Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Affect Saṅkhāra / Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Tác Động Đến Saṅkhāra
January 28, 2017; re-written October 15, 2019; revised January 20, 2021 (#13); added #14 March 9, 2022; June 23, 2022; May 18, 2023; May 28, 2023 (removed Chart 2)
Ngày 28/01/2017; viết lại ngày 15/10/2019; sửa đổi ngày 20/01/2021 (#13); bổ sung #14 ngày 09/03/2022; ngày 23/06/2022; ngày 18/05/2023; ngày 28/05/2023 (bỏ Sơ đồ 2)
The word vipallāsa (used in plural) means “confusion.” One gets confused because one has the wrong views (diṭṭhi). That leads to distorted perceptions (saññā), which affect the way one thinks (citta). That is how we generate (abhi)saṅkhāra that leads to future suffering. This is just another way to analyze the origin of suffering.
Từ vipallāsa (được dùng ở dạng số nhiều) có nghĩa là “sự rối loạn, đảo lộn”. Một người bị rối loạn vì có tà kiến (diṭṭhi). Điều đó dẫn đến tri giác sai lệch (saññā), rồi ảnh hưởng đến cách suy nghĩ (citta). Chính như vậy mà chúng ta tạo ra (abhi)saṅkhāra dẫn đến khổ đau trong tương lai. Đây chỉ là một cách khác để phân tích nguồn gốc của khổ đau.
- You may want to read the previous posts on saññā and saṅkhāra. See, “Saññā – What It Really Means” and “Saṅkhāra – What It Really Means.”
Bạn có thể muốn đọc lại các bài trước về saññā và saṅkhāra; xem “Saññā – What It Really Means” và “Saṅkhāra – What It Really Means.”
- This post is a re-write of an old post, “Diṭṭhi, Saññā, and Saṅkhāra – How They Relate.”
Bài viết này là bản viết lại của một bài cũ: “Diṭṭhi, Saññā, and Saṅkhāra – How They Relate.”
Wrong Views Come First
Tà Kiến Xuất Hiện Trước
- One’s perceptions (saññā) are closely associated with one’s views (diṭṭhi), and both of those affect how we think (citta) and generate saṅkhāra.
Tri giác (saññā) của một người gắn chặt với kiến chấp (diṭṭhi) của người ấy, và cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ (citta) và tạo ra saṅkhāra.
Most of our world views are based on ideas from our families, friends, and religions that we are born into. Those inputs play a significant role in our worldviews. In turn, they mold our perceptions and how we think — and thus generate saṅkhāra.
Hầu hết các thế giới quan của chúng ta đều dựa trên những quan niệm từ gia đình, bạn bè và các tôn giáo mà chúng ta sinh ra trong đó. Những tác động này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan. Đến lượt mình, chúng định hình tri giác và cách chúng ta suy nghĩ — và do đó tạo ra saṅkhāra.
- It is not possible to get rid of the wrong or distorted perceptions (viparīta saññā) without getting rid of the erroneous views (micchā diṭṭhi or simply diṭṭhi). [viparīta : [adj.] reversed; changed; wrong.]
Không thể loại bỏ các tri giác sai lệch hay bị đảo lộn (viparīta saññā) nếu chưa loại bỏ các tà kiến (micchā diṭṭhi, hay gọi ngắn gọn là diṭṭhi). [viparīta: đảo ngược; thay đổi; sai lầm.]
- Some dominant world views must be removed before one can even hope to get an idea about anicca saññā. We will discuss some of these critical factors first.
Một số thế giới quan chi phối cần phải được loại bỏ trước thì người ta mới có thể hy vọng hình dung được anicca saññā. Trước hết, chúng ta sẽ bàn đến một vài yếu tố then chốt này.
Wrong Views on Heaven, Hell, and Human Realms
Tà Kiến Về Thiên Đường, Địa Ngục Và Cõi Người
- Most people believe in eternal heaven after death. That perception is based on the world view of three “major categories or realms.” Those are hell, the human world, and heaven. This worldview and the corresponding perception of saññā come from families taught that worldview through generations via religious teachings.
Phần lớn mọi người tin vào một thiên đường vĩnh cửu sau khi chết. Tri giác đó dựa trên thế giới quan về ba “nhóm hay cõi chính”: địa ngục, cõi người và thiên đường. Thế giới quan này cùng với saññā tương ứng được truyền dạy qua nhiều thế hệ trong gia đình thông qua các giáo lý tôn giáo.
- That world view also says that a Creator created the Earth. That Creator resides in the heavens, and those who live by those teachings will join the Creator. Those who disobey those teachings are supposed to be born in hell for eternity.
Thế giới quan ấy cũng cho rằng có một Đấng Tạo Hóa đã tạo ra Trái Đất. Đấng Tạo Hóa đó ngự trên thiên giới, và những ai sống theo các giáo huấn ấy sẽ được về với Đấng Tạo Hóa. Còn những ai không tuân theo thì bị cho là sẽ sinh vào địa ngục vĩnh viễn.
- Even though modern science rejects that cosmic worldview, most people still follow that wrong view. The heavens comprise trillions of planetary systems, just like our Solar system.
Mặc dù khoa học hiện đại bác bỏ thế giới quan vũ trụ như vậy, đa số mọi người vẫn tiếp tục theo tà kiến đó. Các tầng trời bao gồm hàng nghìn tỷ hệ hành tinh, tương tự như Hệ Mặt Trời của chúng ta.
- Astonishingly, even some prominent scientists are willing to disregard scientific facts. They believe (i.e., have the perception) that a Creator created the Earth and the whole universe. I am not sure where they think that Creator resides among those trillions of star systems.
Điều đáng kinh ngạc là ngay cả một số nhà khoa học nổi tiếng cũng sẵn sàng bỏ qua các dữ kiện khoa học. Họ tin (tức là có tri giác) rằng có một Đấng Tạo Hóa đã tạo ra Trái Đất và toàn bộ vũ trụ. Tôi không rõ họ cho rằng Đấng Tạo Hóa đó đang cư ngụ ở đâu giữa hàng nghìn tỷ hệ sao như vậy.
Wrong Views About Animals
Tà Kiến Về Loài Vật
- Another example is killing animals for sport, which includes fishing. That is based on the view that animals are not sentient and were created by the Creator for human consumption. That is such an ingrained diṭṭhi that many people who live otherwise moral lives fail to see the suffering endured by these animals.
Một ví dụ khác là việc giết hại động vật để tiêu khiển, bao gồm cả câu cá. Điều này dựa trên quan điểm cho rằng động vật không có cảm thọ và được Đấng Tạo Hóa tạo ra để phục vụ cho việc tiêu thụ của con người. Đây là một diṭṭhi ăn sâu đến mức nhiều người tuy sống đạo đức ở các mặt khác vẫn không nhìn thấy nỗi khổ mà các con vật ấy phải chịu.
- While fish cannot cry out, the severe pain felt by a wriggling fish caught on a hook is quite apparent. It feels the pain in the mouth due to the hook. It also suffers due to a lack of oxygen since it cannot breathe as we do.
Mặc dù cá không thể kêu la, nhưng nỗi đau dữ dội của một con cá đang quẫy đạp khi bị mắc câu là điều rất rõ ràng. Nó cảm nhận cơn đau ở miệng do lưỡi câu gây ra. Đồng thời, nó còn khổ sở vì thiếu ô-xy do không thể thở như chúng ta.
- Higher animals are capable of showing their pain, among other emotions. Anyone who has a pet dog or cat knows that they do have emotions as we do.
Những loài động vật bậc cao có khả năng biểu lộ nỗi đau cũng như các cảm xúc khác. Bất kỳ ai nuôi chó hay mèo đều biết rằng chúng cũng có cảm xúc như chúng ta.
- But we tend to disregard such easy-to-see things because of our diṭṭhīs. The underlying reason is the religious view that animals are here for our consumption.
Nhưng chúng ta thường phớt lờ những điều hiển nhiên như vậy vì các diṭṭhi của mình. Nguyên nhân sâu xa là quan điểm tôn giáo cho rằng động vật sinh ra là để con người sử dụng.
- However, we all have had animal and Deva and Brahma Comprehension of this fact can help change one’s perception of animals.
Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều đã từng có những lần sinh làm loài vật, Devā và Brahmā. Việc thấu hiểu sự thật này có thể giúp thay đổi tri giác của chúng ta đối với loài vật.
- However, even in Buddhist countries, there are fishing villages where fishing is the livelihood of many who have done it for many generations.
Tuy vậy, ngay cả ở các quốc gia Phật giáo, vẫn có những làng chài nơi việc đánh cá là kế sinh nhai của nhiều người qua nhiều thế hệ.
- Some may say that those people need to make a living to sustain their families. But that argument is no better than the argument that a drug addict needs to inhale another dose to get through the day: the long-term consequences are infinitely worse.
Có người có thể nói rằng những người ấy cần mưu sinh để nuôi sống gia đình. Nhưng lập luận đó cũng không hơn gì việc cho rằng một người nghiện ma túy cần hít thêm một liều nữa để vượt qua ngày hôm nay: hậu quả lâu dài thì vô cùng tệ hại.
- It is customary for the older generations to teach their children or grandchildren how to fish or hunt animals for sport. That custom passes through generations.
Việc các thế hệ lớn tuổi dạy con cháu cách đánh cá hay săn bắn để tiêu khiển đã trở thành tập quán, và tập quán đó được truyền từ đời này sang đời khác.
- Still, we cannot equate animal lives to human lives, as some animal rights activists believe. When one comprehends Buddha’s Dhamma, one can avoid going to either extreme.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể đồng nhất sinh mạng của loài vật với sinh mạng con người như một số nhà hoạt động vì quyền động vật tin tưởng. Khi thấu hiểu Dhamma của Đức Phật, người ta có thể tránh rơi vào cả hai thái cực.
Wrong Views Lead to Wrong Perceptions (Saññā)
Tà Kiến Dẫn Đến Tri Giác Sai Lầm (Saññā)
- The above are several prominent examples of major micchā diṭṭhi. One can remove distorted perceptions (viparīta saññā) by removing such wrong views (micchā diṭṭhi). Learning Buddha Dhamma helps get rid of wrong views.
Trên đây là một số ví dụ tiêu biểu về các loại micchā diṭṭhi nghiêm trọng. Người ta có thể loại bỏ các tri giác sai lệch (viparīta saññā) bằng cách đoạn trừ những tà kiến (micchā diṭṭhi) đó. Việc học hỏi Dhamma của Đức Phật giúp loại bỏ các tà kiến này.
- The key reason those diṭṭhīs propagate through generations is the inability to “breakthrough” such ingrained beliefs by contemplating on facts.
Lý do chính khiến những diṭṭhi đó lan truyền qua nhiều thế hệ là vì con người không thể “đột phá” các niềm tin ăn sâu ấy bằng cách quán chiếu trên sự thật.
- Another wrong view (and hence the wrong perception) that we have is about the high value placed on our physical bodies’ “beautification.” This perception is predominant in Western countries but is growing in other countries.
Một tà kiến khác (và do đó là tri giác sai lầm) mà chúng ta có là việc đề cao quá mức sự “làm đẹp” cho thân thể vật chất. Tri giác này rất phổ biến ở các nước phương Tây và đang lan rộng sang các quốc gia khác.
- People spend billions of dollars a year trying to make their physical bodies “more beautiful.” They don’t realize — or don’t even contemplate — the following fact. No matter how much money one can spend, one’s body will not stay in peak condition for too long.
Mỗi năm, con người chi hàng tỷ đô-la để cố làm cho thân thể mình “đẹp hơn”. Họ không nhận ra — hoặc thậm chí không hề suy xét — sự thật sau đây: dù có chi bao nhiêu tiền đi nữa, thân thể cũng không thể duy trì trạng thái đỉnh cao được lâu.
- That wrong perception leads to an enhanced level of suffering in old age when one’s body becomes frail and less appealing. That can lead to severe depression.
Tri giác sai lầm đó dẫn đến mức độ khổ đau gia tăng khi về già, lúc thân thể trở nên yếu ớt và kém hấp dẫn. Điều này có thể dẫn đến trầm cảm nghiêm trọng.
- For those who have comprehended the anicca nature, old age is a fact of life. While the brain is working optimally, one needs to spend one’s “peak years” not trying to beautify one’s body but making progress on the Path. When the body starts degrading at old age, the brain deteriorates. So, one must exercise and eat healthily to keep the body and the brain in good condition for as long as possible.
Đối với những ai đã thấu hiểu bản chất anicca, tuổi già là một sự thật của đời sống. Khi bộ não còn hoạt động tốt nhất, người ta cần dùng những “năm tháng sung mãn” ấy không phải để làm đẹp thân thể mà để tiến bộ trên Con đường Tu tập. Khi thân thể bắt đầu suy thoái lúc về già, não bộ cũng dần suy giảm. Do đó, cần rèn luyện thân thể và ăn uống lành mạnh để giữ cho thân và não ở trạng thái tốt nhất càng lâu càng tốt.
- That happens to everyone, regardless of how powerful or wealthy they are. At President Trump’s inauguration, this was quite obvious by looking at the ex-Presidents.
Điều này xảy ra với tất cả mọi người, bất kể quyền lực hay giàu có đến đâu. Tại lễ nhậm chức của Tổng thống Trump, điều này thể hiện rất rõ khi nhìn vào các cựu tổng thống.
- Think about any famous, beautiful, or wealthy person who has grown old to convince the truth of this anicca
Hãy nghĩ đến bất kỳ người nổi tiếng, xinh đẹp hay giàu có nào đã bước vào tuổi già để thấy rõ sự thật của bản chất anicca này.
Characteristics of Anything (Saṅkhata) In This World
Đặc Tính Của Mọi Pháp (Saṅkhata) Trong Thế Gian Này
- Anything in this world — living or inert — has that anicca A saṅkhata is born (uppāda) and destroyed (vaya). In between it is in existence but is still subjected to unexpected change (ṭhitassa aññathattaṁ). Those are the three stages of a saṅkhata; see, for example, “WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 22.37).”
Bất cứ điều gì trong thế gian này — hữu tình hay vô tri — đều mang bản chất anicca. Một saṅkhata được sinh ra (uppāda) và bị hoại diệt (vaya). Ở khoảng giữa, nó tồn tại nhưng vẫn chịu sự biến đổi bất ngờ (ṭhitassa aññathattaṁ). Đó là ba giai đoạn của một saṅkhata; xem ví dụ trong “WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 22.37).”
- Some things in this world (saṅkhata) last a short time: for example, a fly or a flower. Other things can last for tens of years: for example, humans or a car. Some things/beings live much longer: for example, a Brahma or a star system like our Solar system.
Một số sự vật trong thế gian (saṅkhata) tồn tại rất ngắn: chẳng hạn như một con ruồi hay một bông hoa. Những thứ khác có thể tồn tại hàng chục năm: ví dụ như con người hay một chiếc xe. Có những sự vật/chúng sinh tồn tại lâu hơn nhiều: chẳng hạn như một vị Brahma hay một hệ sao như Hệ Mặt Trời của chúng ta.
- But eventually, anything in this world — a saṅkhata — decays and is destroyed at some point.
Nhưng rốt cuộc, bất cứ thứ gì trong thế gian này — một saṅkhata — cũng sẽ suy hoại và bị hủy diệt vào một lúc nào đó.
- Even though those things that reach the peak condition can provide/enjoy sensory pleasures, they do not last long.
Mặc dù những thứ đạt đến trạng thái đỉnh cao có thể mang lại hay hưởng thụ các dục lạc giác quan, chúng cũng không tồn tại lâu dài.
- The overall effect or the net effect is suffering when one considers the rebirths in the 31 realms in the long term.
Xét về tổng thể hay về lâu dài, kết quả rốt ráo là khổ đau khi nhìn vào tiến trình tái sinh trong 31 cõi.
Four Types of Vipallāsa (Confusions) and Three Variations
Bốn Loại Vipallāsa (Đảo Lộn) và Ba Biến Thể
- The Buddha stated that there are four types of vipallāsa or confusions: nicca, sukha, atta, and subha. See, WebLink: suttacentral: Vipallāsa Sutta (AN 4.49). We have discussed the first three in detail on this website. The subha (pleasurable) vipallāsa is mainly associated with the “olārika sensory pleasures” (taste, smell, and bodily contact) in the realm of kāma loka.
Đức Phật dạy rằng có bốn loại vipallāsa, hay sự đảo lộn: nicca, sukha, atta và subha. Xem “WebLink: suttacentral: Vipallāsa Sutta (AN 4.49)”. Ba loại đầu đã được trình bày chi tiết trên trang này. Vipallāsa về subha (dễ chịu, đẹp đẽ) chủ yếu gắn liền với các “dục lạc thô” (vị, mùi và xúc chạm thân) trong kāma loka.
- No matter how appealing those sensory pleasures or sense objects can be, they all make one get trapped in kāma loka. That is why they are asubha.
Dù các dục lạc giác quan hay các đối tượng giác quan ấy có hấp dẫn đến đâu, chúng đều khiến chúng sinh bị trói buộc trong kāma loka. Chính vì vậy mà chúng được gọi là asubha.
- Each vipallāsa has three variations (layers) of diṭṭhi, saññā, and citta.
Mỗi vipallāsa có ba dạng (ba tầng) là diṭṭhi, saññā và citta.
- Each confusion (vipallāsa) may be expressed via views, perceptions, and how we automatically think. They affect the saṅkhāra generation and especially puñña abhisaṅkhāra and apuñña abhisaṅkhāra; see, “Saṅkhāra – What It Really Means.”
Mỗi sự đảo lộn (vipallāsa) có thể biểu hiện qua kiến chấp, tri giác và cách chúng ta suy nghĩ một cách tự động. Chúng ảnh hưởng đến việc tạo ra saṅkhāra, đặc biệt là puñña abhisaṅkhāra và apuñña abhisaṅkhāra; xem “Saṅkhāra – What It Really Means.”
Confusion About a Tilakkhaṇa Nature Is the Key – They Lead to Saṅkhāra
Sự Đảo Lộn Về Bản Chất Tilakkhaṇa Là Then Chốt – Chúng Dẫn Đến Saṅkhāra
- Let us consider the diṭṭhi, saññā, and citta vipallāsa about the anicca nature as an example.
Hãy lấy ví dụ về diṭṭhi, saññā và citta vipallāsa liên quan đến bản chất anicca.
- We have the wrong view that things in this world have a nicca nature, i.e., that they can provide happiness. That is the diṭṭhi vipallāsa about the actual anicca
Chúng ta có tà kiến rằng các pháp trong thế gian mang bản chất nicca, tức là chúng có thể mang lại hạnh phúc. Đó chính là diṭṭhi vipallāsa đối với bản chất anicca thực sự.
- Because of this wrong view, we develop the saññā vipallāsa about the anicca nature of things: We tend to perceive (saññā) that worldly things can provide happiness.
Do tà kiến này, chúng ta phát triển saññā vipallāsa về bản chất anicca của các pháp: chúng ta có khuynh hướng tri nhận (saññā) rằng các pháp thế gian có thể mang lại hạnh phúc.
- We tend to think (citta) that things in this world can provide us with happiness because of the wrong perception. Thus we do (abhi) saṅkhāra that prolong the rebirth process for puñña abhisaṅkhāra. Even worse, they make one suffer mightily in the future rebirths through apuñña abhisaṅkhāra.
Do tri giác sai lầm đó, chúng ta có khuynh hướng suy nghĩ (citta) rằng các pháp trong thế gian có thể mang lại hạnh phúc cho mình. Vì vậy, chúng ta tạo ra (abhi) saṅkhāra làm kéo dài tiến trình tái sinh thông qua puñña abhisaṅkhāra. Tệ hơn nữa, apuñña abhisaṅkhāra còn khiến con người phải chịu khổ đau dữ dội trong các tái sinh tương lai.
- Therefore, we constantly generate mano saṅkhāra (automatic thoughts about worldly sense objects), vacī saṅkhāra (conscious thoughts or speech), and act accordingly (kāya saṅkhāra).
Do đó, chúng ta liên tục tạo ra mano saṅkhāra (những ý nghĩ tự động về các đối tượng giác quan thế gian), vacī saṅkhāra (tư duy hay lời nói có ý thức), và hành động tương ứng (kāya saṅkhāra).
Saṅkhāra Lead to Future Suffering
Saṅkhāra Dẫn Đến Khổ Đau Trong Tương Lai
- All three types of such saṅkhāra lead to suffering in this life and in future rebirths. These are the saṅkhāra that arise due to avijjā (not realizing the true nature of this world): “avijjā paccayā (abhi) saṅkhāra.”
Cả ba loại saṅkhāra này đều dẫn đến khổ đau trong đời hiện tại và trong các tái sinh tương lai. Đây là những saṅkhāra khởi lên do avijjā (không nhận ra bản chất thật của thế gian): “avijjā paccayā (abhi) saṅkhāra.”
Abhisaṅkhāra eventually lead to bhava and jāti via Paṭicca Samuppāda. Here jāti means both future rebirths and “births during this life,” see, “Suffering in This Life and Paṭicca Samuppāda.”
Abhisaṅkhāra cuối cùng dẫn đến bhava và jāti thông qua Paṭicca Samuppāda. Ở đây, jāti có nghĩa là cả tái sinh trong tương lai lẫn “các sự sinh khởi trong đời này”; xem “Suffering in This Life and Paṭicca Samuppāda.”
- That is why it is essential first to learn Dhamma and first realize that suffering in this life can arise due to our conscious thoughts and actions. Not only that, but that suffering CAN BE stopped from arising.
Đó là lý do vì sao trước hết cần học Dhamma và nhận ra rằng khổ đau trong đời này có thể phát sinh do các suy nghĩ và hành động có ý thức của chính chúng ta. Không chỉ vậy, khổ đau ấy CÓ THỂ ĐƯỢC ngăn chặn không cho phát sinh.
- Once one comprehends this fact and lives accordingly, one can experience the nirāmisa sukha when one removes this type of suffering.
Khi một người thấu hiểu sự thật này và sống phù hợp với nó, người ấy có thể trải nghiệm nirāmisa sukha khi loại bỏ được dạng khổ đau này.
- Furthermore, this helps one build true faith (saddhā) in Buddha Dhamma. It will convince one of the truths about the much worse type of suffering in future rebirths.
Hơn nữa, điều này giúp xây dựng niềm tin chân chánh (saddhā) nơi Dhamma của Đức Phật. Nó sẽ thuyết phục người ấy về sự thật của loại khổ đau còn nghiêm trọng hơn nhiều trong các tái sinh tương lai.
- More details are in the first few subsections in the “Living Dhamma” section.
Nhiều chi tiết hơn được trình bày trong các tiểu mục đầu của phần “Living Dhamma”.
- At that stage, one may comprehend the anicca nature of the rebirth process. The truth of the rebirth process is that nowhere in the 31 realms can one find happiness.
Ở giai đoạn đó, người ta có thể thấu hiểu bản chất anicca của tiến trình tái sinh. Sự thật của tiến trình tái sinh là không có nơi nào trong 31 cõi có thể tìm thấy hạnh phúc.
- Moreover, one will “see” unimaginable suffering levels exist in the lowest four realms (apāyā). That will help get rid of the diṭṭhi vipallāsa about dukkha. Instead of the wrong view that there is happiness in human, deva, or Brahma realms, one will “see” that any pleasure to be had is only temporary. Furthermore, there is much more suffering inevitable if one stays in the rebirth process.
Hơn nữa, người ấy sẽ “thấy” những mức độ khổ đau không thể tưởng tượng nổi tồn tại trong bốn cõi thấp nhất (apāyā). Điều đó giúp đoạn trừ diṭṭhi vipallāsa về dukkha. Thay vì tà kiến rằng có hạnh phúc trong cõi người, cõi deva hay cõi Brahma, người ấy sẽ “thấy” rằng bất kỳ lạc thọ nào có được cũng chỉ là tạm thời. Hơn nữa, còn có rất nhiều khổ đau không thể tránh khỏi nếu vẫn còn ở trong tiến trình tái sinh.
- One will also “see” that one is genuinely helpless if stayed in this rebirth process (saṁsāra). Thus one will get rid of diṭṭhi vipallāsa (that this world is of atta nature) and truly “see” the “anatta”
Người ấy cũng sẽ “thấy” rằng mình thực sự bất lực nếu còn ở trong tiến trình tái sinh (saṁsāra). Do đó, diṭṭhi vipallāsa (cho rằng thế gian này có bản chất atta) sẽ được đoạn trừ, và người ấy thực sự “thấy” bản chất anatta.
- One will also “see” that — in the long run — things in this world are not subha, i.e., they are not beneficial or fruitful. Attachment to anything in this world will lead to suffering in the long run. Thus a Sotāpanna will have removed the diṭṭhi vipallāsa “distorted views” about subha nature as well.
Người ấy cũng sẽ “thấy” rằng — về lâu dài — các pháp trong thế gian không phải là subha, tức là không mang lại lợi ích hay kết quả tốt đẹp bền vững. Sự dính mắc vào bất cứ điều gì trong thế gian này đều dẫn đến khổ đau về lâu dài. Do đó, một vị Sotāpanna đã đoạn trừ luôn cả diṭṭhi vipallāsa — những kiến chấp sai lệch — về bản chất subha.
- That is how one gets rid of diṭṭhi vipallāsa. That leads to Nibbāna via dissociating from the material world, see “Nibbāna.”
Đó là cách một người đoạn trừ diṭṭhi vipallāsa. Điều này dẫn đến Nibbāna thông qua việc ly dính khỏi thế giới vật chất; xem “Nibbāna.”
Saññā Vipallāsa
Saññā Vipallāsa
- Saññā (pronounced “sangnā”) comes from “saŋ” + “gnāna,” which means “wisdom” about “saŋ.” But regular humans have only viparīta saññā or saññā vipallāsa: they do not see “saŋ” as bad.
Saññā (phát âm là “sangnā”) xuất phát từ “saŋ” + “gnāna”, có nghĩa là “trí tuệ” về “saŋ”. Tuy nhiên, con người bình thường chỉ có viparīta saññā hay saññā vipallāsa: họ không thấy “saŋ” là xấu hay nguy hại.
- Removal of saññā vipallāsa requires getting rid of diṭṭhi vipallāsa which in turn requires attaining sammā diṭṭhi. Then, one will perceive the benefits or the harm in each speech or action one is about to make.
Việc đoạn trừ saññā vipallāsa đòi hỏi phải đoạn trừ diṭṭhi vipallāsa, và điều đó lại cần đến việc chứng đạt sammā diṭṭhi. Khi ấy, người ta sẽ nhận ra lợi ích hay tác hại trong từng lời nói hay hành động sắp sửa thực hiện.
- When one has the right vision and perceives things as they are, one will start thinking along those lines. Then one will begin removing citta vipallāsa.
Khi một người có chánh kiến và tri nhận các pháp đúng như chúng là, người ấy sẽ bắt đầu suy nghĩ theo chiều hướng đó. Khi ấy, citta vipallāsa sẽ dần được đoạn trừ.
Removal of Vipallāsa
Đoạn trừ Vipallāsa
- For completion, we will end with the following technical details. All three types of vipallāsa about nicca and atta disappear at the Sotāpanna However, only the diṭṭhi vipallāsa about sukha and subha goes away (Note that the true nature is “dukkha and asubha.”) That is in “WebLink: suttacentral: Treatise of Distortions – Vipallāsakathā (KN Ps 1.8)” section in the “Paṭisambhidāmagga.” [Read in this book Ps 1.8 Treatise of Distortions – Vipallāsakathā]
Để hoàn chỉnh, chúng ta kết thúc bằng một số chi tiết mang tính kỹ thuật. Cả ba loại vipallāsa liên quan đến nicca và atta đều biến mất ở giai đoạn Sotāpanna. Tuy nhiên, đối với sukha và subha thì chỉ có diṭṭhi vipallāsa được đoạn trừ (lưu ý rằng bản chất thật là “dukkha và asubha”). Điều này được trình bày trong phần “WebLink: suttacentral: Treatise of Distortions – Vipallāsakathā (KN Ps 1.8)” của bộ “Paṭisambhidāmagga”. [Xem Ps 1.8 Treatise of Distortions – Vipallāsakathā]
- That is why even though a Sotāpanna can “see” that things in this world can eventually lead to only suffering, he/she will still tend to enjoy sensory pleasures. That is due to the remaining saññā and citta vipallāsa about sukha and subha. However, those do not involve apāyagāmi
Đó là lý do vì sao, dù một vị Sotāpanna có thể “thấy” rằng các pháp thế gian rốt cuộc chỉ dẫn đến khổ đau, vị ấy vẫn còn khuynh hướng hưởng thụ các dục lạc giác quan. Điều này là do vẫn còn saññā và citta vipallāsa liên quan đến sukha và subha. Tuy nhiên, những điều này không dẫn đến các hành vi apāyagāmi.
- Saññā vipallāsa about sukha and subha is lessened at the Sakadāgāmi stage and entirely removed at the Anāgāmi Even though an Anāgāmi has eliminated the desire for sense pleasures in the kāma loka, he/she will still tend to enjoy jhānic pleasures.
Saññā vipallāsa về sukha và subha được làm suy giảm ở giai đoạn Sakadāgāmi và được đoạn trừ hoàn toàn ở giai đoạn Anāgāmi. Mặc dù một vị Anāgāmi đã đoạn trừ dục đối với các khoái lạc giác quan trong kāma loka, vị ấy vẫn còn khuynh hướng hưởng thụ các lạc thọ của jhāna.
- All vipallāsa go away entirely only at the Arahant An Arahant does not make apuñña abhisaṅkhāra that leads to heat (or thāpa) in mind and makes one eligible to be born in the apāyā. He does not make puñña abhisaṅkhāra that make one eligible to be born in the “good realms” either. He makes only kammically neutral saṅkhāra or kiriya to maintain life until Parinibbāna or death.
Tất cả các vipallāsa chỉ được đoạn trừ hoàn toàn ở giai đoạn Arahant. Một vị Arahant không tạo ra apuñña abhisaṅkhāra dẫn đến sự “nóng bức” (thāpa) trong tâm và khiến tái sinh vào apāyā. Vị ấy cũng không tạo ra puñña abhisaṅkhāra để đủ điều kiện sinh vào các “cõi lành”. Vị ấy chỉ tạo ra các saṅkhāra trung tính về mặt nghiệp, hay kiriya, để duy trì sự sống cho đến khi Parinibbāna hay qua đời.
- Removal of saññā and citta vipallāsa respectively at the Anāgāmi and Arahant stages can be understood as follows. Saññā and citta vipallāsa regarding sukha and subha arise due to “kāma.”
Việc đoạn trừ saññā vipallāsa và citta vipallāsa tương ứng ở các giai đoạn Anāgāmi và Arahant có thể được hiểu như sau. Saññā và citta vipallāsa liên quan đến sukha và subha phát sinh do “kāma”.
- Most apāyagāmi deeds are done with kāmacchanda nīvaraṇa “covering a mind,” and it is removed at the Sotāpanna Kāmacchanda appears when “kāma” — craving for sensual pleasures — optimizes and “makes one blind.”
Phần lớn các hành vi apāyagāmi được thực hiện khi kāmacchanda nīvaraṇa “che phủ tâm”, và nó được đoạn trừ ở giai đoạn Sotāpanna. Kāmacchanda xuất hiện khi “kāma” — sự khao khát các dục lạc giác quan — tăng mạnh và “làm cho người ta mù quáng”.
- However, a Sotāpanna has “kāma rāga,” meaning a Sotāpanna still craves sensual pleasures.
Tuy nhiên, một vị Sotāpanna vẫn còn “kāma rāga”, tức là vẫn còn khao khát các dục lạc giác quan.
- An Anāgāmi has removed “kāma rāga,” and thus, saññā vipallāsa for sukha and subha.
Một vị Anāgāmi đã đoạn trừ “kāma rāga”, và do đó cũng đoạn trừ saññā vipallāsa về sukha và subha.
- It is only at the Arahant stage that even a trace of vipallāsa for kāma is removed with the removal of all “citta vipallāsa.” This is explained in, “WebLink: suttacentral: Samāropanahāra vibhaṅga (Ne 19).” [Read in this book (with English translation) Samāropanahāra vibhaṅga (Ne 19)]
Chỉ đến giai đoạn Arahant thì ngay cả một dấu vết của vipallāsa đối với kāma cũng được đoạn trừ, cùng với việc đoạn trừ toàn bộ “citta vipallāsa”. Điều này được giải thích trong “WebLink: suttacentral: Samāropanahāra vibhaṅga (Ne 19)”. [Xem bản có dịch tiếng Anh: Samāropanahāra vibhaṅga (Ne 19)]
- The following chart provides a summary (much merits to Seng Kiat Ng for the chart and the above link):
Sơ đồ sau đây là tóm lược (xin ghi nhận nhiều công đức của Seng Kiat Ng cho sơ đồ này và đường dẫn ở trên):
