Namagotta, Bhava, Kamma Bīja, and Mano Loka (Mind Plane) / Nāmagotta, Bhava, Kamma Bīja Và Mano Loka (Cõi Tâm)

Revised September 1, 2018; March 2, 2020; September 10, 2022; April 30, 2023

Sửa ngày 1/9/2018; 2/3/2020; 10/9/2022; 30/4/2023

  1. A strong kamma can bring vipāka in the future. The mind releases a bit of energy, which is called a kamma bīja (or kamma bhava). Where are these kamma bīja/bhava “located”? That is difficult to explain because we have no direct perception of mental phenomena. We find it hard to relate to anything that cannot be discerned through our five physical senses. We usually need to see, hear, taste, smell, or touch something to feel confident that it is “real.”

Một kamma mạnh có thể mang lại vipāka trong tương lai. Tâm phát ra một phần năng lượng gọi là kamma bīja (hoặc kamma bhava). Những kamma bīja/bhava này “nằm” ở đâu? Điều này khó giải thích vì chúng ta không có khả năng cảm nhận trực tiếp các hiện tượng tâm. Chúng ta khó liên hệ với bất kỳ điều gì không thể nhận biết bằng năm giác quan vật lý. Thông thường, ta phải thấy, nghe, nếm, ngửi, hoặc chạm thì mới tin rằng điều gì đó là “thực.”

  • Yet, with effort, it is possible to get a good understanding of these phenomena. Modern science also helps clarify this to some extent.

Tuy nhiên, nếu nỗ lực, ta có thể hiểu rõ phần nào về các hiện tượng này. Khoa học hiện đại cũng giúp giải thích chúng ở một mức độ nhất định.

  • If someone seriously wishes to understand, it is best to first read “Difference between a Wish and a Determination (Pāramitā)” and especially “Recent Evidence for Unbroken Memory Records (HSAM).”

Nếu ai đó thực sự muốn hiểu rõ, nên đọc trước hai bài “Difference between a Wish and a Determination (Pāramitā)” và đặc biệt là “Recent Evidence for Unbroken Memory Records (HSAM).”

  1. It is impossible for the brain to “store” records of all our past activities. Some individuals can remember every detail of everything that happened to them over many years, as shown in the previous post. Moreover, how could memories of past lives be stored in the brain, which has no connection to previous existences?

Bộ não không thể “lưu trữ” tất cả các ký ức về mọi hoạt động trong quá khứ của ta. Có những người có thể nhớ chi tiết mọi việc đã xảy ra với họ trong nhiều năm, như đã trình bày ở bài trước. Hơn nữa, làm sao ký ức của các tiền kiếp có thể được lưu trong bộ não, vốn hoàn toàn không liên quan đến các kiếp trước?

  • The Buddha explained that those memories exist in mano loka (“nāma thalaya” in Sinhala), which can be translated as the “mind plane.” Those memories in the mano loka are accessed through the mana indriya in the brain (WebLink: suttacentral: Indriyakathā, Kv 19.8)”.

Đức Phật dạy rằng những ký ức đó tồn tại trong mano loka (“nāma thalaya” trong tiếng Sinhala), có thể dịch là “cảnh giới tâm.” Các ký ức trong mano loka được kết nối qua mana indriya trong não (WebLink: suttacentral: Indriyakathā, Kv 19.8)).

  • This “storage” is not physical like a recording tape. The mano loka is entirely non-material — it consists only of nāma (mental elements) without any matter.

Việc “lưu trữ” này không mang tính vật lý như một cuộn băng ghi âm. Mano loka hoàn toàn phi vật chất — chỉ bao gồm nāma (các yếu tố tâm), không có vật chất.

  • The closest analogy we have to this mental plane is the “dream world.” When dreaming, we see, hear, and act — yet it all occurs in nāma, without physical matter. Similarly, when we recall memories, it is like watching a dream replay.

Ví dụ gần nhất với cảnh giới tâm là “thế giới trong mơ.” Khi mơ, ta có thể thấy, nghe, và hành động — nhưng tất cả đều diễn ra trong nāma, không có vật chất. Tương tự, khi hồi tưởng ký ức, ta như đang xem lại một giấc mơ.

  • We can recall memories — even very old ones — instantly. Strong memories come vividly, with sounds and imagery, almost as if reliving them. The mind connects with the mano loka and retrieves data instantly; see “Amazingly Fast Time Evolution of a Thought (Citta).”

Ta có thể nhớ lại ký ức — kể cả những ký ức rất lâu — trong khoảnh khắc. Ký ức mạnh hiện ra sinh động, có âm thanh và hình ảnh, như thể ta đang sống lại. Tâm kết nối với mano loka và truy xuất tức thì; xem “Amazingly Fast Time Evolution of a Thought (Citta).”

  • In this recall process, the brain acts as an intermediary — specifically the mana indriya in the brain, which functions like a transmitter and receiver communicating with the mental plane. As the brain deteriorates with age, recall ability weakens. Meditation, especially dhamma vicaya (contemplation on Dhamma), helps preserve the brain’s vitality.

Trong quá trình hồi tưởng này, não đóng vai trò trung gian — cụ thể là mana indriya trong não, hoạt động như một bộ phát và thu, liên lạc với cảnh giới tâm. Khi con người già đi, bộ não suy yếu, khả năng nhớ giảm dần. Thiền, đặc biệt là dhamma vicaya (quán chiếu Dhamma), giúp duy trì sức khỏe của não bộ.

  • It is just that some (few) people are born with the ability to recall anything from this life, as described in the post on memory records (HSAM). This ability can also be developed through the cultivation of abhiññā

Chỉ có một số (rất ít) người sinh ra đã có khả năng nhớ lại mọi việc trong đời này, như đã được mô tả trong bài viết về bản ghi ký ức (HSAM). Năng lực ấy cũng có thể được rèn luyện bằng cách phát triển các năng lực abhiññā.

  1. When we wish or hope for something, that thought too leaves a record in the mano loka; later, we can recall that we once made such a wish.

Khi ta mong ước hay hy vọng điều gì, ý nghĩ ấy cũng để lại một dấu ghi trong mano loka; sau này ta có thể nhớ rằng mình đã từng ước như thế.

  • While a nāmagotta (also written as nāma gotta) is merely a record, a wish carries a trace of mental energy. However, if it is not followed by sustained thought and action, that energy soon fades.

Trong khi nāmagotta (hoặc nāma gotta) chỉ là một bản ghi, thì một ước muốn mang theo một phần năng lượng tâm. Tuy nhiên, nếu không được nuôi dưỡng bằng suy nghĩ hay hành động tiếp theo, năng lượng đó sẽ nhanh chóng tan biến.

  • When we make a firm determination, it has more javana power than a simple wish, so such mental imprints remain stronger and last longer.

Khi ta lập một quyết tâm, nó có sức mạnh javana lớn hơn một ước muốn thông thường, do đó dấu ấn tâm ấy bền vững và lâu phai hơn.

  • Our wishes, resolutions, cravings, and plans are all types of saṅkhāra (mental formations), either wholesome or unwholesome. Some are strong enough to become abhisaṅkhāra. All of them generate kamma bīja (karmic seeds) of varying strength — some powerful enough to cause rebirth, others bringing vipāka (results) within the same life, whether good or bad.

Mọi ước muốn, quyết tâm, tham cầu hay dự định của ta đều là các loại saṅkhāra (hành), thiện hoặc bất thiện. Một số mạnh đến mức trở thành abhisaṅkhāra. Tất cả đều tạo ra kamma bīja (hạt giống kamma) với mức độ khác nhau — một số đủ mạnh để dẫn đến tái sinh, số khác trổ vipāka (quả) ngay trong đời này, tốt hoặc xấu tùy loại.

  • Thus, the saying “Dhammo have rakkhati dhammacāriṁ” — “Dhamma protects those who live according to Dhamma” — applies to both wholesome and unwholesome forces. Moral conduct elevates, immoral conduct degrades. Nature is impartial; each being chooses their own direction. Yet results ALWAYS manifest strictly according to kamma or actions; see “Paṭicca Samuppāda – ‘Pati+ichcha’+‘Sama+uppāda’.

Vì vậy, câu “Dhammo have rakkhati dhammacāriṁ” — “Dhamma bảo hộ người hành theo Dhamma” — đúng cho cả lực thiện lẫn lực bất thiện. Người sống đạo đức sẽ hướng thượng; kẻ phi đạo đức sẽ hướng hạ. Tự nhiên vốn vô tư; mỗi chúng sinh tự chọn con đường của mình. Tuy nhiên, kết quả LUÔN xảy ra đúng theo quy luật kamma; xem “Paṭicca Samuppāda – ‘Pati+ichcha’+‘Sama+uppāda’.”

  1. Records of both past nāmagotta and mental energies tied to “future intentions” (kamma bīja) reside in the mind plane. The difference is that past nāmagotta are permanent and inert, while kamma bīja are dynamic — they can strengthen or fade.

Cả các nāmagotta quá khứ và năng lượng tâm liên quan đến “ý định tương lai” (kamma bīja) đều tồn tại trong cảnh giới tâm. Điểm khác biệt là nāmagotta quá khứ mang tính vĩnh cửu nhưng trơ tĩnh, trong khi kamma bīja luôn biến động — có thể mạnh lên hoặc yếu đi.

  • Even an unfulfilled determination is recorded in the mind plane, because as soon as the thought passes, it becomes a record in nāmagotta. For instance, if someone determines to kill another, that intention is immediately recorded as a nāmagotta; at the same time, a potential kamma bīja The more one plans and obsesses, the stronger the kamma bīja becomes. If one later abandons the intent, the corresponding energy fades, and no kamma bīja remains.

Ngay cả một quyết tâm chưa thực hiện cũng được ghi lại trong cảnh giới tâm, bởi vì ngay khi tư tưởng đó chấm dứt, nó trở thành một bản ghi trong nāmagotta. Ví dụ, nếu ai đó quyết tâm giết người, ý định đó lập tức được ghi thành nāmagotta; đồng thời, một kamma bīja tiềm tàng được hình thành. Càng suy tính, càng củng cố, kamma bīja càng mạnh. Nếu sau đó người ấy tỉnh ngộ và từ bỏ ý định, năng lượng liên quan sẽ tan biến, và kamma bīja không còn tồn tại.

  • Note: Every sensory event adds a record to nāmagotta in viññāṇa dhātu via the mana indriya in the brain. Thus, memories are “stored” not in the physical brain but in viññāṇa dhātu (or nāma loka).

Lưu ý: Mỗi sự kiện giác quan đều được ghi vào nāmagotta trong viññāṇa dhātu thông qua mana indriya trong não. Vì vậy, ký ức không “được lưu” trong bộ não vật lý, mà tồn tại trong viññāṇa dhātu (hoặc nāma loka).

  • When one merely thinks about committing a deed, the kamma patha is not complete — the full karmic process has not matured. If the person actually commits the act, the kamma patha completes, and a kamma bīja capable of producing vipāka is formed.

Khi một người chỉ nghĩ đến việc làm một hành động, kamma patha chưa hoàn tất — quá trình kamma chưa chín. Nếu người đó thật sự hành động, kamma patha hoàn thành và một kamma bīja có khả năng sinh vipāka được hình thành.

Những kamma bīja yếu hơn — cho quả trong đời này — có thể tồn tại đến 91 mahā kappā (một đại kiếp, khoảng 30 tỷ năm). Ví dụ, dâng cúng thực phẩm đến các bhikkhu thuộc về loại ấy. Tham chiếu đến 91 mahā kappā nằm trong: “WebLink wisdomlib.org: Part 3 – The Buddha’s Delivery of The Tirokuṭṭa Sutta.” Đó là bối cảnh để Đức Phật thuyết “WebLink: wisdomlib.org: Tirokuṭṭa Sutta (kp 7).” Cảm ơn C. Saket đã chia sẻ liên kết về trình thuật bối cảnh ấy!

  • However, strong kamma bīja — particularly those leading to rebirth — persist until fruition, except in the case of Ariyas (Noble Ones).

Tuy nhiên, các kamma bīja mạnh — đặc biệt là những nghiệp dẫn đến tái sinh — sẽ tồn tại cho đến khi trổ quả, trừ trường hợp của các bậc Ariya (Thánh nhân).

  1. Depending on the moral nature of the deed, each kamma bīja resides within a specific category or “container” known as kamma bhava.

Tùy theo tính chất thiện hay bất thiện của hành động, mỗi kamma bīja sẽ nằm trong một loại “kho chứa” riêng gọi là kamma bhava.

  • For example, if someone cultivates rūpa samāpatti, the associated kamma bīja will reside in the rūpa loka bhava — or simply rūpa bhava. If another cultivates arūpa jhānā (one of the four highest jhānā), the corresponding kamma bīja will belong to arūpa bhava, and when that kamma bīja releases its energy, that person will be reborn in the arūpa loka.

Ví dụ, nếu ai đó tu tập rūpa samāpatti, kamma bīja tương ứng sẽ nằm trong rūpa loka bhava — hay ngắn gọn là rūpa bhava. Nếu người khác tu tập arūpa jhānā (một trong bốn tầng jhānā cao nhất), kamma bīja tương ứng sẽ thuộc về arūpa bhava, và khi kamma bīja đó phát sinh năng lượng, người ấy sẽ tái sinh trong arūpa loka.

  • All other (abhi)saṅkhāra lead to vipāka within the kāma loka — that is, the deva, human, and four lowest realms. This will be explained further in the next section.

Tất cả các (abhi)saṅkhāra khác sẽ trổ vipāka trong kāma loka — tức là các cõi deva cõi người, và bốn cõi thấp nhất. Phần này sẽ được giải thích chi tiết hơn trong phần tiếp theo.

  • To summarize: when we perform a kamma (an abhisaṅkhāra), we generate a certain energy called a kamma bīja. Those energies are stored within their appropriate bhava in the mental plane. The energy is exhausted when the vipāka associated with that kamma bīja is experienced. Only its record (nāmagotta) remains in the mental plane.

Tóm lại: khi ta tạo một kamma (một abhisaṅkhāra), ta sinh ra một năng lượng nhất định gọi là kamma bīja. Những năng lượng ấy được lưu giữ trong bhava thích hợp trong cảnh giới tâm. Năng lượng đó tiêu hao khi vipāka tương ứng của kamma bīja được trải nghiệm. Chỉ còn lại bản ghi (nāmagotta) của nó tồn tại trong cảnh giới tâm.

  1. Here is a chart that summarizes the above: Mind Plane Drawing

Dưới đây là một sơ đồ tóm tắt nội dung trên: Bản đồ Cảnh giới Tâm

Mind plane drawing


Mind Plane Drawing

Bản đồ Cảnh giới Tâm

Click to open and print the chart: WebLink: Mind Plane Drawing

Nhấn để mở và in sơ đồ: WebLink: Mind Plane Drawing

  • As the chart shows, we generate kamma bīja of varying strengths in different bhava during a lifetime. These will lead to further rebirths and countless kamma vipāka throughout those existences.

Như sơ đồ cho thấy, trong một đời ta tạo ra các kamma bīja có cường độ khác nhau trong nhiều loại bhava. Những kamma bīja đó sẽ dẫn đến các tái sinh mới và vô số kamma vipāka trong các kiếp sống ấy.

  1. Another crucial point is that there are two ways to bypass or neutralize a strong kamma bīja — such as one created by the killing of a human.

Một điểm quan trọng khác là có hai cách để vượt qua hoặc triệt tiêu một kamma bīja mạnh — chẳng hạn như kamma bīja được tạo bởi việc giết người.

  • He could realize the enormity of his deed, sincerely ask for forgiveness in his mind, and begin performing moral acts. This can gradually weaken the energy of that kamma bīja. More importantly, if he cultivates Ariya Mettā Bhāvanā, he may be able to exhaust it completely (unless it is an extremely strong janaka kamma); see “ Ariya Mettā Bhāvanā.”

Người ấy có thể nhận ra mức độ nghiêm trọng của hành động, chân thành sám hối trong tâm, và bắt đầu làm việc thiện. Điều đó có thể dần làm suy yếu năng lượng của kamma bīja. Quan trọng hơn, nếu hành trì Ariya Mettā Bhāvanā, người ấy có thể tiêu trừ hoàn toàn nghiệp ấy (trừ khi đó là loại janaka kamma cực mạnh); xem “5. Ariya Mettā Bhāvanā.”

  • The other way, of course, is to attain If that particular kamma seed (bīja) has not produced its vipāka before the Arahant’s passing, it becomes null upon his death.

Cách thứ hai, dĩ nhiên, là chứng đạt quả vị Arahant. Nếu kamma bīja ấy chưa trổ vipāka trước khi vị Arahant nhập diệt, nó sẽ hoàn toàn mất hiệu lực tại thời điểm ấy.

  • Furthermore, if that kamma bīja ( is not strong enough (i.e., not a janaka kamma) and fails to produce vipāka within 91 mahā kappā, it will also become null and void. Only the nāmagotta are permanent. Kamma bīja simply wait for suitable conditions to bring vipāka and change over time. Nāmagotta are mere records, while kamma bīja carry the energy capable of generating results (vipāka).

Hơn nữa, nếu kamma bīja không đủ mạnh (tức không phải janaka kamma) và không trổ vipāka trong vòng 91 mahā kappā, nó cũng sẽ mất hiệu lực. Chỉ có nāmagotta là tồn tại vĩnh viễn. Kamma bīja chỉ “chờ điều kiện thích hợp” để sinh vipāka và luôn biến đổi theo thời gian. Nāmagotta chỉ là bản ghi, còn kamma bīja chứa năng lượng có thể tạo ra kết quả (vipāka).

  1. There are, however, special cases where a kamma bīja (and its corresponding kamma bhava) WILL NOT change. An ānantariya kamma establishes a kamma bīja (and kamma bhava) that inevitably produces vipāka at the end of the current life.

Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt trong đó kamma bīja (và kamma bhava tương ứng) KHÔNG thể thay đổi. Một ānantariya kamma tạo ra một kamma bīja (và kamma bhava) chắc chắn sẽ trổ vipāka ngay trong kiếp hiện tại, không thể tránh được.

On the immoral side, five ānantariya kamma guarantee rebirth in the apāyā at death: killing one’s mother, father, or an Arahant; injuring a Buddha; or causing a schism in the Saṅgha (see “WebLink: suttacentral: Parikuppa Sutta (AN 5.129).”

Về phía bất thiện, có năm loại ānantariya kamma chắc chắn dẫn đến tái sinh trong apāyā khi chết: giết mẹ, giết cha, giết một vị Arahant, làm tổn thương một vị Phật, hoặc gây chia rẽ trong Tăng đoàn (xem “WebLink: suttacentral: Parikuppa Sutta (AN 5.129).”)

  • On the moral side, all stages of Nibbāna are also ānantariya kamma. For instance, upon attaining the Sotāpanna stage, one is henceforth born only according to that “Ariya bhava” — that special kammic energy — and can no longer fall into the four lowest realms.

Về phía thiện, mọi tầng chứng Nibbāna đều là ānantariya kamma. Ví dụ, khi chứng đạt Sotāpanna, người ấy từ đó chỉ được sinh trong “Ariya bhava” — loại năng lượng kamma đặc biệt ấy — và sẽ không bao giờ còn rơi vào bốn ác đạo (cõi thấp nhất).

  • Another significant case is that of a Bodhisatta cultivating pāramitā toward Buddhahood. Through countless lives, he builds up an immense kamma bīja that, at a certain stage, becomes fully established. At that point, he receives the niyata vivaraṇa — the definite prediction of future Buddhahood — from a living Buddha, confirming the arising of his Buddha bhava.

Một trường hợp quan trọng khác là Bodhisatta hành pāramitā để thành Phật. Qua vô số kiếp, ngài tích lũy một kamma bīja vô cùng mạnh mẽ, đến một giai đoạn nhất định thì hạt giống đó được hoàn toàn thiết lập. Khi ấy, ngài nhận niyata vivaraṇa — lời xác chứng chắc chắn về sự thành Phật trong tương lai — từ một vị Phật đang sống, xác nhận sự thành tựu bhava Đức Phật của ngài.

  • These principles are analyzed differently — yet consistently — in “Memory, Brain, Mind, Nāma Loka, Kamma Bhava, Kamma Vipāka.”

Những nguyên lý này được phân tích theo cách khác nhưng vẫn nhất quán trong “Memory, Brain, Mind, Nāma Loka, Kamma Bhava, Kamma Vipāka.”

  • In the next discussion, we will examine how various kinds of bhava are fueled by actions: “Gati and Bhava – Many Varieties.”

Trong phần tiếp theo, ta sẽ xem xét cách các loại bhava khác nhau được nuôi dưỡng bởi hành động: “Gati and Bhava – Many Varieties.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *