment to kāma dhātu” in the above verse does not imply “attachment with a defiled mind” but rather a consequence of still living with a “human body,” i.e., “living in the human realm.” Dhātu is usually an entity’s “barebone” initial state. [dhātu:[f.] an element; natural condition; a relic; root of a word; humour of the body; faculty of senses.]

Dính mắc vào kāma dhātu” trong câu kệ ở trên không hàm ý “dính mắc với một cái tâm bị ô nhiễm”, mà đúng hơn là hệ quả của việc vẫn đang sống với một “thân người”, tức là “đang sống trong cõi người”. Dhātu thường là trạng thái ban đầu căn bản nhất của một thực thể. [dhātu: [f.] yếu tố; trạng thái tự nhiên; xá lợi; căn của một từ; thể dịch của cơ thể; năng lực của các giác quan.]

  • That can be easily explained with the concept of bhavaṅga. A living Arahant is still with the “uppatti bhavaṅga” (or the “natural state of mind”) that they were born with human birth. When exposed to a sensory input (ārammaṇa), a citta vīthi flows starting with that “uppatti bhavaṅga,” and the initial saññā arises according to that “uppatti bhavaṅga.” See “Bhava and Bhavaṅga – Simply Explained!

Điều đó có thể được giải thích dễ dàng bằng khái niệm bhavaṅga. Một vị Arahant còn sống vẫn mang “uppatti bhavaṅga” (hay “trạng thái tâm tự nhiên”) mà vị ấy có được khi sinh làm người. Khi tiếp xúc với một đối tượng giác quan (ārammaṇa), một citta vīthi vận hành bắt đầu từ “uppatti bhavaṅga” đó, và saññā ban đầu khởi sinh theo “uppatti bhavaṅga” ấy. Xem “Bhava and Bhavaṅga – Simply Explained!

  • Those unfamiliar with the concept of bhavaṅga do not need to worry. Just keep this fact in mind that while Arahants are in kāma dhātu (with “kāma saññā”), they are NOT in kāma bhava. They are free of all three bhava (kāma, rūpa, and arūpa.)

Những ai chưa quen với khái niệm bhavaṅga thì không cần lo lắng. Chỉ cần ghi nhớ điều này: dù các vị Arahant đang ở trong kāma dhātu (với “kāma saññā”), họ KHÔNG ở trong kāma bhava. Họ đã thoát khỏi cả ba bhava: kāma, rūpa và arūpa.

  • It is a good idea to examine the sequence of events in mind upon receiving sensory input. A sensory input “before attachment” is a nimitta.

Nên xem xét chuỗi sự kiện diễn ra trong tâm khi nhận một đối tượng giác quan. Một đối tượng giác quan “trước khi có dính mắc” là một nimitta.

An Arahant Is in Kāma Dhātu but Not Kāma Bhava

Một vị Arahant ở trong Kāma Dhātu nhưng không ở trong Kāma Bhava

  1. An Arahant has been released from all three bhava: kāma bhava (or kāma loka with 11 realms), rūpa bhava (or rūpa loka with 16 rūpāvacara Brahma realms), and arūpa bhava (or arūpa loka with the 4 arūpāvacara Brahma)

Một vị Arahant đã được giải thoát khỏi cả ba bhava: kāma bhava (hay kāma loka với 11 cõi), rūpa bhava (hay rūpa loka với 16 cõi rūpāvacara Brahma), và arūpa bhava (hay arūpa loka với 4 cõi arūpāvacara Brahma).

  • However, an Arahant was born into the kāma bhava (human realm), and thus, until the death of the physical body, he has to live in “kāma dhātu.” That means living in the kāma loka (human realm) without generating “saŋ” (rāga, dosa, moha).

Tuy nhiên, một vị Arahant đã được sinh ra trong kāma bhava (cõi người), vì vậy cho đến khi thân vật lý này chấm dứt, vị ấy vẫn phải sống trong “kāma dhātu”. Điều đó có nghĩa là sống trong kāma loka (cõi người) mà không tạo ra “saŋ” (rāga, dosa, moha).

  • When a sensory input comes in for any living being, the mind starts in one of the three bhava/lokās. A human’s or an animal’s mind starts at the corresponding uppatti bhavaṅga state (in the kāma dhātu) in which they were born. A rūpāvacara Brahma’s mind will start at corresponding uppatti bhavaṅga (in rūpa bhava), etc.

Khi một đối tượng giác quan đến với bất kỳ chúng sinh nào, tâm sẽ bắt đầu trong một trong ba bhava/loka. Tâm của con người hay loài vật bắt đầu ở trạng thái uppatti bhavaṅga tương ứng (trong kāma dhātu) mà họ đã được sinh ra. Tâm của một vị rūpāvacara Brahma sẽ bắt đầu ở uppatti bhavaṅga tương ứng (trong rūpa bhava), v.v.

Kāma Dhātu to Kāma Bhava Transition Requires a Kamma (Saṅkappa)

Sự chuyển từ Kāma Dhātu sang Kāma Bhava Đòi hỏi một Kamma (Saṅkappa)

  1. Generating “kāma saññā” at this initial “kāma dhātu stage” does not mean one is already in the “kāma bhava.” Generating “kāma saññā” happens just before kāma bhava while in the “kāma dhātu” stage. An Arahant’s mind does not go beyond the “kāma dhātu” stage; even though it experiences “kāma saññā” it does attach to it and generate kāma saṅkappa. A kamma (with defiled intention or sañcetanā) must happen (i.e., must generate kāma saṅkappa) to get to the kāma bhava, as the Buddha explained in the “Paṭhamabhava Sutta (AN 3.76).”

Việc sinh khởi “kāma saññā” ở “giai đoạn kāma dhātu” ban đầu này không có nghĩa là người ấy đã ở trong “kāma bhava”. Việc sinh khởi “kāma saññā” xảy ra ngay trước kāma bhava, khi còn ở trong giai đoạn “kāma dhātu”. Tâm của một vị Arahant không vượt quá giai đoạn “kāma dhātu”; dù vẫn trải nghiệm “kāma saññā”, tâm ấy không dính mắc vào nó và không sinh ra kāma saṅkappa. Muốn đi đến kāma bhava thì phải có một kamma (với ý định bị ô nhiễm hay sañcetanā), tức là phải sinh ra kāma saṅkappa, như Đức Phật đã giải thích trong “Paṭhamabhava Sutta (AN 3.76)”.

  • The “WebLink: suttacentral: Paṭhamabhava Sutta (AN 3.76)” states “Kāmadhātuvepakkañca, ānanda, kammaṁ nābhavissa, api nu kho kāmabhavo paññāyethā”ti?” OR “If no kamma took place (kammaṁ nābhavissa), would the transition from kāma dhātu to kāma bhava come about?” The answer was “no.”

WebLink: suttacentral: Paṭhamabhava Sutta (AN 3.76)” nêu rằng: “Kāmadhātuvepakkañca, ānanda, kammaṁ nābhavissa, api nu kho kāmabhavo paññāyethā”ti?” Hay: “Nếu không có kamma nào xảy ra (kammaṁ nābhavissa), thì sự chuyển từ kāma dhātu sang kāma bhava có xảy ra không?” Câu trả lời là “không”.

  • That kamma happens in the “kāmasaññaṁ paṭicca uppajjati kāmasaṅkappo” step in #1 above. As we know, kamma is done with (abhi)saṅkhāra and “saṅkappa” means “citta saṅkhāra.”

Kamma đó xảy ra ở bước “kāmasaññaṁ paṭicca uppajjati kāmasaṅkappo” trong mục #1 ở trên. Như chúng ta đã biết, kamma được thực hiện bằng (abhi)saṅkhāra, và “saṅkappa” có nghĩa là “citta saṅkhāra”.

  • As the verse in #1 shows, “kāma saṅkappa” arises (kāma saññaṁ paṭicca uppajjati kāma saṅkappo) in the second step. Let us carefully go through the steps involved.

Như câu kệ ở mục #1 cho thấy, “kāma saṅkappa” khởi sinh (kāma saññaṁ paṭicca uppajjati kāma saṅkappo) ở bước thứ hai. Bây giờ chúng ta hãy cẩn thận đi qua từng bước liên quan.

Kāma Dhātu to Kāma Bhava = Nimitta to Ārammaṇa

Kāma Dhātu sang Kāma Bhava = Nimitta sang Ārammaṇa

  1. A nimitta (sensory input) COULD trigger rāga, dosa, or moha in the mind according to the types of anusaya/saṁyojana associated with that mind. If that nimitta is grasped/embraced, it becomes “nimittaggāhī hoti” and is an ārammaṇa.

Một nimitta (đầu vào giác quan) CÓ THỂ kích hoạt rāga, dosa hoặc moha trong tâm tùy theo loại anusaya/saṁyojana gắn liền với tâm đó. Nếu nimitta ấy bị nắm giữ/chấp lấy, nó trở thành “nimittaggāhī hoti” và trở thành một ārammaṇa.

  • An Arahant’s mind will not latch onto a nimitta (“na nimittaggāhī hoti.”) Anyone below the Arahant stage may or may not grasp a nimitta, depending on the nimitta and one’s remaining anusaya/saṁyojana.

Tâm của một vị Arahant sẽ không bám vào một nimitta (“na nimittaggāhī hoti”). Bất kỳ ai dưới giai đoạn Arahant có thể nắm giữ hoặc không nắm giữ một nimitta, tùy thuộc vào nimitta đó và các anusaya/saṁyojana còn lại của họ.

  • The key to stop “grabbing hold of defiled nimitta” is to gradually ease up on one’s tendency to attach to sensory inputs. That is cultivating moral discipline or “indriya saṁvara.” See, “WebLink: suttacentral: Saṁvara Sutta (AN 4.14).”

Chìa khóa để ngăn việc “nắm giữ các nimitta bị ô nhiễm” là dần dần giảm bớt khuynh hướng dính mắc vào các đối tượng giác quan. Đó chính là việc tu tập giới luật hay “indriya saṁvara”. Xem “WebLink: suttacentral: Saṁvara Sutta (AN 4.14).”

  1. When a nimitta (sensory input) comes in, the mind breaks loses from the uppatti bhavaṅga (or the “temporary bhavaṅga”) and instantaneously attaches to the nimitta if at least one saṁyojana makes it possible.

Khi một nimitta (đối tượng giác quan) xuất hiện, tâm rời khỏi uppatti bhavaṅga (hay “bhavaṅga tạm thời”) và lập tức dính mắc vào nimitta nếu có ít nhất một saṁyojana khiến điều đó có thể xảy ra.

  • Since Arahant’s mind is devoid of any saṁyojana, it will not grasp ANY nimitta.

Vì tâm của một vị Arahant không còn bất kỳ saṁyojana nào, nên nó sẽ không nắm giữ BẤT KỲ nimitta nào.

  • We can get a good indication of possible attachment by looking at the type of vedanā generated by the nimitta.

Chúng ta có thể có một dấu hiệu khá rõ về khả năng dính mắc bằng cách quan sát loại vedanā được tạo ra bởi nimitta.

Only Bodily Vedanā Are “Real” – Others Are “Mind-Made”

Chỉ Vedanā Của Thân Là “Thực” – Những Loại Khác Do Tâm Tạo

  1. As discussed in #6 of the post, “Contamination of a Human Mind – Detailed Analysis,” only bodily feelings (sārīrika vedanā) are real vedanā felt by the physical body. Those are the sukha and dukkha vedanā that even the Buddha experienced.

Như đã thảo luận ở mục #6 của bài “Contamination of a Human Mind – Detailed Analysis”, chỉ những cảm thọ của thân (sārīrika vedanā) mới là vedanā thực sự được cảm nhận bởi thân vật lý. Đó là sukha vedanā và dukkha vedanā mà ngay cả Đức Phật cũng trải nghiệm.

  • The other sense doors cannot cause bodily sukha and dukkha vedanā. They come in as “adukkhamasukkha (neither sukha nor dukkha)” vedanā.

Các căn khác không thể tạo ra sukha vedanā hay dukkha vedanā của thân. Chúng xuất hiện dưới dạng vedanā adukkhamasukkha (không phải sukha cũng không phải dukkha).

  • The above facts are pretty clear in Abhidhamma; all sense doors other than the physical body (i.e., eyes, ears, nose, tongue, mind) initially generate adukkhamasukha vedanā ( 1).

Những điều trên được trình bày khá rõ trong Abhidhamma; tất cả các căn ngoài thân vật lý (tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, ý) ban đầu chỉ tạo ra adukkhamasukha vedanā (Tài liệu tham khảo 1).

  • A nimitta coming through the other sense doors can generate various types of saññā depending on the realm, and those give rise to somanassa (mind-made pleasant) and domanassa (mind-made unpleasant) vedanā.

