Viññāṇa – Consciousness Together With Future Expectations / Viññāṇa – Ý Thức Cùng Với Các Kỳ Vọng Tương Lai

January 1, 2019; revised May 11, 2019; major revision July 1, 2022; July 10, 2022

Ngày 01/01/2019; sửa ngày 11/05/2019; sửa lớn ngày 01/07/2022; ngày 10/07/2022

Nibbāna = Stopping of Kamma Viññāṇa

Nibbāna = Sự chấm dứt của Kamma Viññāṇa

  1. Viññāṇa means “without ñāṇa” or without wisdom, i.e., with ignorance. Viññāṇa could also mean “defiled viññāṇa”, i.e., not knowing the consequences of doing dasa akusala. As we will see, there are two main types of viññāṇa (vipāka viññāṇa and kamma viññāṇa) and both are defiled.

Viññāṇa có nghĩa là “không có ñāṇa”, hay không có trí tuệ, tức là có vô minh. Viññāṇa cũng có thể mang nghĩa là “viññāṇa bị ô nhiễm”, tức là không biết hậu quả của việc làm dasa akusala. Như chúng ta sẽ thấy, có hai loại viññāṇa chính (vipāka viññāṇa và kamma viññāṇa), và cả hai đều bị ô nhiễm.

  • However, it is the kamma viññāṇa that is responsible for creating kammic energies that can bring future rebirths. This is the viññāṇa (“saṅkhāra paccayā viññāṇa”) in Paṭicca Samuppāda. But vipāka viññāṇa (cakkhu, sota, ghāṇa, jivhā, kāya, and mano viññāṇa) also provide an “incorrect representation of the world.” The Buddha called (any type of) viññāṇa a “magician.” See “WebLink: suttacentral: Pheṇapiṇḍūpama Sutta (SN 22.95).”

Tuy nhiên, chính kamma viññāṇa chịu trách nhiệm tạo ra các năng lượng kamma có thể đưa đến tái sinh trong tương lai. Đây là viññāṇa (“saṅkhāra paccayā viññāṇa”) trong Paṭicca Samuppāda. Nhưng vipāka viññāṇa (cakkhu, sota, ghāṇa, jivhā, kāya và mano viññāṇa) cũng cung cấp một “sự biểu hiện sai lệch của thế giới”. Đức Phật đã gọi (mọi loại) viññāṇa là “một nhà ảo thuật”. Xem “WebLink: suttacentral: Pheṇapiṇḍūpama Sutta (SN 22.95).”

  • When one attains Arahanthood when one’s paññā (wisdom) will be optimized and one will have “undefiled or clear viññāṇa.”

Khi một người chứng đạt quả Arahant, paññā (trí tuệ) của người ấy được tối ưu hóa và người ấy sẽ có “viññāṇa trong sạch, không ô nhiễm”.

  • There are many suttās that clearly state “viññāṇa nirodha,” or stopping the arising of kamma viññāṇa (defiled viññāṇa) leads to Nibbāna.

Có nhiều suttā nêu rõ rằng “viññāṇa nirodha”, hay sự chấm dứt sinh khởi của kamma viññāṇa (viññāṇa bị ô nhiễm), sẽ dẫn đến Nibbāna.

  1. A succinct statement can be found in the “WebLink: suttacentral: Dvayatānupassanāsutta (Snp 3.12)”:

Một tuyên bố súc tích có thể tìm thấy trong “WebLink: suttacentral: Dvayatānupassanāsutta (Snp 3.12)”:

Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti,
Sabbaṁ viññāṇapaccayā;
Viññāṇassa nirodhena
,
Natthi dukkhassa sambhavo
.”

  • Translated: “Whatever suffering that arises, all that arises due to “(kamma)viññāṇa”; With not arising of (kamma) viññāṇa, there is no existence with suffering.

Dịch: “Bất kỳ khổ đau nào sinh khởi, tất cả đều do “(kamma)viññāṇa”; khi (kamma)viññāṇa không sinh khởi, thì không còn sự hiện hữu của khổ đau.

  • I will introduce the concept of viññāṇa in a simple way. In the simplest form, “kamma viññāṇa” is any type of expectation even without moral/immoral implications. See, “ Viññāṇa (Consciousness) can be of Many Different Types and Forms.”

