May 13, 2017; revised November 4, 2017; March 20, 2021; January 15, 2022; December 8, 2022; March 29, 2023; May 12, 2023; March 5, 2024; April 23, 2024
Ngày 13/05/2017; sửa ngày 04/11/2017; ngày 20/03/2021; ngày 15/01/2022; ngày 08/12/2022; ngày 29/03/2023; ngày 12/05/2023; ngày 05/03/2024; ngày 23/04/2024
All our conscious thoughts start with one of the six senses getting input from the external world. We detect six types of rūpa “out there” in the world with those six sense faculties. Dhammā represents the sixth type of rūpa that “cannot be seen or touched” (anidassana/appaṭigha.) These are not included in the 28 types of rūpa.
Mọi suy nghĩ có ý thức của chúng ta đều bắt đầu khi một trong sáu căn nhận tín hiệu từ thế giới bên ngoài. Với sáu căn đó, chúng ta nhận biết sáu loại rūpa “ở ngoài kia” trong thế giới. Dhammā là loại rūpa thứ sáu, “không thể thấy hay chạm được” (anidassana/appaṭigha). Chúng không được tính trong 28 loại rūpa.
Dhammā Are Subtle Rūpa Below Suddhaṭṭhaka
Dhammā là Rūpa Vi tế Nằm dưới mức Suddhaṭṭhaka
- Many people think rūpa means just “material things” that we can see in the world, but anything we sense through our six senses is a rūpa. I will systematically explain this.
Nhiều người nghĩ rūpa chỉ là “vật chất” mà ta thấy được trong thế giới, nhưng bất cứ thứ gì ta cảm nhận qua sáu căn đều là rūpa. Tôi sẽ giải thích điều này một cách có hệ thống.
- Those things that we detect with our five physical senses are what we can call “dense rūpa” made of suddhaṭṭhaka, i.e., they are made of mahā bhūta (paṭhavī, āpo, tejo, vāyo) and are located in ākāsa dhātu; see, “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”
Những thứ ta nhận biết bằng năm giác quan vật lý được gọi là “rūpa đậm đặc,” được cấu thành từ suddhaṭṭhaka, tức là được tạo từ mahā bhūta (paṭhavī, āpo, tejo, vāyo) và nằm trong ākāsa dhātu; xem “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”
- Such rūpa that we detect with the mana indriya are called “dhammā.” These are just energies and have not condensed to the suddhaṭṭhaka level, i.e., they are below the suddhaṭṭhaka
Những rūpa ta nhận biết bằng mana indriya được gọi là “dhammā.” Chúng chỉ là các dạng năng lượng và chưa ngưng tụ đến mức suddhaṭṭhaka, tức là nằm dưới mức suddhaṭṭhaka.
- It is good to remember that Dhamma refers to a doctrine (like in Buddha Dhamma,) and dhammā (with a long “a”) refers to such fine (or subtle) rūpā.
Cần nhớ rằng Dhamma chỉ giáo pháp (như trong Dhamma của Đức Phật), còn dhammā (với “a” dài) chỉ các rūpa vi tế đó.
- Let us discuss those two types of rūpa in detail first.
Trước hết, chúng ta sẽ bàn chi tiết về hai loại rūpa này.
The Six Sense Faculties Detect Six Types of Rūpa
Sáu Căn Nhận Biết Sáu Loại Rūpa
- All things that we experience through our SIX senses are rūpa. However, only the first five types of sensory inputs come through the five physical senses (eyes, ears, nose, tongue, and body). Science is unaware of the SIXTH one, called mana indriya (located in the brain). But all six are clearly stated in the Cha Chakka Sutta, as discussed below.
Tất cả những gì ta trải nghiệm qua SÁU căn đều là rūpa. Tuy nhiên, chỉ có năm loại đầu tiên đi qua năm giác quan vật lý (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân). Khoa học không biết đến căn THỨ SÁU, gọi là mana indriya (nằm trong não). Nhưng cả sáu căn đều được nêu rõ trong Cha Chakka Sutta như sẽ bàn dưới đây.
- All six types of rūpa are EXPERIENCED by the mind, i.e., with citta (thoughts) with cetasika (mental factors) in them.
Cả sáu loại rūpa đều được tâm TRẢI NGHIỆM, tức là qua citta (tâm) cùng với các cetasika (tâm sở).
- For details of how the mind experiences the sensory inputs that come through the six “sense doors,” see “Brain – Interface between Mind and Body.”
Để biết chi tiết cách tâm trải nghiệm các đối tượng đi qua sáu “cửa giác quan,” xem “Brain – Interface between Mind and Body.”
Dense Rūpa Made With Suddhaṭṭhaka
Rūpa Đậm đặc Được tạo từ Suddhaṭṭhaka
- Those we experience through our FIVE physical senses (eyes, ears, nose, tongue, and the body) are “dense rūpa.” They have suddhaṭṭhaka made of the four great elements or “cattāro mahā bhūta.”
Những gì ta trải nghiệm qua NĂM giác quan vật lý (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân) là “rūpa đậm đặc.” Chúng có suddhaṭṭhaka được cấu thành từ bốn đại, hay “cattāro mahā bhūta.”
- Those five kinds of rūpa are all in our “material world,” the world we experience with the five physical senses.
Năm loại rūpa đó đều nằm trong “thế giới vật chất” của chúng ta, tức là thế giới ta trải nghiệm bằng năm giác quan vật lý.
- We touch with our body or see with our eyes the rūpa familiar to everyone. They are “rūpa rūpa” or “vaṇṇa rūpa” (varna rūpa in Sinhala or Sanskrit) to distinguish from the other four types.
Ta chạm bằng thân hay thấy bằng mắt những rūpa quen thuộc với mọi người. Chúng được gọi là “rūpa rūpa” hay “vaṇṇa rūpa” (varna rūpa trong Sinhala hay Sanskrit) để phân biệt với bốn loại khác.
- However, we need light to “see” those “rūpa rūpa.” Light consists of tiny particles called photons. Those photons have tiny masses due to their energies.
Tuy nhiên, để “thấy” những “rūpa rūpa” ấy, ta cần ánh sáng. Ánh sáng gồm các hạt cực nhỏ gọi là photon, và các photon này có khối lượng rất nhỏ do năng lượng của chúng.
- Now, let us look at the other four types of rūpa that we detect with our ears, noses, and tongues.
Bây giờ, hãy xem bốn loại rūpa khác mà ta nhận biết bằng tai, mũi và lưỡi.
- It is easy to see that what we taste is also “rasa rūpa,” i.e., solid food or liquids.
Dễ thấy rằng những gì ta nếm cũng là “rasa rūpa,” tức là thức ăn rắn hay chất lỏng.
- Scents are very small particulates detected with the nose. So, they are also “rūpa” (gandha rūpa).
Mùi hương là những hạt cực nhỏ được mũi phát hiện, nên chúng cũng là “rūpa” (gandha rūpa).
- When we hear sounds, our ears detect disturbances in the air caused by that sound. Sound, therefore, involves energy, just like light. Sometimes sound energy is attributed to energy packets called “phonons.”
Khi ta nghe âm thanh, tai ta phát hiện các dao động trong không khí do âm thanh gây ra. Vì thế, âm thanh cũng liên quan đến năng lượng giống như ánh sáng. Đôi khi, năng lượng của âm thanh được xem như các gói năng lượng gọi là “phonon.”
Dense Rūpa Are in Kāma and Rūpa Loka
Rūpa Đậm Đặc Nằm Trong Kāma Loka và Rūpa Loka
- Therefore, the detection of rūpa in kāma loka and rūpa loka involves matter or energy, and all those are above the suddhaṭṭhaka stage.
Do đó, việc nhận biết rūpa trong kāma loka và rūpa loka liên quan đến vật chất hay năng lượng, và tất cả đều nằm trên mức suddhaṭṭhaka.
- The light particles or photons are also made of suddhaṭṭhaka.
Đúng vậy, các hạt ánh sáng hay photon cũng được tạo bởi suddhaṭṭhaka.
- They are above the suddhaṭṭhaka stage, so one can see how minute a suddhaṭṭhaka is; it is much, much smaller than an atom in modern science.
Vì chúng nằm trên mức suddhaṭṭhaka, ta có thể thấy suddhaṭṭhaka nhỏ bé đến mức nào; nó nhỏ hơn rất nhiều so với nguyên tử trong khoa học hiện đại.
- For example, a photon in the visible range (a suddhaṭṭhaka) is a billion times less massive than a hydrogen atom, the smallest atom. That is like the mass difference between a grain of sand and an average airplane.
Ví dụ, một photon trong vùng ánh sáng nhìn thấy được nhẹ hơn một tỷ lần so với nguyên tử hydro, là nguyên tử nhỏ nhất. Sự chênh lệch đó giống như giữa một hạt cát và một chiếc máy bay cỡ trung bình.
- A suddhaṭṭhaka could be a billion times smaller than that photon.
Một suddhaṭṭhaka còn có thể nhỏ hơn photon đó đến một tỷ lần nữa.
Science Verified Light as a Type of Rūpa Recently
Khoa Học Gần Đây Đã Xác Nhận Ánh Sáng Là Một Loại Rūpa
- That is another example of how Buddha was ahead of modern science 2500 years ago. He had categorized all five “objects” sensed by the five physical senses as “rūpa” made up of suddhaṭṭhaka. Only about 100 years ago, with the advent of quantum mechanics, science identified photons as particles.
Đây là một ví dụ khác cho thấy Đức Phật đã đi trước khoa học hiện đại 2500 năm. Ngài đã phân loại tất cả năm “đối tượng” được năm giác quan vật lý cảm nhận là “rūpa” cấu thành từ suddhaṭṭhaka. Chỉ khoảng 100 năm trước, với sự ra đời của cơ học lượng tử, khoa học mới xác định photon là hạt.
- Even many physicists did not accept the particle nature of light until the single-photon detection experiments of Grainger, Roger, and Aspect in 1986: Grainger et al.-Experimental Evidence for a Photon Anticorrelation Effect-1986.
Thậm chí nhiều nhà vật lý còn không chấp nhận bản chất hạt của ánh sáng cho đến các thí nghiệm phát hiện photon đơn lẻ của Grainger, Roger và Aspect năm 1986: Grainger et al.-Experimental Evidence for a Photon Anticorrelation Effect-1986.
- It is now accepted that light is made up of particles called photons. See “Quantum Mechanics and Dhamma.”
Hiện nay, người ta đã chấp nhận rằng ánh sáng được tạo bởi các hạt gọi là photon. Xem “Quantum Mechanics and Dhamma.”
Experiencing Dhammā Requires Only the Mind
Trải Nghiệm Dhammā Chỉ Cần Đến Tâm
- Now, let us consider what else we experience other than those detected with the five physical senses. Imagine someone trapped in a cell with soundproof walls, no light inside, and nothing in that room except its walls.
Bây giờ, hãy xét những gì ta còn trải nghiệm ngoài những thứ được năm giác quan vật lý phát hiện. Hãy tưởng tượng một người bị nhốt trong một căn phòng kín, tường cách âm, không có ánh sáng, và không có gì ngoài những bức tường.
- That person can only touch the walls. He cannot see, hear, smell, or taste anything.
Người ấy chỉ có thể chạm vào tường, không thể thấy, nghe, ngửi hay nếm bất cứ thứ gì.
- But touch is not the only sensory experience he has. He can think about anything he wants to. He can think about past events and what can take place in the future.
Nhưng xúc chạm không phải là trải nghiệm giác quan duy nhất của họ. Người ấy vẫn có thể nghĩ về bất cứ điều gì mình muốn, nghĩ về các sự kiện trong quá khứ và những gì có thể xảy ra trong tương lai.
- Those thoughts do not come at random but due to kamma vipāka. Of course, one can willingly recall them too. They are one’s memories and future hopes, among others. That is the part that most people don’t even consider.
Những suy nghĩ đó không đến một cách ngẫu nhiên mà do kamma vipāka. Dĩ nhiên, họ cũng có thể chủ ý hồi tưởng lại. Đó là ký ức và hy vọng tương lai của mỗi người, trong số những thứ khác. Đây là phần mà đa số mọi người thậm chí không để ý tới.
- As we discussed above, those are the finer rūpa detected by the mind lie below the suddhaṭṭhaka They are detected by the mana indriya in the brain (another fact unknown to science) and subsequently sensed by the mind.
Như đã bàn ở trên, đó là các rūpa vi tế được tâm nhận biết, nằm dưới mức suddhaṭṭhaka. Chúng được mana indriya trong não phát hiện (một điều nữa mà khoa học chưa biết) và sau đó được tâm cảm nhận.
- Kamma bīja — generated by our minds (via our thoughts) — are also part of dhammā. They bring kamma vipāka back from time to time. We think of these as “random thoughts” that come to us about things and people.
Kamma bīja — do chính tâm chúng ta tạo ra (qua các suy nghĩ) — cũng là một phần của dhammā. Chúng mang kamma vipāka trở lại theo thời gian. Ta thường xem đó là những “ý nghĩ ngẫu nhiên” xuất hiện về sự vật hay con người.
- Such dhammā are not coarse enough to be “seeing” even with abhiññā powers and do not make contact with the other five coarse senses. Thus they are called, “anidassanaṁ appaṭighaṁ dhammāyatana pariyāpanna rūpaṁ.”
Những dhammā này không đủ thô để “thấy được” ngay cả với năng lực abhiññā và không tiếp xúc với năm giác quan thô khác. Vì vậy chúng được gọi là “anidassanaṁ appaṭighaṁ dhammāyatana pariyāpanna rūpaṁ.”
- Here, “anidassana” means “cannot be seen,” and “appaṭigha” means “cannot be touched or sensed with even the finest instrument.” And, “dhammāyatana pariyāpanna rūpam” means “rūpa that belong to dhammāyatana”; see, “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.”
Ở đây, “anidassana” nghĩa là “không thể thấy,” “appaṭigha” nghĩa là “không thể chạm hay cảm nhận ngay cả với dụng cụ tinh vi nhất,” và “dhammāyatana pariyāpanna rūpam” nghĩa là “những rūpa thuộc về dhammāyatana”; xem “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.”
Five Physical Senses and the Mana Indriya
Năm Giác Quan Vật Lý và Mana Indriya
- We see a person when light reflected off that person comes to our eyes. A sound is heard when the air disturbances due to that sound reach our ears. We smell a scent when tiny particulates of scent reach our noses. When food particles make contact with our tongues, we taste the food.
Ta thấy một người khi ánh sáng phản chiếu từ người đó đi vào mắt ta. Ta nghe âm thanh khi các dao động không khí do âm thanh gây ra đến tai ta. Ta ngửi mùi khi các hạt mùi cực nhỏ đến mũi ta. Khi các hạt thức ăn tiếp xúc với lưỡi, ta nếm được vị.
- So, we have five physical “sensors” on our bodies to detect those five sensory inputs. They are eyes, ears, noses, tongues, and our bodies. They are called cakkhu, sota, ghāna, jivhā, and kāya indriya.
Vì vậy, ta có năm “cảm biến” vật lý trên thân để nhận biết năm loại đối tượng giác quan đó: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, gọi là cakkhu, sota, ghāna, jivhā và kāya indriya.
- The sixth sense that we have is called the mana indriya. It is located in the brain, but I have not yet been able to identify it with the known components of the brain. Of course, scientists do not think about it that way. That is how the Buddha described it.
Giác quan thứ sáu của ta gọi là mana indriya. Nó nằm trong não, nhưng tôi chưa thể xác định nó với các thành phần đã biết của não. Dĩ nhiên, các nhà khoa học không nghĩ theo cách đó; đây là cách Đức Phật mô tả.
- We detect “dhammā” with the mana indriya, like pictures with cakkhu indriya or sounds with sota indriya (ears). But all these sensory inputs are “felt” by the mind (hadaya vatthu) located close to the physical heart; see, “Brain – Interface between Mind and Body.”
Ta nhận biết “dhammā” bằng mana indriya, giống như nhận hình ảnh bằng cakkhu indriya hay âm thanh bằng sota indriya (tai). Nhưng tất cả các tín hiệu giác quan này đều được “cảm nhận” bởi tâm (hadaya vatthu) nằm gần tim vật lý; xem “Brain – Interface between Mind and Body.”
- Such dhammā are also rūpa in Buddha Dhamma, but they are even finer (subtle) than those light particles or photons.
Những dhammā này cũng là rūpa trong Dhamma của Đức Phật, nhưng còn vi tế hơn cả các hạt ánh sáng hay photon.
- “Dhammā” are just energies that lie BELOW the suddhaṭṭhaka We cannot detect them with even the most advanced scientific instruments.
“Dhammā” chỉ là các dạng năng lượng nằm DƯỚI mức suddhaṭṭhaka, và ta không thể phát hiện chúng bằng bất cứ dụng cụ khoa học tiên tiến nào.
- That person locked up in an isolated room can generate thoughts about his past or future. That involves dhammā and the mana indriya.
Người bị nhốt trong căn phòng cô lập vẫn có thể khởi lên những suy nghĩ về quá khứ hay tương lai; điều đó liên quan đến dhammā và mana indriya.
Dhammā Are Kamma Bīja
Dhammā Chính Là Kamma Bīja
- Just like the dense rūpa that we detect with our five physical senses are in kāma loka and rūpa loka, dhammā (which are the same as kamma bīja) are in the viññāṇa plane; see “Our Two Worlds: Material and Mental.”
Giống như các rūpa đậm đặc mà ta nhận biết bằng năm giác quan vật lý nằm trong kāma loka và rūpa loka, thì dhammā (cũng chính là kamma bīja) nằm trong tầng viññāṇa; xem “Our Two Worlds: Material and Mental.”
- This mano loka is also called “bhava” because that is where one’s kamma bījā are (see #8). We all have numerous kamma bīja that can give rise to various bhava at the cuti-paṭisandhi The strongest kamma bīja is selected for a new bhava at the cuti-paṭisandhi moment.
Mano loka này cũng được gọi là “bhava” vì đó là nơi các kamma bīja của mỗi người tồn tại (xem #8). Tất cả chúng ta đều có vô số kamma bīja có thể sinh ra nhiều loại bhava khác nhau tại khoảnh khắc cuti-paṭisandhi. Kamma bīja mạnh nhất sẽ được chọn để tạo ra bhava mới tại khoảnh khắc cuti-paṭisandhi.
- Of course, kamma vipāka during a given life can also arise due to “smaller kamma bīja,” as mentioned above.
Dĩ nhiên, kamma vipāka trong một đời sống cũng có thể phát sinh từ các “kamma bīja nhỏ hơn” như đã nói.
- When kamma bīja lose their energies over a long time, they become just “records” [nāmagotta] of what happened. Now they cannot bring any more vipāka, but become only “memories.”
Khi kamma bīja mất hết năng lượng theo thời gian dài, chúng chỉ còn là các “bản ghi” [nāmagotta] về những gì đã xảy ra; lúc đó chúng không còn đem lại vipāka nữa mà chỉ trở thành “ký ức.”
- So, these dhammā (or kamma bīja) are rūpa that are below the suddhaṭṭhaka stage, and are in our “mano loka” or “mental world,” as opposed to dense rūpa that are in our “material world” or “rūpa loka.”
Vì vậy, những dhammā (hay kamma bīja) này là các rūpa nằm dưới mức suddhaṭṭhaka và ở trong “mano loka” hay “thế giới tinh thần” của chúng ta, đối lập với các rūpa đậm đặc nằm trong “thế giới vật chất” hay “rūpa loka.”
- The “mental world” [viññāṇa dhātu] is all around us, just like the “material world,” but of course, we cannot “see it,” just like we cannot “see” all those signals from radios, televisions, and cell phones are all around us.
“Thế giới tinh thần” [viññāṇa dhātu] bao quanh ta khắp nơi, giống như “thế giới vật chất,” nhưng dĩ nhiên ta không thể “thấy” nó, cũng như ta không thể “thấy” các tín hiệu từ radio, tivi và điện thoại di động đang tràn ngập xung quanh.
- But we know that those radio, television, and cell phone signals are there because we can receive them with our radios, TVs, and cell phones. Similarly, we receive those “dhammā” with our mana indriya.
Nhưng ta biết các tín hiệu đó tồn tại vì ta có thể thu nhận chúng bằng radio, tivi và điện thoại. Tương tự, ta nhận được các “dhammā” bằng mana indriya.
- One may be engaged in some task, say washing dishes in the kitchen, but suddenly, a thought may come to mind about a friend far away or some incident at work may come to mind. That is due to “dhammā” impinging on mana indriya due to kamma vipāka.
Một người có thể đang làm việc gì đó, chẳng hạn rửa chén trong bếp, nhưng đột nhiên một ý nghĩ về người bạn ở xa hay một sự việc nơi công sở hiện lên trong tâm; đó là do “dhammā” tác động lên mana indriya bởi kamma vipāka.
- Also, we can recall such memories at our will too.
Ngoài ra, ta cũng có thể chủ động hồi tưởng những ký ức đó.
Six Types of Sensory Experiences – Chachakka Sutta (MN 148)
Sáu Loại Trải Nghiệm Giác Quan – Chachakka Sutta (MN 148)
- Chachakka Sutta (MN 148) (Ref. 1) describes the sensory interactions with all six senses; see “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.” For example, a “seeing event” is a sensory input through the eyes: “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ,” i.e., “eye-consciousness arises when a rūpa rūpa (with the aid of light) impinges on the eyes.”
Chachakka Sutta (MN 148) (Tài liệu tham khảo 1) mô tả sự tương tác giác quan của cả sáu căn; xem “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.” Ví dụ, một “sự kiện thấy” là tín hiệu giác quan qua mắt: “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ,” tức là “nhãn thức khởi lên khi một rūpa rūpa (với sự trợ giúp của ánh sáng) chạm vào mắt.”
- Similarly, hearing is due to: “sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṃ,” etc., for other physical senses of ghāna (smell), jivhā (taste), and kāya (body).
Tương tự, việc nghe là do: “sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṃ,” và tương tự cho các giác quan vật lý khác là ghāna (ngửi), jivhā (nếm) và kāya (xúc chạm).
- Finally, the detection of dhammā with the mana indriya is stated as “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṃ.”
Cuối cùng, việc nhận biết dhammā bằng mana indriya được nêu là “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṃ.”
Abhidhamma Description
Mô Tả Theo Abhidhamma
- We can state the above using the Abhidhamma language for those familiar with Abhidhamma. According to Buddha Dhamma, EVERYTHING in existence can be put into four ultimate realities (paramattha dhamma):
Chúng ta có thể trình bày những điều trên bằng ngôn ngữ Abhidhamma cho những ai quen thuộc với Abhidhamma. Theo Dhamma của Đức Phật, MỌI THỨ tồn tại đều có thể được xếp vào bốn thực tại tối hậu (paramattha dhamma):
- thoughts (citta)
tâm (citta)
- thought qualities or mental factors (cetasika)
các tâm sở (cetasika)
- matter (rūpa, includes energy or dhammā)
vật chất (rūpa, bao gồm cả năng lượng hay dhammā)
- Nibbāna
Nibbāna
Here, “paramattha dhamma” does not refer to “dhammā” (or “causes” or “kamma bīja”).
Ở đây, “paramattha dhamma” không có nghĩa là “dhammā” (hay “nhân” hoặc “kamma bīja”)
- One must be able to grasp the meaning of a word based on the context. For example, “right” in “Turn right” and “You are right” mean very different things.
Người học cần nắm được nghĩa của từ dựa trên ngữ cảnh; ví dụ, từ “right” trong “Turn right” và “You are right” có nghĩa hoàn toàn khác nhau.
- Dhammās (kamma bījas) eventually lead to the formation of dense rūpa, which we enjoy with our five physical senses.
Dhammā (kamma bīja) cuối cùng sẽ dẫn đến sự hình thành của các rūpa đậm đặc mà ta hưởng thụ bằng năm giác quan vật lý.
Such dense rūpa have finite lifetimes (they are impermanent). Besides, they change unpredictably during their existence, called vipariṇāma lakkhaṇa.
Những rūpa đậm đặc này có thời hạn tồn tại hữu hạn (vô thường) và chúng thay đổi một cách khó lường trong quá trình tồn tại, gọi là vipariṇāma lakkhaṇa.
- But no matter how hard one tries, one cannot maintain such dense rūpa to one’s satisfaction (anicca). Thus, such dense rūpa leads to more suffering than any pleasure.
Nhưng dù cố gắng đến đâu, ta cũng không thể duy trì những rūpa đậm đặc đó theo ý mình (anicca). Vì thế, các rūpa đậm đặc này mang lại nhiều khổ đau hơn là lạc thú.
- Five types of dense rūpa are in our “rūpa loka,” and the less dense dhammā are in our “mano loka”; see “Our Two Worlds: Material and Mental.”
Năm loại rūpa đậm đặc nằm trong “rūpa loka,” còn các dhammā kém đậm đặc hơn nằm trong “mano loka”; xem “Our Two Worlds: Material and Mental.”
- A sentient being exists to experience such dense rūpa and hopes to enjoy them with the mind (with citta and cetasika). That is the basis of existence in a sentence.
Một chúng sinh tồn tại để trải nghiệm các rūpa đậm đặc đó và mong hưởng thụ chúng bằng tâm (citta và cetasika). Đó là nền tảng của sự tồn tại, gói gọn trong một câu.
Sabbe Dhammā Anattā
Sabbe Dhammā Anattā
- The Buddha said, “sabbe dhammā anattā,” i.e., “all dhammā are without essence at the end” and must be given up to attain Nibbāna. But that cannot be done by sheer willpower: One has to comprehend the true nature — Tilakkhaṇa — to see the fundamental and true nature of all rūpa, including dhammā.
Đức Phật dạy: “sabbe dhammā anattā,” tức là “tất cả dhammā cuối cùng đều không có bản thể” và cần phải được từ bỏ để đạt Nibbāna. Nhưng điều đó không thể làm được chỉ bằng ý chí; người ta phải thấu hiểu bản chất thật — Tilakkhaṇa — để thấy được bản chất căn bản và chân thật của mọi rūpa, kể cả dhammā.
- We make our world by creating dhammā on our own. That is a critical point that I will try to explain in future posts in this “Living Dhamma” section.
Chúng ta tự tạo nên thế giới của mình bằng cách tạo ra các dhammā. Đây là một điểm then chốt mà tôi sẽ cố gắng giải thích trong các bài viết sau trong mục “Living Dhamma.”
- The basis for making dhammās are our thoughts with javana citta. A javana citta generates “kamma bīja,” and they give rise to future kamma vipāka. So, kamma bīja are dhammā. They are very tiny packets of energy below the suddhaṭṭhaka
Nền tảng để tạo ra dhammā là các suy nghĩ của chúng ta với javana citta. Một javana citta tạo ra “kamma bīja,” và chúng dẫn đến kamma vipāka trong tương lai. Vì vậy, kamma bīja chính là dhammā; chúng là những gói năng lượng cực nhỏ nằm dưới mức suddhaṭṭhaka.
- But some javana (especially in jhāna samāpatti) can create energies above the suddhaṭṭhaka stage, i.e., they can produce tangible rūpa. That is how one with abhiññā powers can “create” physical objects.
Tuy nhiên, một số javana (đặc biệt trong jhāna samāpatti) có thể tạo ra năng lượng trên mức suddhaṭṭhaka, tức là có thể sinh ra rūpa hữu hình. Đó là cách mà người có năng lực abhiññā có thể “tạo ra” các đối tượng vật chất.
- Any rūpa (including kamma bīja) that one makes for oneself cannot be maintained to one’s satisfaction.
Bất kỳ rūpa nào (kể cả kamma bīja) mà ta tự tạo cho mình đều không thể được duy trì theo ý muốn.
- Any rūpa with energy will eventually be destroyed, or that energy will wear out. Furthermore, any such rūpa can and will change unexpectedly while in existence, that is the vipariṇāma characteristic and is a root cause of suffering.
Mọi rūpa có năng lượng cuối cùng sẽ bị hủy hoại hoặc năng lượng đó sẽ cạn kiệt. Hơn nữa, bất cứ rūpa nào như vậy cũng có thể và sẽ thay đổi một cách bất ngờ trong khi tồn tại; đó là đặc tính vipariṇāma và là nguyên nhân gốc rễ của khổ đau.
- The only dhammās that are “permanent” are nāma gotta, records of our saṅkhāra, which do not have energy in them; “Nāmagotta, Bhava, Kamma Bīja, and Mano Loka (Mind Plane).”
Những dhammā duy nhất được xem là “thường còn” là nāma gotta, tức là các bản ghi về saṅkhāra của chúng ta, vốn không mang năng lượng; xem “Nāmagotta, Bhava, Kamma Bīja, and Mano Loka (Mind Plane).”
- When one sees the perils of this rebirth process (after one grasps the Tilakkhaṇa), one stops making those causes via abhisaṅkhāra and also gives up the craving (taṇhā) for them, which leads to Nibbāna.
Khi thấy rõ những hiểm họa của tiến trình tái sinh này (sau khi đã nắm được Tilakkhaṇa), người ta ngừng tạo ra các nhân ấy qua abhisaṅkhāra và cũng từ bỏ sự khao khát (taṇhā) đối với chúng, từ đó dẫn đến Nibbāna.
- Nibbāna results when all those causes are removed; no rūpa can arise. Hence, Nibbāna is permanent. No more suffering!
Nibbāna thành tựu khi tất cả những nhân đó được đoạn trừ; lúc ấy không còn rūpa nào có thể sinh khởi. Do đó, Nibbāna là thường hằng, không còn khổ đau nữa.
Reference
Tài liệu tham khảo
- The six sense inputs (āyatana) and the six types of rūpa we experience with them are discussed in several suttā. For example, in the “Cha Chakka Sutta (MN 148)”:
Sáu căn (āyatana) và sáu loại rūpa mà ta trải nghiệm qua chúng được bàn đến trong nhiều suttā, chẳng hạn trong “Cha Chakka Sutta (MN 148)”:
“Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti kho panetaṃ vuttaṃ. Kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Cakkhāyatanaṃ, sotāyatanaṃ, ghānāyatanaṃ, jivhāyatanaṃ, kāyāyatanaṃ, manāyatanaṃ. ‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti yaṃ taṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vuttaṃ. Idaṃ paṭhamaṃ chakkaṃ. (1)”
“Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti kho panetaṃ vuttaṃ. Kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Rūpāyatanaṃ, saddāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ, dhammāyatanaṃ. ‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti yaṃ taṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vuttaṃ. Idaṃ dutiyaṃ chakkaṃ. (2)”
- Thus, there are six (Cha) internal āyatana (ajjhattikāni āyatanāni) and six external (bāhirāni āyatanāni).
Như vậy, có sáu (Cha) āyatana nội (ajjhattikāni āyatanāni) và sáu āyatana ngoại (bāhirāni āyatanāni).
- The sixth internal āyatana is manāyatana, and it detects dhamma (called manāyatana, just like sadda or sound is called saddāyatana).
āyatana nội thứ sáu là manāyatana, và nó nhận biết dhamma (gọi là manāyatana, giống như sadda hay âm thanh được gọi là saddāyatana).
A more in-depth analysis of dhammā is at, “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.”
Phân tích sâu hơn về dhammā có thể xem tại “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.”