Một nimitta đi vào qua các căn khác có thể tạo ra nhiều loại saññā khác nhau tùy theo cõi, và những saññā đó dẫn đến somanassa vedanā (cảm thọ dễ chịu do tâm tạo) và domanassa vedanā (cảm thọ khó chịu do tâm tạo).

  • For example, a human will experience a horrible taste and a foul smell of rotting meat. For pigs, it is the other way around! Both taste and smell are generated purely with saññā. However, both humans and pigs experience the same dukkha vedanā upon being injured. Only bodily contact leads to real dukkha and sukha vedanā.

Ví dụ, con người sẽ cảm nhận mùi hôi và vị kinh khủng của thịt thối. Nhưng đối với lợn thì hoàn toàn ngược lại! Cả vị giác và khứu giác đều được tạo ra hoàn toàn bởi saññā. Tuy nhiên, cả con người và lợn đều trải nghiệm cùng một dukkha vedanā khi bị thương. Chỉ sự tiếp xúc của thân mới dẫn đến dukkha vedanā và sukha vedanā thực sự.

  • The minds of different beings in different realms in the kāma loka are naturally built to generate various types of “saññā” according to the “gati” corresponding to that realm. Thus, the saññā of a pig and that of a human for rotting meat or feces is exactly the opposite. A pig would generate somanassa vedanā, and a human would generate domanassa vedanā. An Arahant will have the same unpleasant saññā for rotting meat (as an average human) but will not generate domanassa vedanā. Furthermore, an Arahant will experience the physical dukkha vedanā from an injury but will not generate domanassa vedanā because of it (unlike an average human.)

Tâm của các chúng sinh khác nhau trong các cõi khác nhau của kāma loka được hình thành một cách tự nhiên để tạo ra nhiều loại saññā khác nhau tùy theo gati tương ứng với cõi đó. Vì vậy, saññā của một con lợn và của một con người đối với thịt thối hay phân là hoàn toàn trái ngược. Một con lợn sẽ sinh ra somanassa vedanā, còn con người sẽ sinh ra domanassa vedanā. Một vị Arahant cũng có saññā khó chịu đối với thịt thối (giống như người bình thường), nhưng sẽ không sinh ra domanassa vedanā. Hơn nữa, một vị Arahant vẫn trải nghiệm dukkha vedanā của thân khi bị thương, nhưng sẽ không sinh ra domanassa vedanā vì điều đó (khác với người bình thường).

Nimitta Turning to an Ārammaṇa

Nimitta Trở thành Ārammaṇa

  1. Based on ANY sensory input and the uppatti bhavaṅga, a mind will start at a particular DEFILED STATE (with mano saṅkhāra) unless one is an Arahant. Even if an average human may not strongly attach to a sense input, “distorted saññā” is automatically generated; the reason is not realizing the anicca nature, but we will discuss that later.

Dựa trên BẤT KỲ đối tượng giác quan nào và uppatti bhavaṅga, tâm sẽ bắt đầu trong một TRẠNG THÁI BỊ Ô NHIỄM nhất định (với mano saṅkhāra), trừ khi người đó là một vị Arahant. Ngay cả khi một người bình thường không dính mắc mạnh vào một đối tượng giác quan, “saññā bị bóp méo” vẫn tự động sinh ra; nguyên nhân là do chưa nhận ra bản chất anicca, nhưng điều này sẽ được thảo luận sau.

  • Therefore, any mind (other than that of an Arahant) will be somewhat contaminated, even from the beginning, due to wrong views and defiled saññā associated with that mind. Thus, the “suffering-free pure mind” (pabhassara citta) ALWAYS remains hidden. I had discussed this in a separate section earlier and have extracted relevant posts to “Recovering the Suffering-Free Pure Mind” under the main section “Is There a “Self”?

Vì vậy, bất kỳ tâm nào (ngoại trừ tâm của một vị Arahant) đều bị ô nhiễm ở một mức độ nào đó ngay từ đầu, do các tà kiến và saññā bị ô nhiễm gắn liền với tâm đó. Do đó, “tâm thuần khiết không có khổ” (pabhassara citta) LUÔN luôn bị che khuất. Tôi đã thảo luận điều này trong một phần riêng trước đây và đã trích các bài viết liên quan vào mục “Recovering the Suffering-Free Pure Mind” trong phần chính “Is There a “Self”?”.

  • In other words, any attachment is to pañcupādānakkhandha and NEVER to pañcakkhandha.

Nói cách khác, mọi sự dính mắc đều hướng đến pañcupādānakkhandha chứ KHÔNG BAO GIỜ hướng đến pañcakkhandha.

  • The sequence of events after a sensory input becomes an ārammaṇa has been discussed in “Sensory Experience – Basis of Buddha’s Worldview” (Extracted fromOrigin of Life”).

Chuỗi sự kiện xảy ra sau khi một đối tượng giác quan trở thành ārammaṇa đã được thảo luận trong “Sensory Experience – Basis of Buddha’s Worldview” (được trích từ phần “Origin of Life”).

  • In the current new subsection, “Sensory Experience – A Deeper Analysis” we discuss how a nimitta becomes an ārammaṇa (It is the same as the “kāma dhātu” to “kāma bhava” transition.)

Trong tiểu mục mới hiện tại “Sensory Experience – A Deeper Analysis”, chúng ta sẽ thảo luận cách một nimitta trở thành một ārammaṇa (điều này tương đương với sự chuyển từ “kāma dhātu” sang “kāma bhava”).

  • It is a good idea to follow the flow in the re-arranged main section, “Is There a “Self”?

Nên theo dõi tiến trình trong phần chính đã được sắp xếp lại “Is There a “Self”?”.

  1. I discussed some of the concepts in this post in the subsection “Recovering the Suffering-Free Pure Mind.” In particular, see “Contamination of a Human Mind – Detailed Analysis.”

Tôi đã thảo luận một số khái niệm trong bài viết này trong tiểu mục “Recovering the Suffering-Free Pure Mind”. Đặc biệt, xem bài “Contamination of a Human Mind – Detailed Analysis”.

  • I have revised the main chart in that post slightly to follow the discussion above.

Tôi đã chỉnh sửa nhẹ biểu đồ chính trong bài viết đó để phù hợp với phần thảo luận ở trên.

Contamination of Mind from Kāma Dhātu Stage – 2

Sự ô nhiễm của Tâm từ Giai đoạn Kāma Dhātu – 2

Download/Print:WebLink: PDF Download: Contamination of Mind from Kāma Dhātu Stage – 2.”

Tải xuống/In:WebLink: PDF Download: Contamination of Mind from Kāma Dhātu Stage – 2.”

Upaya Means “Birth” in Kāma, Rūpa, or Arūpa Bhava

Upaya Có nghĩa là “Sinh khởi” trong Kāma, Rūpa hoặc Arūpa Bhava

  1. The 31 realms in this world are divided into three “bhava” or existences: kāma bhava, rūpa bhava, and arūpa bhava.

31 cõi trong thế giới này được chia thành ba “bhava” hay ba dạng tồn tại: kāma bhava, rūpa bhava và arūpa bhava.

  • The mind of anyone born in the kāma bhava is generally “triggered” by sensory input in kāma dhātu. Thus, even an Arahant’s mind starts at the kāma dhātu stage (which is free of defilements.) Only after attaching to a sensory input with “defiled saññā” does a mind reach the “kāma bhava” stage.

Tâm của bất kỳ ai sinh ra trong kāma bhava thường được “kích hoạt” bởi các đối tượng giác quan trong kāma dhātu. Vì vậy, ngay cả tâm của một vị Arahant cũng bắt đầu ở giai đoạn kāma dhātu (một giai đoạn không có ô nhiễm). Chỉ khi dính mắc vào một đối tượng giác quan với “saññā bị ô nhiễm” thì tâm mới đi đến giai đoạn “kāma bhava”.

  • In another example, a rūpāvacara Brahma’s mind starts at the “rūpa dhātu” stage. Only after getting attached to “defiled rūpa saññā” does it get to the “rūpa bhava.”

Trong một ví dụ khác, tâm của một rūpāvacara Brahma bắt đầu ở giai đoạn “rūpa dhātu”. Chỉ sau khi dính mắc vào “rūpa saññā bị ô nhiễm” thì tâm mới đi đến “rūpa bhava”.

  • Similarly, an arūpāvacara Brahma’s mind starts at the “arūpa dhātu” stage. Only after getting attached to “defiled arūpa saññā” does it get to the “arūpa bhava.”

Tương tự, tâm của một arūpāvacara Brahma bắt đầu ở giai đoạn “arūpa dhātu”. Chỉ sau khi dính mắc vào “arūpa saññā bị ô nhiễm” thì tâm mới đi đến “arūpa bhava”.

Điều này được nêu rõ trong “WebLink: suttacentral: Paṭhamabhava Sutta (AN 3.76)”.

  1. Furthermore, within each bhava, one will get into one’s unique “bhava” according to the “gati” (or “uppatti bhavaṅga”) one is born with.

Hơn nữa, trong mỗi bhava, mỗi chúng sinh sẽ rơi vào “bhava” riêng của mình tùy theo gati (hay uppatti bhavaṅga) mà họ được sinh ra cùng.

  • For example, if we consider a human and a pig, both are in kāma bhava. However, they have very different gati (or “uppatti bhavaṅga.”)

Ví dụ, nếu xét một con người và một con lợn, cả hai đều ở trong kāma bhava. Tuy nhiên, họ có gati (hay uppatti bhavaṅga) rất khác nhau.

  • Therefore, upon seeing a pile of feces, a pig’s mind automatically gets a “likable saññā,” and a “somanassa (mind-made joyful) vedanā” arises.

Vì vậy, khi nhìn thấy một đống phân, tâm của con lợn tự động sinh ra một saññā “dễ chịu”, và một somanassa vedanā (cảm thọ vui do tâm tạo) khởi sinh.

  • An Arahant and a puthujjana (average human) were born in the “human bhava.” Therefore, upon seeing the same pile of feces, “unpleasant saññā” arises in both. However, a “domanassa (mind-made distressful) vedanā” arises ONLY in the average human, whose mind automatically dislikes the pile of feces. Even though the Arahant was born in the human bhava, he/she does not belong to the “human bhava” or any “bhava.” Thus, no “attachment with somanassa or domanassa” happens to the Arahant.

Một vị Arahant và một puthujjana (người bình thường) đều sinh ra trong “bhava loài người”. Vì vậy, khi nhìn thấy cùng một đống phân, saññā khó chịu xuất hiện ở cả hai. Tuy nhiên, domanassa vedanā (cảm thọ khó chịu do tâm tạo) chỉ xuất hiện ở người bình thường, vì tâm họ tự động ghét đống phân đó. Mặc dù vị Arahant được sinh ra trong bhava loài người, vị ấy không còn thuộc về “bhava loài người” hay bất kỳ bhava nào. Vì vậy, không có sự dính mắc với somanassa hay domanassa xảy ra nơi vị Arahant.

  • In other words, while Arahant’s mind reaches the “kāma dhātu” stage, it will never reach “kāma bhava.”

Nói cách khác, dù tâm của vị Arahant đi đến giai đoạn kāma dhātu, nó sẽ không bao giờ đi đến kāma bhava.

  • I repeated that to make sure I got the point across. Understanding these concepts is critical if one wants to fully understand the Satipaṭṭhāna Sutta and also have a deeper understanding of saññā vipallāsa and anicca

Tôi lặp lại điều đó để đảm bảo ý chính được hiểu rõ. Việc hiểu các khái niệm này là rất quan trọng nếu muốn hiểu đầy đủ Satipaṭṭhāna Sutta và cũng để có sự hiểu sâu hơn về saññā vipallāsa và bản chất anicca.

References

Tài liệu tham khảo

  1. WebLink: PDF Download: Bhikkhu_Bodhi-Comprehensive_Manual_of_Abhidhamma,” by Bhikkhu Bodhi (2000); pdf file can be downloaded (click the link to open the pdf). See Chapter III on p. 114. Here, only sukha and dukkha vedanā are generated via the physical body. All others lead to somanassa and domanassa vedanā created by the mind arising from saññā. That latter part may not be explicitly stated there.

WebLink: PDF Download: Bhikkhu_Bodhi-Comprehensive_Manual_of_Abhidhamma,” của Bhikkhu Bodhi (2000); tệp pdf có thể tải xuống (nhấp vào liên kết để mở tệp). Xem Chương III, trang 114. Ở đây, chỉ có sukha và dukkha vedanā được tạo ra thông qua thân vật lý. Tất cả những loại khác dẫn đến somanassa và domanassa vedanā do tâm tạo ra từ saññā. Phần sau này có thể không được nêu rõ ràng trong tài liệu đó.