Tôi sẽ giới thiệu khái niệm viññāṇa theo cách đơn giản. Ở dạng đơn giản nhất, “kamma viññāṇa” là bất kỳ loại kỳ vọng nào, ngay cả khi không có hàm ý thiện hay bất thiện. Xem “2. Viññāṇa (Consciousness) can be of Many Different Types and Forms.”

  • A deeper explanation in, “Anidassana Viññāṇa – What It Really Means.”

Giải thích sâu hơn trong “Anidassana Viññāṇa – What It Really Means.”

Vipāka Viññāṇa and Kamma Viññāṇa

Vipāka ViññāṇaKamma Viññāṇa

  1. Viññāṇa includes or encompasses the following: our feelings (vedanā), perceptions (saññā), and a set of individual mental factors (cetasika). They all arise together, and the set of cetasika that arises is dependent on each person’s gati (habits/character). If you are not familiar with Abhidhamma, don’t worry about it. I will take a simple example to illustrate viññāṇa

Viññāṇa bao hàm những điều sau: các cảm thọ (vedanā), tri giác (saññā), và một tập hợp các yếu tố tâm riêng lẻ (cetasika). Tất cả chúng sinh khởi cùng nhau, và tập hợp cetasika sinh khởi phụ thuộc vào gati (thói quen/tính cách) của mỗi người. Nếu bạn chưa quen với Abhidhamma, đừng lo. Tôi sẽ lấy một ví dụ đơn giản để minh họa viññāṇa bên dưới.

  • Five of the six types of viññāṇa are strictly vipāka viññāṇa. These are the five types of viññāṇa associated with the five physical senses.

Năm trong sáu loại viññāṇa là hoàn toàn vipāka viññāṇa. Đó là năm loại viññāṇa gắn với năm giác quan vật lý.

  • We become aware of something in our physical world via cakkhu viññāṇa (seeing), sota viññāṇa (hearing), ghāṇa viññāṇa (smelling), jivhā viññāṇa (tasting), and kāya viññāṇa (touching); these are due to past kamma vipāka. When memories come to mind, they are also vipāka viññāṇa. Therefore, “vipāka viññāṇa” can come in through all six senses.

Chúng ta nhận biết thế giới vật lý qua cakkhu viññāṇa (thấy), sota viññāṇa (nghe), ghāṇa viññāṇa (ngửi), jivhā viññāṇa (nếm) và kāya viññāṇa (xúc chạm); tất cả đều do kamma vipāka trong quá khứ. Khi ký ức hiện lên trong tâm, chúng cũng là vipāka viññāṇa. Do đó, “vipāka viññāṇa” có thể đến qua cả sáu căn.

  • If we get interested in them, we may start generating mano viññāṇa and doing kamma. Those are “kamma viññāṇa.” Thus, “kamma viññāṇa” can only be mano viññāṇa. Cakkhu, sota, ghāṇa, jivhā, and kāya viññāṇa are ALWAYS “vipāka viññāṇa.”

Nếu chúng ta hứng thú với chúng, ta có thể bắt đầu tạo ra mano viññāṇa và tạo kamma. Đó là “kamma viññāṇa”. Vì vậy, “kamma viññāṇa” chỉ có thể là mano viññāṇa. Cakkhu, sota, ghāṇa, jivhā và kāya viññāṇa LUÔN LUÔN là “vipāka viññāṇa”.

  • Let us take a simple example to clarify those basic ideas.

Hãy lấy một ví dụ đơn giản để làm rõ những ý niệm căn bản đó.

Examples of Two Types of Viññāṇa

Ví Dụ Về Hai Loại Viññāṇa

  1. When a man X sees a young woman (Y), that is called a “seeing event” or cakkhu viññāṇa. It is a vipāka viññāṇa. Suppose the woman has just come to X’s workplace as a new employee.

Khi một người đàn ông X nhìn thấy một phụ nữ trẻ (Y), đó được gọi là một “sự kiện thấy” hay cakkhu viññāṇa. Đó là một vipāka viññāṇa. Giả sử người phụ nữ vừa mới đến chỗ làm của X với tư cách là một nhân viên mới.

  • With that cakkhu viññāṇa, X recognizes Y as an attractive female and that is called saññā; X may generate “happy feelings” when seeing Y and that is vedanā; X may also generate lust in his mind and that is a mental factor (cetasika).

Với cakkhu viññāṇa đó, X nhận diện Y là một người phụ nữ hấp dẫn, và đó là saññā; X có thể sinh khởi “cảm giác vui thích” khi thấy Y, và đó là vedanā; X cũng có thể sinh khởi dục vọng trong tâm, và đó là một yếu tố tâm (cetasika).

  • If X gets interested in Y, then X may also generate lust in his mind with subsequent mano viññāṇa, and start generating mano, vacī, and kāya saṅkhāra; see the previous post. These are “kamma viññāṇa” that arise via “saṅkhāra paccayā viññāṇa” in Paṭicca Samuppāda.

Nếu X trở nên hứng thú với Y, thì X có thể tiếp tục sinh khởi dục vọng trong tâm qua các mano viññāṇa kế tiếp, và bắt đầu tạo ra mano, vacī và kāya saṅkhāra; xem bài trước. Đây là những “kamma viññāṇa” sinh khởi qua “saṅkhāra paccayā viññāṇa” trong Paṭicca Samuppāda.

  1. With the establishment of this new kamma viññāṇa, there is now an expectation in X’s mind of getting a date to go out with Y, and maybe getting to marry Y someday.

Với sự hình thành của kamma viññāṇa mới này, giờ đây trong tâm X đã có một kỳ vọng là sẽ hẹn hò với Y, và có thể một ngày nào đó sẽ cưới Y.

  • That is a mano viññāṇa that stays hidden in X’s mind. It has the expectation of getting an opportunity to have a close relationship with Y.

Đó là một mano viññāṇa nằm ẩn trong tâm X. Nó mang kỳ vọng có được cơ hội để có một mối quan hệ thân mật với Y.

  • That idea will remain hidden in X’s mind and can re-surface at appropriate times, especially when seeing Y again, or when someone mentions Y’s name, for example. This is “viññāṇa paccayā saṅkhāra” in Paṭicca Samuppāda.

Ý niệm đó sẽ tiếp tục nằm ẩn trong tâm X và có thể trồi lên vào những lúc thích hợp, đặc biệt là khi lại thấy Y, hay khi ai đó nhắc đến tên Y chẳng hạn. Đây là “viññāṇa paccayā saṅkhāra” trong Paṭicca Samuppāda.

  • The more X engages in generating such saṅkhāra, the kamma viññāṇa will also strengthen; that is the “saṅkhāra paccayā viññāṇa” in Paṭicca Samuppāda.

X càng dấn sâu vào việc tạo ra những saṅkhāra như vậy thì kamma viññāṇa cũng càng mạnh lên; đó là “saṅkhāra paccayā viññāṇa” trong Paṭicca Samuppāda.

It Is Kamma Viññāṇa That Can “Grow”

Chính Kamma Viññāṇa Mới Là Thứ Có Thể “Tăng Trưởng”

  1. Thus both “saṅkhāra paccayā viññāṇa” and “viññāṇa paccayā saṅkhāra” will be operating back and forth, and will keep strengthening that viññāṇa.

Vì vậy, cả “saṅkhāra paccayā viññāṇa” và “viññāṇa paccayā saṅkhāra” sẽ vận hành qua lại, và liên tục làm mạnh thêm viññāṇa đó.

  • This is what is meant in many suttā by saying that “viññāṇa will grow” as one keeps doing saṅkhāra. That refers to kamma viññāṇa.

Đó là ý nghĩa của nhiều suttā khi nói rằng “viññāṇa sẽ tăng trưởng” khi một người tiếp tục tạo saṅkhāra. Điều đó ám chỉ kamma viññāṇa.

For example, in the “WebLink: suttacentral: Cetanā Sutta (SN 12.38)”:

Ví dụ, trong “WebLink: suttacentral: Cetanā Sutta (SN 12.38)”:

Yañca, bhikkhave, ceteti yañca pakappeti yañca anuseti, ārammaṇametaṁ hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṁ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hoti. Āyatiṁ punabbhavābhinibbattiyā sati āyatiṁ jāti jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.”

Translated:Bhikkhus, what one intends, and what one plans, and whatever one has a tendency towards — this focus (ārammaṇa) becomes a basis for the maintenance of viññāṇa. When there is an ārammaṇa there is support for the establishing of kamma viññāṇa. When that viññāṇa is established and has come to growth, there is the arising of future renewed existence (punabbhavā). When there is the future renewed existence, future birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair come to be. Such is the origin of this whole mass of suffering.”

Dịch: “Này các Bhikkhu, điều gì một người có ý định, điều gì người ấy hoạch định, và bất cứ khuynh hướng nào người ấy có — thì sự chú tâm đó (ārammaṇa) trở thành nền tảng cho sự duy trì của viññāṇa. Khi có ārammaṇa thì có sự nâng đỡ cho việc thiết lập kamma viññāṇa. Khi viññāṇa đó được thiết lập và tăng trưởng, thì có sự sinh khởi của sự hiện hữu tái diễn trong tương lai (punabbhavā). Khi có sự hiện hữu tái diễn trong tương lai, thì có sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não trong tương lai. Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.”

  1. So, let us assume that X has been seeing Y for a few days and may have even gotten to talk to her a few times (vacīkāya saṅkhāra are associated with those activities). Each time X interacts with Y, that “kamma viññāṇa for having a close relationship with Y” will grow in X’s mind.

Vì vậy, giả sử X đã gặp Y trong vài ngày và thậm chí đã nói chuyện với cô ấy vài lần (vacī và kāya saṅkhāra gắn với những hoạt động đó). Mỗi lần X tương tác với Y, thì “kamma viññāṇa muốn có mối quan hệ thân mật với Y” lại tăng trưởng trong tâm X.

  • Furthermore, X will be thinking about Y often (which is generating vacī saṅkhāra), which will also help make that “kamma viññāṇa for having a close relationship with Y” to grow.

Hơn nữa, X sẽ thường xuyên nghĩ về Y (tạo ra vacī saṅkhāra), điều này cũng giúp cho “kamma viññāṇa muốn có mối quan hệ thân mật với Y” tăng trưởng.

  • That happens via “saṅkhāra paccayā viññāṇa” step in Paṭicca Samuppāda.

Điều đó diễn ra qua bước “saṅkhāra paccayā viññāṇa” trong Paṭicca Samuppāda.

  1. Several days later, X finds out that Y is married when her husband comes to meet her at work.

Vài ngày sau, X phát hiện ra rằng Y đã có chồng khi chồng cô ấy đến gặp cô tại nơi làm việc.

  • He could clearly see that she is happily married and there is no point in even thinking about having a relationship with her.

Anh ta thấy rõ rằng cô ấy đang hạnh phúc trong hôn nhân và không còn lý do gì để nghĩ đến việc có mối quan hệ với cô.

  • In an instant, X’s “kamma viññāṇa for having a close relationship with Y” will be eliminated (for most people).

Ngay lập tức, “kamma viññāṇa muốn có mối quan hệ thân mật với Y” của X sẽ bị triệt tiêu (đối với đa số mọi người).

  • When the reality of the situation is comprehended by the mind, the corresponding “kamma viññāṇa” will be stopped. This is what is meant by “viññāṇa nirodha.”

Khi tâm hiểu rõ thực tại của tình huống, thì “kamma viññāṇa” tương ứng sẽ chấm dứt. Đây chính là ý nghĩa của “viññāṇa nirodha”.

Kamma Viññāṇa Can be Stopped from Arising

Kamma Viññāṇa Có Thể Được Ngăn Không Cho Sinh Khởi

  1. Therefore, it is important to see that a kamma viññāṇa (or an expectation) will be eliminated as soon as one realizes the futility (or the dangers) of that expectation.

Vì vậy, điều quan trọng là phải thấy rằng một kamma viññāṇa (tức một kỳ vọng) sẽ bị loại trừ ngay khi ta nhận ra sự vô ích (hay nguy hiểm) của kỳ vọng ấy.

  • At a deeper level, all of one’s highly immoral types of kamma viññāṇa will be permanently removed when one will be able to see the futility/dangers of engaging in immoral deeds. That is when one attains the Sotāpanna stage via comprehending Tilakkhaṇa.

Ở mức độ sâu hơn, tất cả những loại kamma viññāṇa rất bất thiện sẽ bị loại bỏ vĩnh viễn khi một người có thể thấy rõ sự vô ích/nguy hại của việc dấn thân vào các hành động bất thiện. Đó là khi người ấy đạt đến tầng bậc Sotāpanna thông qua việc hiểu Tilakkhaṇa.

  • Next, one’s expectation for seeking pleasures in this world will be totally removed when one realizes the futility — and dangers — of seeking such sense pleasures. That is when one attains the Anāgāmi stage of Nibbāna.

Tiếp theo, kỳ vọng tìm cầu khoái lạc trong thế gian sẽ được loại bỏ hoàn toàn khi một người nhận ra sự vô ích — và nguy hại — của việc tìm cầu những khoái lạc giác quan đó. Đó là khi người ấy đạt đến tầng bậc Anāgāmi của Nibbāna.

  • Once one becomes an Anāgāmi, one is at a stage where one can start seeing the futility of jhānic pleasures and start getting rid of rūpa rāga and arūpa rāga (or the futility of being born in the rūpāvacara and arūpāvacara That is when one becomes an Arahant.

Khi đã trở thành Anāgāmi, người ấy ở vào giai đoạn có thể bắt đầu thấy rõ sự vô ích của các khoái lạc jhāna và bắt đầu đoạn trừ rūpa rāga và arūpa rāga (tức là thấy rõ sự vô ích của việc sinh vào các cõi rūpāvacara và arūpāvacara). Đó là khi người ấy trở thành một Arahant.

  • Therefore, the way to Nibbāna is a step-by-step process; see, “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?.”

Vì vậy, con đường đến Nibbāna là một tiến trình từng bước; xem “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?.”

  1. There are many types of kamma viññāṇa that we can have. The minor ones are just expectations of getting something done or buying something or getting a new job, etc.

Có nhiều loại kamma viññāṇa khác nhau. Những loại nhỏ chỉ là các kỳ vọng hoàn thành một việc gì đó, mua một thứ gì đó hay kiếm một công việc mới, v.v.

  • Saṅkhāra or “thinking of that expectation and making plans to get it done also by speaking and doing things (that includes vacī saṅkhāra and kāya saṅkhāra)” will make that viññāṇa This comes via the “saṅkhāra paccayā viññāṇa” step.

Saṅkhāra hay việc “nghĩ về kỳ vọng đó và lập kế hoạch để thực hiện nó bằng lời nói và hành động (bao gồm vacī saṅkhāra và kāya saṅkhāra)” sẽ làm cho viññāṇa ấy tăng trưởng. Điều này diễn ra qua bước “saṅkhāra paccayā viññāṇa”.

  • In another example, suppose X is thinking about buying a certain type of car. That idea or expectation will be “at the back of his mind” all the time. If he sees a car like that on the road, then that viññāṇa will be awakened, and he will start thinking about it again. Now, one day X buys that car. Then that viññāṇa will also disappear since he will no longer be interested in buying a car. That expectation has been fulfilled.

Trong một ví dụ khác, giả sử X đang nghĩ đến việc mua một loại xe nào đó. Ý tưởng hay kỳ vọng đó sẽ luôn “ở trong tâm trí” của anh ta. Nếu anh ta thấy một chiếc xe như vậy trên đường, thì viññāṇa ấy sẽ được đánh thức và anh ta lại bắt đầu nghĩ về nó. Rồi một ngày nọ X mua được chiếc xe đó. Khi ấy viññāṇa đó cũng biến mất vì anh ta không còn hứng thú với việc mua xe nữa. Kỳ vọng đó đã được thỏa mãn.

  • Therefore, a kamma viññāṇa will “take hold in the and grow” only as long as one has a desire AND one believes that it can be fulfilled.

Vì vậy, một kamma viññāṇa sẽ chỉ “bám trụ và tăng trưởng” chừng nào còn có ham muốn VÀ còn tin rằng nó có thể được thực hiện.

  1. I gave those two examples to illustrate the basic concept. But more complex types of viññāṇa can grow based on certain types of activities that X engages in, and those can become paṭisandhi viññāṇa that can lead to rebirths.

Tôi đưa ra hai ví dụ đó để minh họa khái niệm căn bản. Nhưng những loại viññāṇa phức tạp hơn có thể tăng trưởng dựa trên những hoạt động nhất định mà X dấn thân vào, và chúng có thể trở thành paṭisandhi viññāṇa dẫn đến tái sinh.

  • For example, if X constantly engages in helping others, donating time and money to charities, etc., he would be cultivating the mindset of a deva (even without knowing). Then that “moral viññāṇa” would grow with time and may lead to a rebirth in a deva

Ví dụ, nếu X thường xuyên giúp đỡ người khác, hiến tặng thời gian và tiền bạc cho từ thiện, v.v., thì anh ta đang nuôi dưỡng tâm thế của một deva (dù không hề hay biết). Khi đó “viññāṇa thiện” ấy sẽ tăng trưởng theo thời gian và có thể dẫn đến tái sinh trong cõi deva.

  • If one is constantly thinking and planning to make money by exploiting/deceiving others, he/she is doing vacī/kāya saṅkhāra that will be feeding a “bad kamma viññāṇa” that can lead to a birth in the apāyās.

Nếu một người liên tục nghĩ và lập kế hoạch kiếm tiền bằng cách bóc lột/lừa dối người khác, thì người ấy đang tạo vacī/kāya saṅkhāra nuôi dưỡng một “kamma viññāṇa xấu” có thể dẫn đến sinh vào các apāyā.

  • Therefore, viññāṇa can be various types.

Vì vậy, viññāṇa có thể thuộc nhiều loại khác nhau.

Kamma Viññāṇa Can Only be Mano Viññāṇa

Kamma Viññāṇa Chỉ Có Thể Là Mano Viññāṇa

  1. As we discussed in #2, there are five basic types of “vipāka viññāṇa” just bring external sense objects (pictures, sounds, tastes, smells, and touches) to our mind. Vipāka viññāṇa can also bring memories directly to mind (the sixth sense).

Như đã thảo luận ở mục #2, có năm loại “vipāka viññāṇa” căn bản chỉ mang các đối tượng giác quan bên ngoài (hình ảnh, âm thanh, mùi vị, mùi hương và xúc chạm) vào tâm. Vipāka viññāṇa cũng có thể trực tiếp mang ký ức vào tâm (giác quan thứ sáu).

  • Then mano viññāṇa takes over, and will decide to act on it — and if needed — makes “future expectations” or “future plans”. Therefore, it is the mano viññāṇa that has expectations for the future.

Sau đó mano viññāṇa tiếp quản và sẽ quyết định hành động dựa trên đó — và nếu cần — tạo ra các “kỳ vọng tương lai” hay “kế hoạch tương lai”. Vì vậy, chính mano viññāṇa là thứ có các kỳ vọng cho tương lai.

  • We ignore most of the things we see, hear, etc. But if we get attracted to something, then we will be going back to see, hear, etc, and may be making other related plans too. That is all done with mano viññāṇa, a “kamma viññāṇa.”

Chúng ta bỏ qua hầu hết những gì mình thấy, nghe, v.v. Nhưng nếu bị cuốn hút bởi một điều gì đó, thì chúng ta sẽ quay lại để nhìn, nghe, v.v., và có thể còn lập thêm những kế hoạch liên quan. Tất cả điều này đều do mano viññāṇa, một “kamma viññāṇa”, thực hiện.

  1. Obviously, paṭisandhi viññāṇa is a very important kamma viññāṇa. It can determine future births.

Rõ ràng, paṭisandhi viññāṇa là một kamma viññāṇa vô cùng quan trọng. Nó có thể quyết định các lần sinh trong tương lai.

  • This is a complex subject, but when one engages in highly immoral deeds, the paṭisandhi viññāṇa that grows may not be what one desires.

Đây là một chủ đề phức tạp, nhưng khi một người dấn thân vào những hành động rất bất thiện, thì paṭisandhi viññāṇa tăng trưởng có thể không phải là điều người ấy mong muốn.

  • For example, suppose X is a serial rapist. He gets a temporary sense of satisfaction by raping women. What he does not know is that he is cultivating a kamma viññāṇa that is appropriate for an animal. So, he could get an animal birth because of that immoral kamma viññāṇa he is cultivating.

Ví dụ, giả sử X là một kẻ hiếp dâm hàng loạt. Hắn đạt được sự thỏa mãn tạm thời qua việc hiếp dâm phụ nữ. Điều hắn không biết là hắn đang nuôi dưỡng một kamma viññāṇa phù hợp với loài súc sinh. Vì vậy, hắn có thể tái sinh làm súc sinh do kamma viññāṇa bất thiện mà hắn đang nuôi dưỡng.

  • So, hopefully, you can see the connection between viññāṇa and gati (pronounced “gathi”) too. Gati (character qualities/habits) is an important concept that has been hidden in recent years.

Vì vậy, hy vọng bạn cũng có thể thấy mối liên hệ giữa viññāṇa và gati (phát âm là “gathi”). Gati (phẩm chất/thói quen) là một khái niệm quan trọng đã bị lãng quên trong thời gian gần đây.

Connection to Magga Phala

Liên hệ với Magga Phala

  1. When one attains the Sotāpanna stage of Nibbāna, one would see the futility of such immoral and briefly-lived sense pleasures. Then such types of “immoral kamma viññāṇa” would not be cultivated in his mind.

Khi một người chứng đạt tầng bậc Sotāpanna của Nibbāna, người ấy sẽ thấy rõ sự vô ích của những khoái lạc giác quan bất thiện và chóng tàn đó. Khi ấy, những loại “kamma viññāṇa bất thiện” như vậy sẽ không còn được nuôi dưỡng trong tâm nữa.

  • In other words, one’s “hidden immoral gati” will be permanently removed at the Sotāpanna

Nói cách khác, “gati bất thiện tiềm ẩn” của một người sẽ bị loại bỏ vĩnh viễn ở bậc Sotāpanna.

  • That is comparable to X losing the “viññāṇa for having a close relationship with Y” in #4 to #7 above. In that case, X clearly saw the uselessness of having that viññāṇa, and it died.

Điều đó tương tự như việc X mất đi “viññāṇa muốn có mối quan hệ thân mật với Y” ở các mục 4 đến 7 phía trên. Trong trường hợp đó, X thấy rõ sự vô ích của viññāṇa ấy và nó chấm dứt.

  • It would be a good idea to read and understand posts on gati: “How Habits are Formed and Broken – A Scientific View”; “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein”; “Gati to Bhava to Jāti – Ours to Control.”

Nên đọc và hiểu các bài viết về gati: “How Habits are Formed and Broken – A Scientific View”; “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein”; “Gati to Bhava to Jāti – Ours to Control.”

  1. I made this discussion simple in order to get two main ideas across, which are:

Tôi đã trình bày phần này theo cách đơn giản nhằm truyền đạt hai ý chính sau:

Viññāṇa là một khái niệm phức tạp. Vì vậy không thích hợp khi chỉ dịch viññāṇa là “consciousness (ý thức)”. Xem “WebLink: puredhamma.net: Search Results for: viññāṇa two meanings.”

  • Mano viññāṇa arise due to saṅkhāra (“saŋ” + “khāra”). We cultivate those via “saṅkhāra paccayā viññāṇa” in the Paṭicca Samuppāda

Mano viññāṇa sinh khởi do saṅkhāra (“saŋ” + “khāra”). Chúng ta nuôi dưỡng chúng thông qua “saṅkhāra paccayā viññāṇa” trong các chu kỳ Paṭicca Samuppāda.

  • This is why “saŋ” is a key root word in Pāli; see, “What is “Saŋ”? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra).”

Đó là lý do vì sao “saŋ” là một từ gốc then chốt trong Pāli; xem “What is “Saŋ”? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra).”

Incorrect Translations Do Not Distinguish the Two Types of Viññāṇa

Các Bản Dịch Sai Không Phân Biệt Được Hai Loại Viññāṇa

  1. I hope that those who translate deep suttā word-by-word will at least read these series of posts and make amendments to their ways of translating key suttā that discuss deep meanings. They are no different from the Sāti bhikkhu who could not understand what is meant by viññāṇa in the WebLink: suttacentral: Mahā Taṇhāsaṅkhaya Sutta (MN 38).

Tôi hy vọng rằng những người dịch các suttā sâu sắc theo kiểu từng chữ sẽ ít nhất đọc loạt bài này và điều chỉnh lại cách dịch các suttā then chốt có nội dung sâu xa. Họ không khác gì vị bhikkhu Sāti đã không hiểu được ý nghĩa của viññāṇa trong “WebLink: suttacentral: Mahā Taṇhāsaṅkhaya Sutta (MN 38).”

  • One should not be translating such deep suttā (also there is no point in reading them either) until one understands what is meant by viññāṇa.

Người ta không nên dịch những suttā sâu sắc như vậy (và cũng không nên đọc chúng) cho đến khi hiểu được ý nghĩa của viññāṇa.

  1. The WebLink: suttacentral: Kevaṭṭa Sutta (DN 11) is another such sutta (among many others).

WebLink: suttacentral: Kevaṭṭa Sutta (DN 11) ” là một sutta khác thuộc loại đó (trong số rất nhiều bài).

  • The key verse there is at the end of the sutta: “Viññāṇaṁ anidassanaṁ, anantaṁ sabbatopabhaṁ Ettha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati. Ettha dīghañca rassañca, aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ; Ettha nāmañca rūpañca, asesaṁ uparujjhati; Viññāṇassa nirodhena, etthetaṁ uparujjhatī”ti.

Câu kệ then chốt ở cuối sutta là: “Viññāṇaṁ anidassanaṁ, anantaṁ sabbatopabhaṁ
Ettha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati. Ettha dīghañca rassañca, aṇuṁ thūlaṁ
subhāsubhaṁ; Ettha nāmañca rūpañca, asesaṁ uparujjhati; Viññāṇassa nirodhena, etthetaṁ uparujjhatī”ti.

  • This is explained in detail in, “Pabhassara Citta, Radiant Mind, and Bhavaṅga.”

Điều này được giải thích chi tiết trong bài “Pabhassara Citta, Radiant Mind, and Bhavaṅga”.

  1. As I have said many times, Buddha Dhamma is deep. It takes an effort to learn. Just translating deep suttā word-by-word or just reading those translations will not be of many benefits in the long run.

Như tôi đã nói nhiều lần, Dhamma của Đức Phật rất sâu sắc. Việc học đòi hỏi phải có nỗ lực. Chỉ dịch từng chữ các suttā sâu sắc hay chỉ đọc các bản dịch đó sẽ không mang lại nhiều lợi ích về lâu dài.

  • Of course, some suttā can be translated word-by-word, like the WebLink: suttacentral: Kesamutti Sutta or Kālāma Sutta (AN 3.65). Those are basic suttā that provide guidelines to live a moral life. But deep suttā that discuss anicca, anatta, or Nibbāna require a deeper knowledge of the basics like what is meant by saññā, viññāṇa, saṅkhāra, etc.

Dĩ nhiên, một số suttā có thể dịch từng chữ, như “WebLink: suttacentral: Kesamutti Sutta or Kālāma Sutta (AN 3.65)”. Đó là những suttā căn bản đưa ra các hướng dẫn để sống một đời sống đạo đức. Nhưng các suttā sâu sắc bàn về anicca, anatta hay Nibbāna đòi hỏi phải có kiến thức nền tảng vững chắc về ý nghĩa của saññā, viññāṇa, saṅkhāra, v.v.

  • It is best to learn the meanings of these keywords and just use them, instead of translating them as a single English word. I hope you can see why, with the above discussion on viññāṇa.

Tốt nhất là học ý nghĩa của các từ khóa này và dùng trực tiếp chúng, thay vì cố gắng dịch chúng bằng một từ tiếng Anh duy nhất. Tôi hy vọng bạn có thể thấy được lý do qua phần thảo luận về viññāṇa ở trên.

  • Also see, “Connection Between Saṅkhāra and Viññāṇa” and “Viññāṇa and Saṅkhāra – Connection to Paṭicca Samuppāda.” These three posts are essential to be understood if one really wants to understand Buddha Dhamma.

Xem thêm “Connection Between Saṅkhāra and Viññāṇa” và “Viññāṇa and Saṅkhāra – Connection to Paṭicca Samuppāda.” Ba bài này là cốt yếu nếu thật sự muốn hiểu Dhamma của Đức Phật.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *