Our Two Worlds: Material and Immaterial / Hai thế giới của chúng ta: vật chất và phi vật chất

14/05/2016; Revised 25/11/2016; 30/09/2019; 26/10/2019; 11/01/2020; 06/04/2021; 10/09/2022

14/05/2016; Sửa Đổi Ngày 25/11/2016; 30/09/2019; 26/10/2019; 11/01/2020; 06/04/2021; 10/09/2022

Material World and Immaterial (Invisible) World

Thế Giới Vật Chất Và Thế Giới Phi Vật Chất (Vô Hình)

  1. Our “human world” is made of two types of worlds:

“Thế giới loài người” của chúng ta gồm hai loại thế giới:

  • The material world (rūpa loka) that we experience with the five physical senses. This is our familiar world with living beings and inert objects. This world has sights, sounds, smells, tastes, and body touches. For example, we experience sights via, “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ,” where cakkhu viññāṇa is “seeing.” The other four sensory faculties have similar expressions; see, “Contact Between Āyatana Leads to Vipāka Viññāṇa.” [Here, paṭicca [paṭi + ca] means cakkhu and rūpa “getting together” or “making contact.”]

Thế giới vật chất (rūpa loka) mà ta trải nghiệm qua năm giác quan vật lý. Đây là thế giới quen thuộc với chúng sinh hữu tình và các vật vô tri. Thế giới này có sắc, thanh, hương, vị, xúc. Ví dụ, ta thấy hình sắc qua câu: “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ,” trong đó cakkhu viññāṇa là “sự thấy.” Bốn giác quan còn lại có các diễn đạt tương tự; xem “Contact Between Āyatana Leads to Vipāka Viññāṇa.” [Ở đây, paṭicca [paṭi + ca] có nghĩa cakkhu và rūpa “gặp nhau” hay “tiếp xúc.”]

  • We can also recall our memories from the past and any future hopes/expectations that we have. Those are in the “immaterial world” we experience with our minds. It is also called the “nāma loka” or “viññāṇa dhātu.”

Chúng ta cũng có thể hồi tưởng ký ức quá khứ và mọi hy vọng/kỳ vọng về tương lai. Những điều đó thuộc “thế giới phi vật chất” mà ta trải nghiệm bằng tâm. Nó còn được gọi là “nāma loka” hoặc “viññāṇa dhātu”.

  • Here we use the phrase “immaterial world” (“nāma loka”) to describe those dhammā that can only be experienced with the mind VIA, “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.” Those dhammā include concepts, memories, etc in addition to kamma bīja with energy; see below. [Here, paṭicca [paṭi + ca] means mana and dhamma “getting together” or “making contact.”]

Ở đây chúng ta dùng cụm “thế giới phi vật chất” (“nāma loka”) để chỉ các dhammā chỉ có thể được trải nghiệm bằng tâm QUA câu “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.” Những dhammā ấy gồm các khái niệm, ký ức, v.v. ngoài ra còn có kamma bīja mang năng lượng; xem bên dưới. [Ở đây, paṭicca [paṭi + ca] có nghĩa mana và dhamma “gặp nhau” hay “tiếp xúc”.]

  • Note that there are six types of dhātu. Five dhātus (pathavi, āpo, tejo, vāyo, ākāsa) are associated with the rūpa loka. The sixth, viññāṇa dhātu, is associated with the nāma loka.

Lưu ý có sáu loại dhātu. Năm dhātu (pathavi, āpo, tejo, vāyo, ākāsa) gắn với rūpa loka. Loại thứ sáu, viññāṇa dhātu, gắn với nāma loka.

  1. Those two worlds co-exist. We experience the immaterial (invisible) world or the nāma loka with the mind.

Hai thế giới đó cùng tồn tại. Chúng ta trải nghiệm thế giới phi vật chất (vô hình) hay nāma loka bằng tâm.

  • There are many things that we cannot “see” but we know to exist. For example, we know that radio and television signals are all around us, but we cannot “see” them. We need special equipment like radios or TVs to detect those signals.

Có nhiều thứ ta không thể “thấy” nhưng biết là tồn tại. Ví dụ, ta biết các tín hiệu radio và truyền hình luôn ở quanh ta, nhưng ta không “thấy” được. Ta cần thiết bị chuyên dụng như radio hay tivi để thu nhận các tín hiệu đó.

  • Those dhammā in the immaterial world are just like that. An organ (mana indriya) in the brain detects those dhammā. Scientists are not aware of that yet. They think memories, for example, are stored in the brain. They are not.

Các dhammā trong thế giới phi vật chất cũng như vậy. Một cơ quan (mana indriya) trong não phát hiện các dhammā ấy. Các nhà khoa học hiện chưa biết điều đó. Họ cho rằng ký ức, chẳng hạn, được lưu trữ trong não. Không phải vậy.

  • Those memories are in that immaterial world that co-exists with the material world. Just like a radio can detect those invisible radio waves, mana indriya detects those “unseen” memories (and kamma bīja that bring kamma vipāka.)

Những ký ức đó ở trong thế giới phi vật chất cùng tồn tại với thế giới vật chất. Cũng như radio có thể thu sóng vô tuyến vô hình, mana indriya phát hiện các ký ức “vô hình” ấy (và cả kamma bīja đưa đến kamma vipāka).

  • You may ask how can the mana indriya sort out all those different memories and uncountable kamma bīja from our past lives. Did you realize that there are numerous radio and TV signals in a major city? Just like a radio or a TV can sort out and detect those signals, mana indriya can detect various types of dhammā.

Bạn có thể hỏi làm sao mana indriya phân loại được mọi ký ức khác nhau và vô số kamma bīja từ các đời quá khứ của chúng ta. Bạn có nhận ra rằng ở một đô thị lớn có vô số tín hiệu radio và tivi không? Cũng như radio hay tivi có thể lọc và nhận các tín hiệu ấy, mana indriya có thể nhận các loại dhammā khác nhau.

What Are Dhammā?

Dhammā Là Gì?

  1. Dhammā are what we perceive with the mind with the help of the mana indriya in the brain. Dhammā include our memories in addition to kamma bīja (kamma bhava) that can bring vipāka.

Dhammā là những gì ta nhận biết bằng tâm với sự hỗ trợ của mana indriya trong não. Dhammā bao gồm ký ức của chúng ta ngoài ra còn có kamma bīja (kamma bhava) có thể mang lại vipāka.

  • Only those with iddhi (super-normal) powers can recall memories from past lives. However, some children can remember past lives; see “Evidence for Rebirth.”

Chỉ những người có năng lực iddhi (siêu thường) mới có thể gọi lại ký ức các đời trước. Tuy nhiên, một số trẻ em có thể nhớ đời sống quá khứ; xem “Evidence for Rebirth.”

  • But dhammā (plural) also includes numerous kamma bīja due to our past kamma (not only from the present life but from past lives.) They are not mere memories but have energies.

Nhưng dhammā (số nhiều) cũng bao gồm vô số kamma bīja do các kamma quá khứ của chúng ta (không chỉ từ đời hiện tại mà còn từ các đời trước). Chúng không chỉ là ký ức mà còn mang năng lượng.

  • Those dhammā with energy (i.e., kamma bīja) are CREATED by our minds. Specifically, they are created in javana citta. For deep analysis, see “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

Những dhammā có năng lượng (tức kamma bīja) được TÂM của chúng ta TẠO RA. Cụ thể, chúng được tạo trong javana citta. Phân tích sâu xem “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

  • Einstein’s famous equation relates tangible matter and energy: E = m * c2, where E is energy, c is the speed of light, and m is mass (amount of matter.)

Phương trình nổi tiếng của Einstein liên hệ vật chất hữu hình và năng lượng: E = m * c2, trong đó E là năng lượng, c là tốc độ ánh sáng, và m là khối lượng (lượng vật chất).

  • Just like plant seeds can germinate and become trees, our kamma bīja (kamma seeds; bīja means “seeds”) can germinate in our minds and bring kamma vipāka.

Cũng như hạt giống thực vật có thể nảy mầm thành cây, các kamma bīja (hạt giống kamma; bīja nghĩa là “hạt giống”) của chúng ta có thể nảy mầm trong tâm và đưa đến kamma vipāka.

Rūpa Can be Dense or Fine (Subtle)

Rūpa Có Thể Thô Hay Vi Tế

  1. Rūpa in Buddha Dhamma cannot be translated into English as “matter” or “solid objects.” As we discussed above, our kammic energies are “stored” in the immaterial world (viññāṇa dhātu) as very fine rūpa called dhammā.

Rūpa trong Dhamma của Đức Phật không thể dịch sang tiếng Anh đơn giản là “matter (vật chất)” hay “solid objects (vật thể rắn).” Như đã bàn ở trên, các năng lượng thuộc kamma của chúng ta được “lưu giữ” trong thế giới phi vật chất (viññāṇa dhātu) dưới dạng rūpa rất vi tế gọi là dhammā.

  • Of course, the word “dhamma” (without the long “a”) refers to a theory or teaching, like in Buddha Dhamma. Only when used in the plural, dhammā refer to those fine rūpā detected with the mind (with the help of mana indriya).

Tất nhiên, từ “dhamma” (không có nguyên âm “a” dài) chỉ một học thuyết hay giáo lý, như trong từ Dhamma của Đức Phật. Chỉ khi dùng ở số nhiều, dhammā mới chỉ những rūpā vi tế được nhận biết bằng tâm (với sự hỗ trợ của mana indriya).

  • Therefore, those very fine rūpā are called “dhammā.” They are “anidassanaṁ, appaṭighaṁ,” meaning they cannot be seen or detected by our five physical senses; see, “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.” They include “kammic energies” that can bring vipāka at any time.

Vì vậy, những rūpā rất vi tế đó được gọi là “dhammā.” Chúng là “anidassanaṁ, appaṭighaṁ,” nghĩa là không thể được thấy hay phát hiện bằng năm giác quan vật lý của chúng ta; xem “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.” Chúng bao gồm “năng lượng thuộc kamma” có thể đưa đến vipāka vào bất kỳ lúc nào.

  • They bring vipāka when the corresponding dhammā contact the mana indriya and get passed down to hadaya vatthu. Since viññāṇa dhātu pervades the universe, dhammā (or kamma bīja) can bring vipāka anywhere in the universe.

Chúng đưa đến vipāka khi các dhammā tương ứng tiếp xúc với mana indriya và được truyền xuống hadaya vatthu. Vì viññāṇa dhātu trùm khắp vũ trụ, các dhammā (hay kamma bīja) có thể đưa đến vipāka ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ.

  1. The five physical senses detect “dense” rūpā in the material world. Such dense rūpā are ABOVE the smallest “unit of matter” in Buddha Dhamma, called suddhaṭṭhaka. (A suddhaṭṭhaka is a billion times smaller than an atom in present-day science). The 28 types of rūpa consist of these “dense types of rūpa”; see “Rūpa (Material Form).”

Năm giác quan vật lý phát hiện các rūpā “thô” trong thế giới vật chất. Những rūpā thô như vậy LỚN HƠN “đơn vị vật chất” nhỏ nhất trong Dhamma của Đức Phật, gọi là suddhaṭṭhaka. (Một suddhaṭṭhaka nhỏ hơn nguyên tử theo khoa học hiện nay hàng tỷ lần). Hai mươi tám loại rūpa gồm các “loại rūpa thô” này; xem “Rūpa (Material Form).”

  • The fine rūpā are normally not called rūpa but dhammā to make the distinction. Dhammā are very fine rūpa which are at or below the suddhaṭṭhaka They are the rūpa grasped only by the mana indriya or dhammāyatana: “anidassanaṁ, appaṭighaṁ, dhammāyatana pariyapanna rūpaṁ.” For a more in-depth analysis, see, “What are Rūpa? – Dhammā are Rūpa too!.”

Các rūpā vi tế thường không gọi là rūpa mà gọi là dhammā để phân biệt. Dhammā là những rūpa rất vi tế ở mức suddhaṭṭhaka hoặc nhỏ hơn. Chúng là các rūpa chỉ được nắm bắt bởi mana indriya hoặc dhammāyatana: “anidassanaṁ, appaṭighaṁ, dhammāyatana pariyapanna rūpaṁ.” Phân tích sâu hơn xem “What are Rūpa? – Dhammā are Rūpa too!.”

All Thirty-One Realms Share the Immaterial World

Tất Cả Ba Mươi Mốt Cõi Cùng Chung Thế Giới Phi Vật Chất

  1. The immaterial world is like a fine fabric that connects all living beings. We cannot experience the immaterial world with the five physical senses (that we use to experience the material world.) All 31 realms share the immaterial world.

Thế giới phi vật chất giống như một tấm lưới mịn kết nối mọi chúng sinh. Chúng ta không thể trải nghiệm thế giới phi vật chất bằng năm giác quan vật lý (mà ta dùng để trải nghiệm thế giới vật chất). Cả 31 cõi cùng chung thế giới phi vật chất này.

  • In the four realms of the Arūpa loka, “dense matter” formed by suddhaṭṭhaka is absent (except for the hadaya vatthu of the arūpa Brahmā). Beings in the arūpa loka (arūpāvacara Brahmā) experience only dhammā. They do not have any five physical senses and only have the mind (hadaya vatthu).

Trong bốn cõi của Arūpa loka, “vật chất thô” do suddhaṭṭhaka cấu thành vắng mặt (ngoại trừ hadaya vatthu của rūpa Brahmā). Chúng sinh ở arūpa loka (arūpāvacara Brahmā) chỉ trải nghiệm các dhammā. Họ không có năm giác quan vật lý nào và chỉ có tâm (hadaya vatthu).

Bottom of Form

 

Click to open in pdf format: WebLink: PDF File: Two Types of Loka

Nhấp vào để mở định dạng pdf tại: WebLink: PDF File: Two Types of Loka

 

 

  • Thus the “material world” is accessible only to living beings in the kāma loka and rūpa loka.

Do đó, “thế giới vật chất” chỉ có thể được tiếp cận bởi các chúng sinh trong kāma loka và rūpa loka.

  • Arūpa loka means there are no “condensed rūpa” (like those in kāma loka and rūpa loka), but of course, dhammā are there (those arūpa beings can think and recall past events just like us).

Arūpa loka có nghĩa là không có “rūpa cô đặc” (như trong kāma loka và rūpa loka), nhưng tất nhiên dhammā vẫn hiện hữu (các chúng sinh arūpa có thể suy nghĩ và hồi tưởng những sự kiện quá khứ như chúng ta).

  • Furthermore, even in the rūpa loka only fine and subtle matter exists. There are no “solid objects” like trees. If we visit a rūpa loka, we may not see anything with our eyes.

Hơn nữa, ngay cả trong rūpa loka, chỉ tồn tại vật chất vi tế. Không có các “vật thể rắn” như cây cối. Nếu chúng ta đến rūpa loka, có thể sẽ không thấy gì bằng mắt.

The World in Terms of Dhātu

Thế Giới Xét Theo Dhātu

  1. Let us briefly discuss the main points depicted in the above chart. Everything in this world is made of six dhātu: pathavi, āpo, tejo, vāyo, ākāsa, and viññāṇa. Five of them constitute the “material world” and the viññāṇa dhātu represents the “immaterial world.”

Hãy thảo luận ngắn gọn về các điểm chính được mô tả trong sơ đồ trên. Mọi thứ trong thế giới này đều cấu thành từ sáu dhātu: pathavi, āpo, tejo, vāyo, ākāsa và viññāṇa. Năm yếu tố đầu tạo thành “thế giới vật chất”, còn viññāṇa dhātu đại diện cho “thế giới phi vật chất.”

  • By the way, ākāsa is not merely “empty space.” We will discuss this later.

Nhân tiện, ākāsa không chỉ đơn thuần là “không gian trống rỗng.” Chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn về điều này sau.

  • The basic building block for the material world is suddhaṭṭhaka. Not long ago, scientists thought that atoms were the building blocks, but now they say that even those elementary particles have structure. A suddhaṭṭhaka is much finer than any elementary particle.

Thành phần cơ bản cấu tạo nên thế giới vật chất là suddhaṭṭhaka. Không lâu trước đây, các nhà khoa học cho rằng nguyên tử là đơn vị cơ bản, nhưng nay họ đã phát hiện rằng ngay cả các hạt cơ bản cũng có cấu trúc. Một suddhaṭṭhaka còn vi tế hơn bất kỳ hạt cơ bản nào.

  • In the immaterial world (or the mental plane), there are the mental precursors to suddhaṭṭhaka. They are dhammā, gati, and Based on our gati, we make suddhaṭṭhaka in our javana citta; see, “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

Trong thế giới phi vật chất (hay bình diện tâm), có những tiền nhân tâm lý của suddhaṭṭhaka. Đó là dhammā, gati và bhava. Dựa trên gati của mình, chúng ta tạo ra suddhaṭṭhaka trong javana citta; xem “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

Five Physical Senses Detect Dense Rūpa and Mana Indriya Detects Dhammā

Năm Giác quan Vật Lý Cảm Nhận Rūpa Thô và Mana Indriya Cảm Nhận Dhammā

  1. We have five sense faculties to experience the material world: eyes, ears, tongue, nose, and body. They pass down the sensory inputs to the five pasāda rūpa located in the gandhabba or the manomaya kāya (which overlaps our physical body); see “Gandhabba (Manomaya Kāya).” By the way, gandhabba is not a Mahāyāna concept: “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka.”

Chúng ta có năm giác quan để trải nghiệm thế giới vật chất: mắt, tai, lưỡi, mũi và thân. Chúng truyền các tín hiệu giác quan đến năm pasāda rūpa nằm trong gandhabba hoặc manomaya kāya (thân tâm vi tế chồng lên thân vật lý của ta); xem “Gandhabba (Manomaya Kāya).” Nhân đây, gandhabba không phải là khái niệm của Mahāyāna; xem “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka.”

  • On the mental side, we have a mana indriya in the brain to sense the immaterial world; see, “Brain – Interface between Mind and Body.”

Về mặt tâm, ta có mana indriya trong não để cảm nhận thế giới phi vật chất; xem “Brain – Interface between Mind and Body.”

  • Based on those five physical sense contacts with the material world and the contacts of the mana indriya with the immaterial world, our thoughts arise in the hadaya vatthu (also located in the gandhabba or the manomaya kāya); see, “Does any Object (Rūpa) Last only 17 Thought Moments?.”

Dựa trên năm tiếp xúc giác quan vật lý với thế giới vật chất và các tiếp xúc của mana indriya với thế giới phi vật chất, tư tưởng của ta khởi lên tại hadaya vatthu (cũng nằm trong gandhabba hay manomaya kāya); xem “Does any Object (Rūpa) Last only 17 Thought Moments?.”

  • That is a very brief description of the chart above. One could gain more information by clicking on the links provided and using the “Search” button. Don’t worry too much if all this does not make complete sense.

Đó là mô tả ngắn gọn của sơ đồ trên. Bạn có thể tìm hiểu thêm bằng cách nhấp vào các liên kết đã dẫn và sử dụng nút “Search”. Đừng quá lo nếu hiện tại mọi điều này chưa hoàn toàn dễ hiểu.

  1. Thus it is important to understand that there are two types of rūpa in our human world:

Do đó, điều quan trọng là phải hiểu rằng có hai loại rūpa trong thế giới con người của chúng ta:

  • Tangible matter in the material world that we experience with the help of the five physical senses.

Vật chất hữu hình trong thế giới vật chất mà ta cảm nhận nhờ năm giác quan vật lý.

  • Then there are unseen (anidassana), and intangible (appaṭigha) rūpa such as thoughts, perceptions, plans, and memories. They are dhammā, mano rūpa, gati, bhava, nāma gotta. It is the mana indriya in the brain that helps detect subtle rūpa.

Sau đó là các rūpa không nhìn thấy (anidassana) và vô hình (appaṭigha), như tư tưởng, nhận thức, kế hoạch và ký ức. Đó là dhammā, mano rūpa, gati, bhava, nāma gotta. Chính mana indriya trong não giúp nhận ra các rūpa vi tế này.

  • Both types of rūpa are eventually detected and experienced by the mind (hadaya vatthu). The hadaya vatthu is not located in the brain but in the body of gandhabba and overlaps the physical heart region of the body; see “Gandhabba (Manomaya Kāya).”

Cả hai loại rūpa cuối cùng đều được tâm (hadaya vatthu) nhận biết và trải nghiệm. Hadaya vatthu không nằm trong não mà trong thân gandhabba và chồng lên vùng tim vật lý của cơ thể; xem “Gandhabba (Manomaya Kāya).”

  • Comprehending this “wider picture” may need a little bit of effort. The world is complex and much of the complexity is associated with the mind. The seat of the mind is not in the brain but the fine body (manomaya kāya) of the

Để hiểu “bức tranh rộng lớn” này có thể cần một chút nỗ lực. Thế giới rất phức tạp, và phần lớn sự phức tạp ấy gắn liền với tâm. Tâm không trú trong não mà ở nơi thân vi tế (manomaya kāya) của gandhabba.

The Dream World

Thế Giới Trong Giấc Mơ

  1. Another part of our immaterial world is the dream world.

Một phần khác của thế giới phi vật chất của chúng ta là thế giới trong giấc mơ.

  • When we dream, we “see” people and material objects. But we cannot say where those are located. They do not have a physical location; they are in the immaterial plane. And we do not “see” those dreams with our eyes, but with the mana indriya.

Khi mơ, chúng ta “thấy” người và các vật thể vật chất. Nhưng ta không thể nói chúng ở đâu. Chúng không có vị trí vật lý; chúng thuộc bình diện phi vật chất. Và ta không “nhìn” những giấc mơ ấy bằng mắt, mà bằng mana indriya.

  • When we sleep, our five physical senses do not function. But the mana indriya in the brain does. Scientists do confirm that parts of our brains are active during sleep.

Khi ngủ, năm giác quan vật lý của ta không hoạt động. Nhưng mana indriya trong não thì có. Các nhà khoa học xác nhận rằng một số phần của não bộ vẫn hoạt động trong khi ngủ.

  • What is experienced in Arūpa Loka is somewhat similar to seeing dreams. Of course, one can contemplate in the arūpa loka. However, one is unable to read or listen. Therefore, one cannot learn Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta) from a Noble Person. Thus, one is unable to attain the Sotāpanna stage of Nibbāna in the arūpa But if one had attained the Sotāpanna stage before being born there, one can meditate and attain higher stages of Nibbāna.

Những gì được trải nghiệm trong Arūpa Loka phần nào giống như thấy mộng. Dĩ nhiên, ở arūpa loka, ta có thể quán chiếu. Tuy nhiên, ta không thể đọc hay nghe. Do đó, không thể học Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta) từ một Bậc Thánh. Vì vậy, không thể chứng bậc Sotāpanna của Nibbāna ở arūpa loka. Nhưng nếu đã chứng Sotāpanna trước khi sinh về đó, thì có thể hành thiền và đạt các bậc cao hơn của Nibbāna.

Dense Rūpa for “Rough” Sensory Contacts

Rūpa Thô đặc Cho Những Tiếp Xúc Giác Quan “Thô”

  1. There is another way to look at our sense experiences. Living beings are attached to this world because they expect to gain pleasure from this world. Such pleasures are obtained by making contact with rūpa. Those rūpā come at various densities.

Có một cách khác để nhìn các trải nghiệm giác quan của chúng ta. Chúng sinh bám giữ thế giới này vì kỳ vọng hưởng lạc từ thế giới này. Những lạc ấy có được khi tiếp xúc với rūpa. Các rūpā ấy có nhiều mức độ “thô đặc”.

  • Bodily pleasures are achieved by the strongest contact (touch). Then come taste, smell, vision, and sounds, becoming less dense in that order.

Lạc thuộc thân đạt được qua tiếp xúc mạnh nhất (xúc chạm). Kế đến là vị, hương, sắc và thanh, mức “thô đặc” giảm dần theo thứ tự đó.

  • The softest contact is via dhamma. This is our immaterial world; we think, plan for the future, remember things from the past, etc: We do this all the time, and we can do it anywhere. Another way to say this is to say that we engage in mano, vacī, and kāya saṅkhāra.

Tiếp xúc “mềm nhất” là qua dhamma. Đây là thế giới phi vật chất của ta; ta suy nghĩ, lập kế hoạch cho tương lai, hồi tưởng chuyện quá khứ, v.v.: ta làm điều này mọi lúc, ở bất cứ nơi đâu. Cách nói khác là ta hành các saṅkhāra thuộc mano, vacī và kāya.

  • Thus, contacts by the mana indriya with dhammā in the mano loka constitute a significant portion of sense experience. That involves mano rūpa (dhamma, gati, bhava, nāma gotta) in the mind plane or the immaterial world.

Vì thế, các tiếp xúc của mana indriya với dhammā trong mano loka cấu thành một phần đáng kể của trải nghiệm giác quan. Điều đó liên quan đến mano rūpa (dhamma, gati, bhava, nāma gotta) trong bình diện tâm hay thế giới phi vật chất.

  1. The way a living being experiences and enjoys (or suffers) sense contacts is different in the three main categories of existence: kāma loka, rūpa loka, and arūpa loka.

Cách một chúng sinh trải nghiệm và hưởng (hay chịu) các tiếp xúc giác quan khác nhau trong ba hạng chính của hiện hữu: kāma loka, rūpa loka và arūpa loka.

  • Most “rough” or “olārika” sense contacts are available only in the kāma loka. Even here, they are roughest in the niraya (the lowest realm) and generally reduce in “roughness” as moving up to the human realm, the fifth. The six deva realms are significantly “softer” than the human realm; deva bodies are much finer (like gandhabba) and a normal human cannot see them.

Phần lớn các tiếp xúc giác quan “thô” hay “olārika” chỉ có ở kāma loka. Ngay ở đây, chúng thô nhất tại niraya (cõi thấp nhất) và nói chung giảm “độ thô” khi đi lên tới cõi người, cõi thứ năm. Sáu cõi deva “mềm” hơn đáng kể so với cõi người; thân của deva vi tế hơn nhiều (như gandhabba) và người bình thường không thấy được.

  • The roughest sense contacts (touch, taste, and smell) are absent in the rūpa loka. Only visual and sound contacts are available for the Brahmā in the 16 rūpa loka realms, in addition to the mind.

Những tiếp xúc thô nhất (xúc, vị và hương) vắng mặt trong rūpa loka. Brahmā ở 16 cõi rūpa loka chỉ có các tiếp xúc qua hình ảnh và âm thanh, ngoài tâm.

  • Those arūpi Brahmā in the four arūpa loka realms has only the mind, with which they experience only the finest rūpa (dhamma) that are below the suddhaṭṭhaka

Các arūpi Brahmā ở bốn cõi arūpa loka chỉ có tâm, nhờ đó họ chỉ trải nghiệm các rūpa vi tế nhất (dhamma) ở dưới mức suddhaṭṭhaka.

  • Those Brahmā in both rūpi and arūpi loka have seen the perils of “kāma assāda” that are available in the kāma loka. They had enjoyed jhānic pleasures as humans and valued those more than the “rough” sensory pleasures. They have given up the craving for those “rough” sense pleasures that are available via touch, taste, and smell.

Brahmā ở cả rūpi và arūpi loka đã thấy hiểm họa của “kāma assāda” có trong kāma loka. Họ từng hưởng lạc jhāna khi còn là người và trân trọng các lạc ấy hơn lạc giác quan “thô”. Họ đã xả bỏ ưa thích đối với những lạc “thô” qua xúc, vị và hương.

Stronger Cravings Match “Denser Sensory Contacts”

Khát Khao Mạnh Hơn Tương Ứng Với “Tiếp Xúc Giác Quan Thô Đặc Hơn”

  1. We can get an idea of such “soft” and “rough” sense contacts with the following example. Suppose someone (a grandmother is a good example) watches her grandchild laughing, dancing, and having a good time.

Ta có thể hình dung các tiếp xúc “mềm” và “thô” qua ví dụ sau. Giả sử một người (bà ngoại/nội là ví dụ hay) quan sát cháu mình cười đùa, nhảy nhót và vui vẻ.

  • At first, she may be watching from a distance and enjoying the sight of the baby having fun.

Ban đầu, bà có thể đứng xa nhìn và thưởng thức cảnh đứa bé đang vui chơi.

  • Then she goes and hugs the child. It is not enough to just watch from a distance; she needs to touch the child.

Sau đó bà tiến lại và ôm đứa trẻ. Chỉ đứng xa nhìn là không đủ; bà cần chạm vào đứa trẻ.

  • If the child keeps wiggling and having a good time, the grandmother may start kissing the child. In some cases, the grandmother may start tightening the hold on the child, even without realizing it and may make the child cry out in pain.

Nếu đứa trẻ cứ ngọ nguậy và vui đùa, bà có thể bắt đầu hôn đứa trẻ. Trong một số trường hợp, bà có thể vô thức siết chặt đứa trẻ hơn và có thể khiến đứa trẻ bật khóc vì đau.

  • This last scenario exemplifies how the craving for extreme sense pleasures can instead lead to suffering. Of course, the craving for oḷārika sense pleasures leads to most suffering.

Kịch bản sau cùng này minh họa cách mà sự khát khao đối với các lạc giác quan cực độ lại dẫn đến khổ. Dĩ nhiên, sự khát khao đối với các lạc giác quan oḷārika dẫn đến phần lớn khổ đau.

  • But suffering is there even in the rūpi and arūpi Even at the level of arūpi Brahmā — where the attachment is only to pleasures of the softest of the rūpa (dhamma) —, there is inevitable suffering at the end when they have to give up that existence and come back down to the human realm.

Nhưng khổ vẫn hiện hữu ngay cả ở các cõi rūpi và arūpi. Ngay ở mức của arūpi Brahmā — nơi chấp trước chỉ còn đối với lạc của loại rūpa mềm nhất (dhamma) — vẫn có nỗi khổ tất yếu vào cuối cùng khi họ phải từ bỏ hữu ấy và trở xuống cõi người.

Less Suffering in “Less-Dense” Realms

Ít Khổ Hơn Ở Những Cõi “Ít Thô Đặc” Hơn

  1. Therefore, the level of inevitable suffering goes hand in hand with the “denseness” of the sensory contact.

Vì vậy, mức độ khổ tất yếu đi đôi với “độ thô đặc” của tiếp xúc giác quan.

  • Pains, aches, and illnesses are there only in the lowest five realms (including the human realm) where there are dense physical bodies. In the higher realms, those are absent. This is the price even humans pay for being able to experience “rough contact pleasures” such as a body massage, sex, eating, and smelling.

Đau đớn, nhức mỏi và bệnh tật chỉ có ở năm cõi thấp nhất (kể cả cõi người) nơi có các thân vật lý thô đặc. Ở các cõi cao hơn, những điều đó vắng mặt. Đây là cái giá ngay cả con người cũng phải trả để có thể hưởng các “lạc do tiếp xúc thô” như xoa bóp thân, ái dục, ăn uống và ngửi hương.

  • We humans in the kāma loka enjoy close and “rough” sense pleasures. In addition, most times, just enjoying sense pleasures is not enough; we like to “own” those things that provide sense pleasures. For example, people like to “own” vacation homes; it is not enough to rent a house in that location just for a visit.

Chúng ta, loài người trong kāma loka, ưa thích những lạc giác quan gần gũi và “thô.” Thêm nữa, phần lớn thời gian, chỉ hưởng lạc giác quan là chưa đủ; chúng ta còn muốn “sở hữu” những thứ mang lại lạc giác quan. Chẳng hạn, người ta muốn “sở hữu” nhà nghỉ dưỡng; thuê một căn ở nơi đó để ghé thăm thôi là chưa đủ.

  • This tendency to “own” pleasurable things also goes down in higher realms. There are fewer material things to “own” in Brahma lokas, especially in the arūpi Brahma

Khuynh hướng “sở hữu” những thứ đem lại khoái lạc này cũng giảm dần ở các cõi cao. Có ít vật chất để “sở hữu” trong các Brahma loka, đặc biệt ở các cõi arūpi Brahma.

Connection to Magga Phala

Liên Hệ Với Magga Phala

  1. As one attains higher stages of Nibbāna, craving for “rough” sensory pleasures and the desire to “own” things go down.

Khi chứng đạt các bậc cao hơn của Nibbāna, sự khát khao đối với các lạc giác quan “thô” và mong muốn “sở hữu” sự vật sẽ giảm xuống.

  • A Sotāpanna has only “seen” the perils of kāma assāda; he/she still enjoys them. Thus, he/she will still be born in the kāma loka realms, but not in the apāyā.

Một Sotāpanna chỉ “thấy” hiểm họa của kāma assāda; người ấy vẫn còn hưởng chúng. Do đó, người ấy vẫn sinh vào các cõi kāma loka, nhưng không vào các apāyā.

  • A Sakadāgāmī may still enjoy “kāma assāda,” but has no desire to “own” those things that provide pleasures. It is enough to live in a nice rented house, and there is no desire to own a nice house. A Sakadāgāmī can see the burden of “owning things.” A Sakadāgāmī will be born only in realms above the human realm.

Một Sakadāgāmī có thể vẫn còn hưởng “kāma assāda”, nhưng không còn mong muốn “sở hữu” các thứ đem lại khoái lạc. Chỉ cần sống trong một căn nhà thuê dễ chịu là đủ, và không còn ham muốn sở hữu một căn nhà đẹp. Một Sakadāgāmī thấy được gánh nặng của việc “sở hữu đồ vật.” Sakadāgāmī sẽ chỉ sinh vào các cõi trên cõi người.

  • An Anāgāmī has no special interest in enjoying kāma assāda. He/she eats to quench the hunger (but will eat delicious foods when offered.) An Anāgāmī will never prioritize sensory pleasure over the “pleasure of Dhamma” (of course, Dhamma here means Buddha Dhamma). He/she will be born in the rūpa realms reserved for the Anāgāmīs upon death, and will not be reborn in kāma loka.

Một Anāgāmī không còn hứng thú đặc biệt với việc hưởng kāma assāda. Họ ăn để dập tắt đói (nhưng sẽ thọ thực món ngon khi được dâng). Một Anāgāmī sẽ không bao giờ đặt lạc giác quan lên trên “lạc của Dhamma” (dĩ nhiên, Dhamma ở đây là Dhamma của Đức Phật). Họ sẽ sinh về các cõi rūpa dành cho Anāgāmī khi thân hoại, và không tái sinh trong kāma loka.

  • An Arahant has no desire for even jhānic pleasures, and will not be born anywhere in the 31 realms upon death.

Một Arahant không còn dục vọng ngay cả với các hỷ lạc jhāna, và khi mạng chung sẽ không sinh ở bất cứ nơi nào trong 31 cõi.

  1. Each habitable planetary system (cakkavāla) has all 31 realms of existence, even though we can only see two realms (human and animal) in ours.

Mỗi hệ hành tinh có thể cư trú (cakkavāla) đều có đủ 31 cõi hiện hữu, dù trong hệ của chúng ta chỉ thấy được hai cõi (người và loài vật).

  • This is discussed next: “31 Realms Associated with the Earth”, ………

Điều này được bàn tiếp theo trong: “31 Realms Associated with the Earth”, ………