Gandhabba in a Human Body – an Analogy / Gandhabba trong thân người – phép ẩn dụ

September 11, 2020; revised December 31, 2023

Ngày 11/9/2020; sửa ngày 31/12/2023

Gandhabba in a Human Body Senses Differently Than When Outside

Gandhabba Trong Thân Người Cảm Nhận Khác Khi Ở Bên Ngoài

  1. The six critical entities in the gandhabba (hadaya vatthu and the five pasāda rūpa of cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya) are responsible for the amazing feats of cognition. See “Mind and Matter – Buddhist Analysis,”

Sáu thành phần then chốt trong gandhabba (hadaya vatthu và năm pasāda rūpa của cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya) chịu trách nhiệm cho những năng lực nhận thức kỳ diệu. Xem “Mind and Matter – Buddhist Analysis,”

  • As we have discussed, a gandhabba has only a trace of matter and is invisible. It is essentially an invisible “mental body.”

Như đã bàn, một gandhabba chỉ có một chút vật chất vi tế và là vô hình. Về bản chất, đó là một “thân tâm” vô hình.

  • When outside the physical body, a gandhabba can hear and see by itself without having eyes and ears like us. This idea of a living being without a physical body like ours is hard to imagine. But Brahmā in the higher 20 realms have such “invisible bodies.”

Khi ở ngoài thân vật lý, một gandhabba có thể tự mình nghe và thấy mà không cần mắt và tai như chúng ta. Ý niệm về một chúng sinh không có thân vật lý như ta quả khó hình dung. Nhưng Brahmā ở 20 cõi cao có những “thân vô hình” như vậy.

  • Of course, a Brahma or a gandhabba cannot taste, smell, or touch since they do not have “dense solid bodies.”

Dĩ nhiên, một Brahma hay một gandhabba không thể nếm, ngửi hay xúc chạm vì họ không có “thân đặc”.

  • But when trapped inside a physical body, a gandhabba can experience all five sensory inputs. However, now the gandhabba depends on the brain to receive those sensory inputs.

Nhưng khi bị kẹt trong một thân vật lý, một gandhabba có thể trải nghiệm cả năm loại dữ liệu giác quan. Tuy nhiên, bây giờ gandhabba phụ thuộc vào não để nhận các dữ liệu giác quan ấy.

  • One way to get the basic idea is to look at the following analogy. This analogy works ONLY for the five physical senses.

Một cách để nắm ý chính là xem phép so sánh sau. Phép so sánh này CHỈ áp dụng cho năm giác quan vật lý.

A Soldier in a Totally-Enclosed Military Tank

Một Người Lính Trong Một Xe Tăng Kín Hoàn Toàn

  1. Visualize a soldier operating a fully-enclosed military tank. I do not even know whether such “totally-enclosed” military vehicles exist. But one can visualize it. Consider a tank (that is essentially a big metal box) without a single window. It has video cameras and microphones mounted on it to capture the scenes and sounds. It also has guns mounted on it that can shoot heavy artillery shells over long distances.

Hãy hình dung một người lính điều khiển một chiếc xe tăng quân sự kín hoàn toàn. Tôi thậm chí không biết có loại xe “kín hoàn toàn” như vậy hay không, nhưng ta có thể tưởng tượng. Hãy hình dung một chiếc xe tăng (về bản chất là một hộp kim loại lớn) không có lấy một cửa sổ. Bên ngoài gắn các camera và micro để thu hình và âm thanh. Nó cũng có các khẩu pháo có thể bắn đạn nặng đi xa.

  • Let us also assume that the tank’s movement is fully automated, i.e., the soldier cannot drive it manually.

Ta cũng giả định rằng chuyển động của xe tăng là tự động hoàn toàn, tức người lính không thể lái thủ công.

  • There is a sophisticated computer system that controls all those activities. But the soldier decides where to go, what to shoot at, etc.

Có một hệ thống máy tính tinh vi điều khiển mọi hoạt động ấy. Nhưng người lính quyết định đi đâu, bắn vào đâu, v.v.

  • Now, suppose the computer system breaks down completely. The soldier is fully alive but he/she is incapable of knowing what is happening outside. He is also incapable of moving the tank or firing its guns.To someone looking from the outside, the tank appears “lifeless.” It is no different from a nearby rock.

Giờ giả sử hệ thống máy tính hỏng hoàn toàn. Người lính vẫn hoàn toàn còn sống, nhưng không thể biết chuyện gì diễn ra bên ngoài. Người lính này cũng không thể di chuyển xe tăng hay khai hỏa. Với người nhìn từ bên ngoài, chiếc xe tăng có vẻ “vô tri vô giác”, không khác gì một tảng đá gần đó.

A Gandhabba inside a Physical Body

Một Gandhabba Bên Trong Thân vật lý

  1. Similarly, a gandhabba trapped inside a physical body cannot see, hear, taste, smell, or touch anything without the aid of the brain.

Tương tự, một gandhabba bị kẹt trong thân vật lý không thể thấy, nghe, nếm, ngửi hay xúc chạm bất cứ gì nếu không có sự trợ giúp của não.

  • The physical body, just like the military tank, cannot “sense anything.” But it has a set of five “instruments” to interact with the external world (eyes, ears, tongue, nose, andbody).

Thân vật lý, giống như xe tăng, bản thân nó không “cảm” được gì. Nhưng nó có năm “dụng cụ” để tương tác với thế giới bên ngoài (mắt, tai, lưỡi, mũi và thân).

  • The brain, analogous to the on-board computer in the military tank, controls those body parts per its gandhabba’s instructions. It performs two types of tasks. (1) Process external signals coming through those five sensory instruments (eyes, ears, tongue, nose, and body) and pass them to the gandhabba (2) It also carries out the instructions by the gandhabba to control those body parts. Thus the gandhabba controls body movements with the aid of the brain.

Não, tương tự như máy tính trên xe tăng, điều khiển các bộ phận ấy theo chỉ dẫn của gandhabba. Nó thực hiện hai loại nhiệm vụ: (1) Xử lý các tín hiệu ngoại cảnh đi qua năm “dụng cụ” giác quan (mắt, tai, lưỡi, mũi và thân) rồi chuyển vào cho gandhabba bên trong; (2) Thi hành chỉ dẫn của gandhabba để điều khiển các bộ phận. Như vậy, gandhabba điều khiển vận động thân nhờ sự hỗ trợ của não.

  • In the case of extensive brain damage, the gandhabba cannot get any information from outside the body. It will also be unable to speak or move body parts because the brain accomplishes those tasks.

Khi tổn thương não diện rộng, gandhabba không thể nhận thông tin nào từ bên ngoài thân. Nó cũng không thể nói hay cử động các phần thân, vì các nhiệm vụ đó do não đảm trách.

  • That is why a “brain-dead person” in a “vegetative state” shows no sign of life, as we will discuss.

Đó là lý do người “chết não” ở “trạng thái thực vật” không biểu lộ dấu hiệu sự sống, như ta sẽ bàn.

How Can a Gandhabba Move a Heavy Physical Body?

Làm Sao Một Gandhabba Có Thể Di chuyển Một Thân vật lý Nặng Nề?

  1. Again the “tank analogy” is helpful. The soldier does not have the energy to move the tank. That energy comes from the fuel in the tank. Therefore, the tank will become “lifeless” if fuel runs out. The computer system will also not have the power to run.

Lại một lần nữa, phép so sánh “xe tăng” hữu ích. Người lính không có năng lượng để tự mình di chuyển xe tăng; năng lượng đến từ nhiên liệu trong xe. Do đó xe sẽ “vô sinh khí” nếu cạn nhiên liệu; hệ thống máy tính cũng không còn điện để chạy.

  • The physical body, just like the tank, cannot move without energy. That energy comes from the food that the human eats.

Thân vật lý, cũng như xe tăng, không thể chuyển động nếu thiếu năng lượng. Năng lượng đó đến từ thức ăn con người nạp vào.

  • Furthermore, the brain also needs energy to operate. That energy also comes from the food.

Hơn nữa, não cũng cần năng lượng để hoạt động; nguồn năng lượng đó cũng đến từ thực phẩm.

  • It turns out that the brain consumes roughly 25% of the energy produced by food digestion. That gives an idea of the immense workload on the brain. It has to process all the information coming in through the five senses AND carry out other bodily actions.

Hóa ra não tiêu thụ khoảng 25% năng lượng tạo ra từ tiêu hóa thức ăn. Điều đó cho thấy khối lượng công việc khổng lồ của não: vừa xử lý mọi thông tin đi vào qua năm giác quan VỪA thực thi các hoạt động thân khác.

  • That is why “brain-dead people” don’t show any sign of life. However, the gandhabba inside is fully alive, now trapped in a useless physical body.

Vì thế “người chết não” không biểu lộ dấu hiệu sự sống. Tuy nhiên, gandhabba bên trong vẫn hoàn toàn sống, chỉ là đang bị kẹt trong một thân vật lý vô dụng.

More Comparisons Of the Two Cases

So Sánh Thêm Giữa Hai Trường Hợp

  1. More bodily actions can be visualized that way. For example, gandhabba cannot throw a stone. But gandhabba in a human body can get the physical body to throw a stone (with the help of the brain.) It takes a lot of energy to throw a stone. But that energy does NOT come from the gandhabba. That comes from the food consumed by the physical body.

Có thể hình dung thêm nhiều hành động của thân theo cách ấy. Chẳng hạn, gandhabba không thể ném một hòn đá. Nhưng gandhabba trong thân người có thể khiến thân vật lý ném đá (với sự trợ giúp của não). Ném đá cần nhiều năng lượng, nhưng năng lượng đó KHÔNG đến từ gandhabba mà đến từ thức ăn mà thân vật lý tiêu thụ.

  • Correspondingly, the soldier cannot throw the heavy artillery. But he/she can set up the computer to aim and fire the guns. The energy to propel heavy projectiles comes from the fuel in the military tank.

Tương ứng, người lính không thể “ném” đạn pháo nặng; nhưng có thể lập trình máy tính để ngắm và khai hỏa. Năng lượng đẩy đầu đạn nặng đến từ nhiên liệu trong xe tăng.

  • If the computer breaks down, the soldier will be helpless and will not be able to see or hear what is happening outside. Furthermore, he/she will not be able to move the tank or shoot artillery shells. That is just like a “brain-dead person” in a vegetative state (see below.)

Nếu máy tính hỏng, người lính trở nên bất lực: không nhìn thấy hay nghe được bên ngoài; hơn nữa cũng không thể di chuyển xe hoặc bắn pháo. Điều đó giống như người “chết não” ở trạng thái thực vật (xem bên dưới).

Why Can’t the Gandhabba “See-Through” the Physical Body?

Vì Sao Gandhabba Không Thể “Nhìn Xuyên” Qua Thân vật lý?

  1. If a gandhabba outside a human body can travel through walls, and see/hear through walls, why can it not see and hear without the physical eyes and ears while being inside the physical body?

Nếu một gandhabba ở ngoài thân người có thể đi xuyên tường và thấy/nghe xuyên tường, thì tại sao khi ở trong thân vật lý nó lại không thể thấy và nghe mà không cần mắt tai vật lý?

  • That is a manifestation of kammic energy dictated by the purpose of the physical body. The physical body arises to provide a way for the gandhabba to experience close contacts (of taste, smell, and touch.) That NECESSITATES its entrapment inside the physical body.

Đó là biểu hiện của năng lượng kamma, được quyết định bởi mục đích của thân vật lý. Thân vật lý sinh khởi để tạo phương tiện cho gandhabba trải nghiệm các tiếp xúc gần (vị, mùi và xúc). Điều đó BUỘC nó phải bị giam giữ bên trong thân vật lý.

  • Again, the military tank analogy is helpful. The soldier can see and hear without the aid of tank-mounted equipment when he is outside the tank. But while INSIDE the tank, he CANNOT see outside without using the equipment. In the same way, the gandhabba is TOTALLY shielded from the external world once inside the physical body.

Một lần nữa, phép so sánh xe tăng rất hữu ích. Khi ở bên ngoài xe, người lính có thể nhìn và nghe mà không cần đến các thiết bị gắn trên xe. Nhưng khi Ở BÊN TRONG xe, anh ta KHÔNG THỂ nhìn ra ngoài nếu không dùng thiết bị. Tương tự, gandhabba bị CHE CHẮN HOÀN TOÀN khỏi thế giới bên ngoài ngay khi ở trong thân vật lý.

  1. There is another aspect of why a gandhabba in a human body becomes isolated. Kammic influences block the gandhabba from “seeing through the physical body.” That is a mechanism to make the physical body subject to kamma vipāka.

Còn một khía cạnh khác giải thích vì sao gandhabba trong thân người trở nên cô lập. Ảnh hưởng của kamma ngăn gandhabba “nhìn xuyên qua thân vật lý”. Đó là cơ chế khiến thân vật lý chịu kamma vipāka.

  • Some people incur brain damage due to kamma vipāka. Being trapped inside one’s own body and not being able to communicate with others is unimaginably harsh, as we will see below.

Một số người bị tổn thương não do kamma vipāka. Bị mắc kẹt trong chính thân mình và không thể giao tiếp với người khác là nỗi khắc nghiệt khó hình dung, như sẽ thấy bên dưới.

  • In general, “being trapped inside a heavy body” is one mechanism for humans to “pay for the privilege” of having a physical body to enjoy sense pleasures. Without exception, those who have had out-of-body experiences describe a joyful feeling of “lightness.”

Nói chung, “bị giam trong một thân nặng nề” là một cơ chế để con người “trả giá” cho đặc quyền có thân vật lý nhằm hưởng dục lạc giác quan. Không ngoại lệ, những ai từng trải nghiệm ngoài thân đều mô tả một cảm giác “nhẹ bẫng” đầy hân hoan.

What Happens if the Computer System (Brain) Malfunctions?

Chuyện Gì Xảy Ra Nếu Hệ Thống Máy Tính (Não) Trục Trặc?

  1. There are two possible scenarios in each of the cases. Let us consider the tank analogy first.

Mỗi trường hợp đều có hai kịch bản có thể xảy ra. Trước hết xét phép so sánh với xe tăng.

  1. If part of the on-board computer-controlled circuitry malfunctions, the soldier may be able to do only specific tasks. For example, suppose the circuitry that controls automated driving and the guns malfunctions. Then he would be unable to do anything with the tank (either to move it or to fire the guns.) But he may still be capable of seeing and hearing what is happening outside.

Nếu một phần mạch điều khiển của máy tính trên xe bị hỏng, người lính có thể chỉ làm được một số việc nhất định. Chẳng hạn, nếu mạch điều khiển lái tự động và pháo bị hỏng, anh ta sẽ không thể làm gì với chiếc xe (không di chuyển, không bắn được). Nhưng anh ta vẫn có thể nhìn và nghe những gì diễn ra bên ngoài.

  1. If the computer completely breaks down, the soldier will be completely isolated. He will not see or hear what is happening outside, in addition to being unable to do anything with the tank.

Nếu máy tính hỏng hoàn toàn, người lính sẽ bị cô lập hoàn toàn: không nhìn, không nghe được bên ngoài, và cũng không thể làm gì với chiếc xe.

  1. In the case of a gandhabba in a human body, the above two scenarios are analogous to two possible situations for a person in a vegetative state.

Với gandhabba trong thân người, hai kịch bản trên tương ứng với hai tình huống có thể gặp ở người ở trạng thái thực vật.

  1. If only certain areas of the brain circuitry are damaged (especially the brain stem), that person may be able to see and hear but may be incapable of moving body parts to respond to them.

Nếu chỉ một số vùng mạch não bị tổn thương (đặc biệt là thân não), người đó có thể vẫn nhìn, nghe được nhưng không thể cử động các phần thân để đáp lại.

  1. If the brain is totally damaged, that person may not see or hear and be unable to move the physical body. That is a “brain-dead person” or a person in a “vegetative state.”

Nếu não bị tổn thương toàn bộ, người ấy có thể không nhìn, không nghe và không thể cử động thân thể. Đó là “người chết não” hay người ở “trạng thái thực vật”.

  • Yet, the gandhabba inside is alive and well in both cases, just like the soldier in the tank with a failed computer system.

Tuy vậy, gandhabba bên trong vẫn còn sống và nguyên vẹn trong cả hai trường hợp, giống như người lính trong xe tăng khi hệ thống máy tính hỏng.

  • The case of a person in a “vegetative state” is discussed in detail in “Persistent Vegetative State – Buddhist View.”

Trường hợp “trạng thái thực vật” được bàn chi tiết trong “Persistent Vegetative State – Buddhist View”.

How Does A Gandhabba See/Hear When Outside a Physical Body?

Gandhabba Thấy/Nghe Thế Nào Khi Ở Ngoài Thân vật lý?

  1. Another possible question is: “How does the gandhabba see and hear when outside the human body?”

Một câu hỏi khác có thể nêu: “Gandhabba thấy và nghe thế nào khi ở ngoài thân người?”

  • Mainly humans and animals that communicate via speech (and bodily gestures). Living beings in other realms communicate in a different way that has not been described well.

Chủ yếu loài người và loài vật giao tiếp bằng lời nói (và cử chỉ thân). Chúng sinh ở các cõi khác giao tiếp theo cách khác, hiện chưa được mô tả rõ.

  • But we know that Brahmā Sahampati came to see the Buddha just after Buddha’s Enlightenment and “communicated” with the Buddha. Brahmās don’t have dense physical bodies with mouths or brains to talk like us.

Tuy nhiên ta biết Brahmā Sahampati đã đến yết kiến Đức Phật ngay sau khi Đức Phật giác ngộ và “giao tiếp” với Ngài. Brahmā không có thân đặc với miệng hay não để nói như chúng ta.

  1. That mode of communication is similar to one’s experience with dreams. In a dream, we do not “hear” what others say in the same way when we hear speech normally, i.e., through the ears. In a dream, we perceive what they are saying. We perceive saññā.

Cách giao tiếp đó tương tự trải nghiệm trong mộng. Trong mơ, ta không “nghe” lời người khác như cách nghe bình thường qua tai; trong mơ, ta tri nhận điều họ nói. Ta tri nhận saññā.

  • We also do not “see dreams” with our eyes, which are closed while we sleep.

Ta cũng không “nhìn thấy giấc mơ” bằng mắt, vì mắt nhắm khi ngủ.

  • Here, we need to remember that the “real sensing elements” are not the physical eyes, ears, etc., but the five pasāda rūpa: cakkhu, sota, ghāna, jivhā, and kāya. See, “Mind and Matter – Buddhist Analysis.”

Ở đây cần nhớ rằng “các yếu tố cảm nhận thực sự” không phải mắt, tai vật lý… mà là năm pasāda rūpa: cakkhu, sota, ghāna, jivhā kāya. Xem “Mind and Matter – Buddhist Analysis.”

The Blind Woman Who Could See With an Out-of-Body Experience

Người Phụ Nữ Mù Có Thể “Thấy” Trong Trải Nghiệm Ngoài Thân

  1. The following real-life account provides a good understanding of the workings of the gandhabba in a human body versus outside.

Câu chuyện có thật sau đây giúp hiểu rõ cách vận hành của gandhabba khi ở trong thân người so với khi ở bên ngoài.

  • In some cases, people are born with the cakkhu pasāda rūpa in good condition, but the optic nerve (or the physical eye itself) may be damaged. In that case, they cannot see because the brain is not getting a signal from the eyes.

Có những trường hợp, người ta sinh ra với cakkhu pasāda rūpa còn tốt nhưng dây thần kinh thị giác (hoặc bản thân con mắt) bị hỏng. Khi đó họ không thể nhìn vì não không nhận được tín hiệu từ mắt.

  • But if the gandhabba can come out of the body, it can see by itself. The following video clearly illustrates this situation.

Nhưng nếu gandhabba có thể ra khỏi thân, nó có thể tự nhìn. Video sau minh họa rõ tình huống này.

WebLink: youtube: Near Death Experience – Blind woman ‘sees’ while out of body

  1. Note that she had “never seen anything” in her life. It seems that either her physical eyes or the optic nerve/visual cortex in the brain had been damaged at birth. But the cakkhu pasāda rūpa was fully functional. That is why she could see when her gandhabba came out of her body. (She came out of the physical body with her manomaya kāya or her gandhabba; that is what an Out-of-Body Experience means.)

Lưu ý rằng cả đời cô ấy “chưa từng thấy gì”. Có vẻ hoặc mắt vật lý của cô, hoặc dây thần kinh thị giác/vỏ não thị giác đã bị tổn thương từ khi sinh. Nhưng cakkhu pasāda rūpa vẫn hoạt động đầy đủ. Vì vậy cô có thể nhìn khi gandhabba rời khỏi thân. (Cô rời thân vật lý với manomaya kāya, tức gandhabba; đó chính là ý nghĩa của trải nghiệm ngoài thân.)

  • However, in other cases, one may be born blind because one may not be born with the cakkhu pasāda rūpa. In that case, even if the gandhabba comes out of the body, it would not be able to see because of the absence of the cakkhu pasāda rūpa.

Tuy nhiên, ở những trường hợp khác, có người sinh ra đã mù vì không có cakkhu pasāda rūpa. Khi ấy, ngay cả khi gandhabba rời khỏi thân, họ cũng không thể nhìn do thiếu cakkhu pasāda rūpa.

 

 

  • All five sensory faculties are in the gandhabba or the manomaya kāya. The brain must process those signals before sending them to the corresponding pasāda rūpa. Then that pasāda rūpa transfers the signal to the hadaya vatthu and it is the hadaya vatthu that really “sees”, “hears”, etc. See “Mind and Matter – Buddhist Analysis.”

Cả năm giác quan đều nằm trong gandhabba hoặc manomaya kāya. Não phải xử lý các tín hiệu đó trước khi gửi đến pasāda rūpa tương ứng. Rồi pasāda rūpa ấy chuyển tín hiệu sang hadaya vatthu, và chính hadaya vatthu mới thật sự “thấy”, “nghe”, v.v. Xem “Mind and Matter – Buddhist Analysis.”

  • All posts on gandhabba and the brain in this subsection: “Brain and the Gandhabba.” I highly recommend reading all those posts.

Tất cả các bài về gandhabba và não trong tiểu mục này: “Brain and the Gandhabba.” Tôi rất khuyến nghị đọc hết các bài đó.