February 25, 2019; revised August 28, 2002
Ngày 25/02/2019; sửa ngày 28/08/2002
- To review what we have covered in the last few posts in “Essential Buddhism”:
Để điểm lại những gì chúng ta đã trình bày trong vài bài gần đây của “Essential Buddhism”:
- A defiled consciousness or viññāṇa has an “expectation” for the future. The “kammic energy” in “kamma viññāṇa” is responsible for “sustaining the rebirth process.”
Một thức bị ô nhiễm hay viññāṇa có một “kỳ vọng” cho tương lai. “Năng lượng kamma” trong “kamma viññāṇa” chịu trách nhiệm “duy trì tiến trình tái sinh”.
- We do that willingly by generating (abhi)saṅkhāra, i.e., how we think, speak, and act.
Chúng ta tự nguyện làm điều đó bằng cách tạo (abhi)saṅkhāra, tức là cách chúng ta nghĩ, nói và hành động. - One who has not understood the First Noble Truth is willingly generating (abhi)saṅkhāra via, “avijjā paccayā saṅkhāra” which leads then to the cultivation of different types of viññāṇa via “saṅkhāra paccayā viññāṇa” step. That is how Paṭicca Samuppāda cycles start. They end up in “jāti paccayā jarā, maraṇa, soka, parideva, dukkha..”, the whole mass of suffering!
Người chưa hiểu Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất sẽ tự nguyện tạo (abhi)saṅkhāra qua bước “avijjā paccayā saṅkhāra”, rồi dẫn đến việc nuôi dưỡng nhiều loại viññāṇa khác nhau qua bước “saṅkhāra paccayā viññāṇa”. Đó là cách các chu kỳ Paṭicca Samuppāda khởi động và cuối cùng đưa đến “jāti paccayā jarā, maraṇa, soka, parideva, dukkha..”, tức toàn bộ khối khổ đau.
- Therefore, “avijjā paccayā saṅkhāra” and “saṅkhāra paccayā viññāṇa” lead to all future suffering. We will proceed step-by-step.
Vì vậy, “avijjā paccayā saṅkhāra” và “saṅkhāra paccayā viññāṇa” dẫn đến mọi khổ đau trong tương lai. Chúng ta sẽ đi từng bước một.
- The five types of viññāṇa can be called “just consciousness,” i.e., without “future expectations.” These are cakkhu viññāṇa (a “seeing event”), sota viññāṇa (a “hearing event”), etc for the five physical sense inputs. One more special case with mano viññāṇa is discussed in #4 below.
Năm loại viññāṇa có thể được gọi là “chỉ là ý thức thuần túy”, tức là không có “kỳ vọng tương lai”. Đó là cakkhu viññāṇa (một “sự kiện thấy”), sota viññāṇa (một “sự kiện nghe”), v.v. ứng với năm giác quan vật lý. Một trường hợp đặc biệt khác của mano viññāṇa sẽ được bàn ở mục #4 dưới đây.
- A “defiled viññāṇa” or “an expectation for the future” is associated only with the mano viññāṇa, which is what is normally referred to in a Paṭicca Samuppāda cycle if a specific type is not mentioned.
Một “viññāṇa bị ô nhiễm” hay “một kỳ vọng cho tương lai” chỉ gắn với mano viññāṇa, và đó là loại thường được nhắc đến trong một chu kỳ Paṭicca Samuppāda khi không nêu rõ loại cụ thể.
- Therefore, in Paṭicca Samuppāda or any sutta, if a reference is made to viññāṇa, that is referring to “mano viññāṇa” or “mind consciousness.”
Vì vậy, trong Paṭicca Samuppāda hay trong bất kỳ sutta nào, nếu chỉ nói đến viññāṇa thì đang ám chỉ đến “mano viññāṇa” hay “thức của tâm”.
- The mind generates the “kammic power” to create “kammic energy” or “kamma bīja” (“bīja” is pronounced “beeja”); see, “Saṅkhāra, Kamma, Kamma Bīja, Kamma Vipāka.”
Tâm tạo ra “năng lực kamma” để hình thành “năng lượng kamma” hay “kamma bīja” (đọc là “beeja”); xem, “Saṅkhāra, Kamma, Kamma Bīja, Kamma Vipāka.”
- Other five types of viññāṇa (e.g., cakkhu viññāṇa, etc.) are only registered in the mind when we see, hear, taste, etc.
Năm loại viññāṇa còn lại (như cakkhu viññāṇa, v.v.) chỉ được ghi nhận trong tâm khi ta thấy, nghe, nếm, v.v.
- This is stated as “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ” in suttā or Abhidhamma. This normally translates as “eye-consciousness arises when a picture is seen or received by the eyes.” That gives the basic idea but has a deeper meaning. See “Contact Between Āyatana Leads to Vipāka Viññāṇa.”
Điều này được diễn đạt trong suttā hay Abhidhamma là “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ”, thường dịch là “nhãn thức sinh khởi khi mắt thấy hình ảnh.” Cách dịch đó cho ý cơ bản nhưng còn có ý nghĩa sâu hơn; xem “Contact Between Āyatana Leads to Vipāka Viññāṇa.”
- Similarly, hearing happens with “sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ”, etc.
Tương tự, việc nghe xảy ra với “sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ”, v.v.
- In addition to the sensory inputs via the five physical senses, we also get sense inputs DIRECTLY to the mind. These are “memories and future hopes” that just come to the mind and are mano viññāṇa. Even though they seem to come to the mind for no reason, it also happens due to the mind DIRECTLY receiving a memory (called dhammā; this dhammā is different from dhamma in Buddha Dhamma).
Ngoài các dữ liệu giác quan qua năm giác quan vật lý, chúng ta còn nhận dữ liệu TRỰC TIẾP vào tâm. Đó là “ký ức và hy vọng tương lai” tự khởi lên trong tâm và là mano viññāṇa. Dù chúng có vẻ xuất hiện không có lý do, nhưng thực ra đó là do tâm TRỰC TIẾP nhận một ký ức (gọi là dhammā; dhammā ở đây khác với từ dhamma trong Dhamma của Đức Phật).
- This process is stated as “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ,” or “mind-consciousness arises when the mana indriya or the mind receives a dhammā (of a memory).”
Tiến trình này được diễn đạt là “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ”, hay “thức của tâm sinh khởi khi căn mana hay tâm nhận một dhammā (một ký ức).”
- This event is also “just consciousness,” remembering a past event or a future expectation; for a deeper discussion, see, “What are Dhammā? – A Deeper Analysis.”
Sự kiện này cũng chỉ là “ý thức thuần túy”, tức là nhớ lại một sự kiện quá khứ hay một kỳ vọng tương lai; để hiểu sâu hơn, xem “What are Dhammā? – A Deeper Analysis.”
- Therefore, the mind can “receive” six types of “sensory inputs”, i.e., the mind becomes “aware of” or “becomes conscious about” those six types of sense events.
Vì vậy, tâm có thể “tiếp nhận” sáu loại “dữ liệu giác quan”, tức là tâm “nhận biết” hay “ý thức được” sáu loại sự kiện giác quan đó.
- Based on those, the mind may “take actions” (to think further, to speak, or to act using the body). Those are called vacī and kāya saṅkhāra.
Dựa trên các dữ liệu đó, tâm có thể “hành động” (suy nghĩ thêm, nói ra, hay hành động bằng thân). Những điều đó được gọi là vacī và kāya saṅkhāra.
- Such saṅkhāra then leads to a defiled mindset or a “defiled viññāṇa” via the Paṭicca Samuppāda (PS) process. Therefore, such “defiled viññāṇa” can arise only via PS processes.
Những saṅkhāra như vậy dẫn đến một trạng thái tâm bị ô nhiễm hay “viññāṇa bị ô nhiễm” thông qua tiến trình Paṭicca Samuppāda (PS). Vì thế, “viññāṇa bị ô nhiễm” chỉ có thể sinh khởi thông qua các tiến trình PS.
- And that happens ONLY IF the mind gets attached to that sense input (an attractive figure, a pleasing sound, tasty food, nice smell, soothing touch, or an important past event (or planned future event).
Và điều đó CHỈ xảy ra KHI tâm dính mắc vào đối tượng giác quan đó (một hình ảnh hấp dẫn, một âm thanh dễ chịu, món ăn ngon, mùi hương dễ chịu, cảm giác chạm êm dịu, hay một sự kiện quan trọng trong quá khứ hoặc được hoạch định cho tương lai).
- Please read the above points in #5 carefully until the concept is understood. This is the key to understanding the key Pāli words saṅkhāra and viññāṇa and also the concept of Paṭicca Samuppāda.
Xin hãy đọc kỹ các điểm ở mục #5 cho đến khi hiểu được khái niệm này. Đây là chìa khóa để hiểu các thuật ngữ Pāli then chốt là saṅkhāra và viññāṇa, cũng như khái niệm Paṭicca Samuppāda.
- Whenever we willingly grasp something (or get attached to something), whatever results from that action has the corresponding nature. Because one got attached willingly, a similar bhava (existence) will result: i.e., pati+icca leading to sama+uppāda or Paṭicca Samuppāda (PS).
Bất cứ khi nào ta tự nguyện nắm giữ hay dính mắc vào một điều gì, thì kết quả phát sinh từ hành động đó sẽ có bản chất tương ứng. Vì ta dính mắc một cách tự nguyện, nên một bhava (hữu) tương tự sẽ hình thành: tức là pati+icca dẫn đến sama+uppāda, hay Paṭicca Samuppāda (PS).
- Here, “pati+icca” means “getting attached willingly,” and “sama+uppāda” means “giving rise to a corresponding (similar) existence.” [uppāda :[m.] rising; coming into existence; birth.]
Ở đây, “pati+icca” có nghĩa là “dính mắc một cách tự nguyện”, và “sama+uppāda” có nghĩa là “làm phát sinh một hữu tương ứng (tương tự)”. [uppāda: [danh từ giống đực] sự khởi lên; sự đi vào hiện hữu; sự sinh.]
- The “existence” one gets according to one’s saṅkhāra generated according to one’s mindset. As we have discussed before, the first mano saṅkhāra arises automatically based on one’s gati (or gathi), when one gets attached to a sensory event.
“Hữu” mà một người đạt được là tùy theo saṅkhāra được tạo ra dựa trên trạng thái tâm của mình. Như đã bàn trước đây, mano saṅkhāra đầu tiên sinh khởi tự động dựa trên gati (hay gathi) của mỗi người khi họ dính mắc vào một sự kiện giác quan.
- Then if one does not act with mindfulness (i.e., does not see the bad consequences of generating such thoughts), one will start generating vacī saṅkhāra. If one’s emotions get strong enough, one could start speaking (more vacī saṅkhāra) and even taking bodily actions (kāya saṅkhāra). A deeper discussion at “Correct Meaning of Vacī Saṅkhāra.”
Sau đó, nếu người ấy không hành xử với chánh niệm (tức là không thấy được hậu quả xấu của việc tạo những suy nghĩ đó), thì sẽ bắt đầu sinh vacī saṅkhāra. Nếu cảm xúc trở nên đủ mạnh, người ấy có thể bắt đầu nói ra (nhiều vacī saṅkhāra hơn) và thậm chí hành động bằng thân (kāya saṅkhāra). Phần thảo luận sâu hơn xem tại “Correct Meaning of Vacī Saṅkhāra.”
- We will first consider a PS process that happens often during a lifetime. This PS process is not discussed in the Visuddhimagga or any current English texts on Buddha Dhamma.
Trước hết, chúng ta sẽ xét một tiến trình PS thường xảy ra trong suốt một đời người. Tiến trình PS này không được bàn đến trong Visuddhimagga hay trong các tài liệu tiếng Anh hiện nay về Dhamma của Đức Phật.
- In pavutti PS, bhava or existence refers to a “temporary existence” during a given lifetime. Pavutti means “current.” [pavatti : [aor. of pavattati] moved on; proceeded; existed. (f.) happening; incident; news.]
Trong pavutti PS, bhava hay hữu ám chỉ đến một “hữu tạm thời” trong một đời sống hiện tại. Pavutti có nghĩa là “hiện hành”. [pavatti : [quá khứ phân từ của pavattati] đã tiếp diễn; đã xảy ra; đã tồn tại. (danh từ giống cái) sự việc xảy ra; biến cố; tin tức.]
- In the most fundamental sense, a “greedy state of mind” will result when we get attached via greed, i.e., one develops a habit or gati or bhava corresponding to that state of mind; a “hateful state” (habit/gati/bhava) results via hateful attachment; acts of greed and/or hate are always done with ignorance.
Ở nghĩa căn bản nhất, một “trạng thái tâm tham” sẽ hình thành khi chúng ta dính mắc bằng tham, tức là phát triển một thói quen hay gati hay bhava tương ứng với trạng thái tâm đó; một “trạng thái sân hận” (thói quen/gati/bhava) hình thành qua sự dính mắc mang tính sân; các hành vi tham và/hoặc sân luôn luôn được thực hiện với vô minh.
- The pavutti PS describes how we develop certain habits or bhava or gati during a given lifetime. It is often easier to use an example to illustrate these PS cycles.
Pavutti PS mô tả cách chúng ta phát triển những thói quen hay bhava hay gati trong suốt một đời sống. Thường thì dùng ví dụ sẽ dễ minh họa các chu kỳ PS này hơn.
- Pavutti PS is important because the habits (gati) cultivated during this lifetime can feed the uppatti PS process leading to future rebirths. [upapatti : [f.] birth; rebirth; approach.][uppatti : [f.] rebirth; coming forth; origin.]
Pavutti PS rất quan trọng vì các thói quen (gati) được nuôi dưỡng trong đời này có thể nuôi tiến trình uppatti PS, dẫn đến tái sinh trong tương lai. [upapatti: [danh từ giống cái] sự sinh; tái sinh; sự tiếp cận.][uppatti: [danh từ giống cái] sự tái sinh; sự phát sinh; nguồn gốc.]
- Let us examine how a teenager becomes an alcoholic, using the pavutti PS. The teenager becomes friendly with a group of other teenagers who are into drinking. Initially, he may be reluctant to join in, but due to ignorance (avijjā), he joins them and starts drinking.
Chúng ta hãy xem một thiếu niên trở thành người nghiện rượu như thế nào qua pavutti PS. Thiếu niên đó kết thân với một nhóm bạn cùng tuổi thích uống rượu. Ban đầu có thể cậu ta còn do dự, nhưng vì vô minh (avijjā), cậu tham gia và bắt đầu uống rượu.
- Suppose a good friend or a family member knew about the situation. In that case, they could have prevented the teenager from associating with such bad company, i.e., ignorance could have been dispelled by explaining to him the adverse effects of drinking and associating with such a group.
Giả sử một người bạn tốt hay người trong gia đình biết được tình hình, họ có thể ngăn cản thiếu niên đó giao du với nhóm bạn xấu, tức là vô minh có thể được xua tan bằng cách giải thích cho cậu ta những tác hại của việc uống rượu và giao du với nhóm đó.
- Now we will examine in detail how this happens.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét chi tiết quá trình này diễn ra như thế nào.
- The PS cycle thus starts with “avijjā paccayā saṅkhāra”; due to ignorance of the adverse results, the teenager starts drinking with that group (saṅkhāra = “saŋ + khāra” or actions of accumulating, in this case bad kamma).
Chu trình PS vì vậy bắt đầu với “avijjā paccayā saṅkhāra”; do không thấy được hậu quả xấu, thiếu niên bắt đầu uống rượu cùng nhóm đó (saṅkhāra = “saŋ + khāra” hay các hành động tích lũy, trong trường hợp này là kamma xấu).
- The more he is involved with such drinking activities, the more he thinks about it and develops a “defiled mindset” or a “defiled viññāṇa” for that activity. This is “saṅkhāra paccayā viññāṇa.”
Càng tham gia vào những hoạt động uống rượu như vậy, cậu càng nghĩ về nó nhiều hơn và phát triển một “trạng thái tâm bị ô nhiễm” hay một “viññāṇa bị ô nhiễm” cho hoạt động đó. Đây là “saṅkhāra paccayā viññāṇa”.
- This is explained in detail in the previous post: “Connection Between Saṅkhāra and Viññāṇa.”
Điều này đã được giải thích chi tiết trong bài trước: “Connection Between Saṅkhāra and Viññāṇa.”
- When he begins to like drinking, he starts thinking about it while doing other things. This is “viññāṇa paccayā nāmarūpa” step.
Khi cậu bắt đầu thích uống rượu, cậu nghĩ về nó ngay cả khi đang làm những việc khác. Đây là bước “viññāṇa paccayā nāmarūpa”.
- In this case, nāmarūpa are the mental images associated with that viññāṇa, i.e., the names and shapes of particular alcohol bottles, the places where he normally drinks, the friends who drink with him, etc.
Trong trường hợp này, nāmarūpa là những hình ảnh tâm liên kết với viññāṇa đó, tức là tên gọi và hình dáng của các chai rượu cụ thể, những nơi cậu thường uống, những người bạn uống cùng, v.v.
- He also thinks about the next “event” and visualizes the scene, all these are associated with nāmarūpa. Thus, here nāmarūpa are the mental images of “things” and “concepts” that one would like to enjoy.
Cậu cũng nghĩ đến “sự kiện” sắp tới và hình dung cảnh tượng đó; tất cả đều liên quan đến nāmarūpa. Vì vậy, ở đây nāmarūpa là những hình ảnh tâm của “sự vật” và “khái niệm” mà người ta muốn hưởng thụ.
- “Nāma” means “name” assigned to a person/object, and “rūpa” means “spatial profile” associated with that nāma.
“Nāma” nghĩa là “tên gọi” được gán cho một người hay vật, và “rūpa” là “dáng vẻ không gian” gắn liền với nāma đó.
- “Nāmarūpa” are the “mental images” together with the associated feelings (vedanā), perceptions (saññā), saṅkhāra, and viññāṇa, the COMBINED effect of “nāma” and “rūpa.”
“Nāmarūpa” là “những hình ảnh tâm” cùng với các cảm thọ (vedanā), tri giác (saññā), saṅkhāra và viññāṇa đi kèm, tức là hiệu ứng KẾT HỢP của “nāma” và “rūpa”.
- Now his six senses become “involved” to provide a reality to those nāmarūpa; to provide the desired sensory pleasures. In Pāli terms, the six indriya (senses) become “āyatana.”
Bây giờ sáu giác quan của cậu trở nên “can dự” để tạo ra thực tại cho những nāmarūpa đó, nhằm mang lại các khoái lạc giác quan mong muốn. Theo thuật ngữ Pāli, sáu indriya (giác quan) trở thành “āyatana”.
- Eyes are used as indriya when they are used just to identify things out there. When eyes are used to repeatedly look at an object TO ENJOY IT, then the eyes are used as “āyatana.”
Mắt được dùng như indriya khi chỉ để nhận diện sự vật bên ngoài. Khi mắt được dùng để nhìn lặp đi lặp lại một đối tượng ĐỂ HƯỞNG THỤ NÓ, thì mắt đang được dùng như “āyatana”.
- His mind is often thinking about the next “event” (where, when, with whom, etc), and he makes necessary preparations for the “event” using all six senses (now āyatanas) compatible with those nāmarūpa that he is cultivating.
Tâm cậu thường xuyên nghĩ về “sự kiện” kế tiếp (ở đâu, khi nào, với ai, v.v.), và cậu chuẩn bị cho “sự kiện” đó bằng cả sáu giác quan (giờ là āyatana) phù hợp với những nāmarūpa mà cậu đang nuôi dưỡng.
- Therefore, this is the “nāmarūpa paccayā saḷāyatana” step, where saḷāyatana means the six āyatana. Eyes are now not merely for seeing; they have become assistants looking for a “good drink” or a “good friend to chat with,” etc.
Vì vậy, đây là bước “nāmarūpa paccayā saḷāyatana”, trong đó saḷāyatana là sáu āyatana. Lúc này, mắt không chỉ đơn thuần để thấy nữa; chúng trở thành trợ thủ tìm kiếm “một ly rượu ngon” hay “một người bạn hợp để trò chuyện”, v.v.
- Then we have “saḷāyatana paccayā phassa,” i.e., all six āyatana become actively engaged making contact with relevant sense objects.
Kế đến là “saḷāyatana paccayā phassa”, tức là cả sáu āyatana đều tích cực tham gia tiếp xúc với các đối tượng giác quan liên quan.
- Here instead of phassa, it is (more appropriately) called “samphassa” (= “saŋ” + “phassa”), where “saŋ” implies it not just contact, but a “saŋ” contact or “samphassa.” See “Vedanā (Feelings) Arise in Two Ways.”
Ở đây, thay vì chỉ là phassa, điều này được gọi chính xác hơn là “samphassa” (= “saŋ” + “phassa”), trong đó “saŋ” hàm ý đây không chỉ là tiếp xúc đơn thuần mà là một loại tiếp xúc có “saŋ” hay “samphassa.” Xem “Vedanā (Feelings) Arise in Two Ways.”
- This may be a good time to review the term “saŋ” if you have not already done so: “What is “Saŋ”? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra).”
Đây có thể là lúc thích hợp để bạn xem lại thuật ngữ “saŋ” nếu bạn chưa từng làm như vậy: “What is “Saŋ”? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra).”
- Such “samphassa” lead to vedanā (feelings), i.e., “(saŋ)phassa paccayā vedanā.” He experiences “good (but immoral) feelings” with all those sense contacts.
Những “samphassa” như vậy dẫn đến vedanā (cảm thọ), tức là “(saŋ)phassa paccayā vedanā”. Cậu trải nghiệm những “cảm thọ dễ chịu (nhưng bất thiện)” qua các tiếp xúc giác quan đó.
- Because of such “good feelings,” he gets further attached: “vedanā paccayā taṇhā.”
Vì những “cảm thọ dễ chịu” này, cậu càng dính mắc hơn: “vedanā paccayā taṇhā”.
- Now comes, “taṇhā paccayā upādāna.” Upādāna means “grabbing or getting hold of something automatically,” like an octopus grabbing its prey with all eight legs.
Tiếp theo là “taṇhā paccayā upādāna”. Upādāna có nghĩa là “chộp lấy hay nắm chặt một cách tự động”, giống như con bạch tuộc chộp con mồi bằng cả tám xúc tu.
- In the present case, the teenager wants to re-live this experience and gets immersed in it. When he is experiencing the event, his mind is totally absorbed in it; he does not have the mindset to think about any adverse consequences. This is the critical “habit-forming” or “bhava-forming” step.
Trong trường hợp này, thiếu niên muốn sống lại trải nghiệm đó và đắm chìm hoàn toàn trong nó. Khi đang trải nghiệm, tâm cậu bị cuốn hút trọn vẹn, không còn trạng thái để nghĩ đến bất kỳ hậu quả xấu nào. Đây là bước then chốt hình thành “thói quen” hay “hình thành bhava”.
- So, the next inevitable step is “upādāna paccayā bhavo”; this particular state of getting drunk becomes increasingly ingrained in his mind. It becomes “a bhava” or “existence” or habit that is important to him. He very much wants to re-live that experience.
Vì vậy, bước kế tiếp không thể tránh khỏi là “upādāna paccayā bhavo”; trạng thái say xỉn này ngày càng khắc sâu vào tâm cậu. Nó trở thành một “bhava” hay “hữu” hay thói quen quan trọng đối với cậu. Cậu rất muốn được sống lại trải nghiệm đó.
- And that is exactly what he gets: “bhava paccayā jāti.” This “bhava” or the kamma seed is now well established, and he can be born in that state quite easily. All he needs is an invitation from a friend, or even a sight of a bar while travelling, for example.
Và đúng như vậy, điều cậu nhận được là “bhava paccayā jāti”. “Bhava” hay hạt giống kamma này giờ đã được thiết lập vững chắc, và cậu có thể “sinh ra” trong trạng thái đó rất dễ dàng. Chỉ cần một lời mời của bạn bè, hay thậm chí chỉ nhìn thấy một quán bar khi đi đường chẳng hạn.
- Getting into that state or being “born” there will happen more frequently. So, he gets drunk at every opportunity. See “Bhava and Jāti – States of Existence and (Repeated) Births Therein” for more details.
Việc rơi vào trạng thái đó hay “được sinh ra” trong trạng thái đó sẽ xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Vì thế, cậu uống rượu say mỗi khi có cơ hội. Xem “Bhava and Jāti – States of Existence and (Repeated) Births Therein” để biết thêm chi tiết.
- However, like everything else, any birth is subjected to decay and suffering: “jāti paccayā jarā, maraṇa.., eva me tassa dukkhandha samudhayo hoti,” i.e., “the whole mass of suffering.”
Tuy nhiên, cũng như mọi sự khác, bất kỳ sự sinh nào cũng phải chịu hoại diệt và khổ đau: “jāti paccayā jarā, maraṇa.., eva me tassa dukkhandha samudhayo hoti”, tức là “toàn bộ khối khổ đau”.
- But in the case of a single drinking event, that state of intoxication comes to an end, possibly with a big headache and a huge hangover. That episode ends with nothing to show for it but a hangover.
Nhưng trong trường hợp của một lần uống rượu, trạng thái say xỉn rồi cũng chấm dứt, có thể với một cơn đau đầu dữ dội và một trận nôn nao khủng khiếp. Cuối cùng, sự kiện đó chẳng để lại gì ngoài cơn mệt mỏi nặng nề.
- Even worse, now he is “hooked”; he has formed a bad habit, which only strengthens even more if he does it repeatedly. Because each time, the PS runs, the viññāṇa for that habit gets more fuel, and the bhava gets stronger.
Tệ hơn nữa, giờ cậu đã “bị nghiện”; cậu đã hình thành một thói quen xấu, và nó càng ngày càng mạnh nếu được lặp lại. Bởi vì mỗi lần như vậy, PS lại vận hành, viññāṇa cho thói quen đó được tiếp thêm năng lượng, và bhava càng thêm vững chắc.
- The more the teenager gets trapped in that bhava, the more jāti that occurs, i.e., more frequently he will be drunk.
Càng bị mắc kẹt trong bhava đó, thì càng có nhiều jāti xảy ra, tức là cậu càng thường xuyên bị say.
- And it is not even necessary to participate in a “drinking event” to run another PS cycle. He may be sitting at a desk trying to study, and may start going through the PS cycle MENTALLY.
Và thậm chí không cần phải tham gia một “sự kiện uống rượu” nào để khởi động một chu trình PS khác. Cậu có thể đang ngồi học ở bàn và bắt đầu chạy chu trình PS trong TÂM.
- He can start right at “avijjā paccayā saṅkhāra” and be generating vacī saṅkhāra (vitakka/vicāra or planning), thus generating (and strengthening) the viññāṇa for drinking, generating nāmarūpa (visuals of places, friends, alcohol bottles, etc), and thus going through the rest of the cycle: saḷāyatana, samphassa, vedanā, taṇhā, upādāna, bhava, jāti (“living it”), repeatedly.
Cậu ta có thể bắt đầu ngay từ “avijjā paccayā saṅkhāra” và tạo vacī saṅkhāra (vitakka/vicāra hay lập kế hoạch), từ đó tạo (và làm mạnh thêm) viññāṇa cho việc uống rượu, tạo nāmarūpa (hình ảnh về địa điểm, bạn bè, chai rượu, v.v.), rồi tiếp tục đi qua các bước còn lại của chu trình: saḷāyatana, samphassa, vedanā, taṇhā, upādāna, bhava, jāti (“sống lại trải nghiệm”), lặp đi lặp lại.
- Thus numerous such PS cycles can run at any time, probably increasing their frequency as the bhava or the habit builds up. The stronger the bhava or habit is, it will be harder to break.
Như vậy, rất nhiều chu trình PS như thế có thể diễn ra bất cứ lúc nào, và tần suất của chúng có thể tăng lên khi bhava hay thói quen được củng cố. Bhava hay thói quen càng mạnh thì càng khó phá vỡ.
- This is why meditation together with another good habit to work on should be undertaken to replace a bad habit. While in meditation, one can contemplate the adverse consequences of the bad habit.
Đó là lý do vì sao cần thực hành thiền cùng với việc xây dựng một thói quen tốt khác để thay thế thói quen xấu. Trong lúc thiền, người ta có thể quán chiếu những hậu quả bất lợi của thói quen xấu đó.
- It is important to realize that the above PS cycle does not run to its conclusion when the drinking “event” is over. Rather the cycle can repeatedly run unless it is stopped willfully, deliberately.
Điều quan trọng là phải nhận ra rằng chu trình PS ở trên không chấm dứt khi “sự kiện uống rượu” kết thúc. Trái lại, chu trình có thể lặp đi lặp lại trừ khi nó được dừng lại một cách có ý thức và có chủ đích.
- And the way to do that is to act with “mindfulness” and stop those bad first conscious thoughts (vacī saṅkhāra) that start arising. This is the key to “real Ānāpāna and Satipaṭṭhāna meditations” in Buddha Dhamma.
Và cách để làm điều đó là hành xử với “chánh niệm” và dừng lại những suy nghĩ có ý thức đầu tiên xấu (vacī saṅkhāra) ngay khi chúng vừa sinh khởi. Đây chính là chìa khóa của “thực hành thiền Ānāpāna và Satipaṭṭhāna chân chính” trong Dhamma của Đức Phật.
- Then one would stop the “avijjā paccayā saṅkhāra” step. That will stop “bad viññāṇa” from arising or being cultivated by the elimination of “saṅkhāra paccayā viññāṇa” step. That will, of course, stop the end result of suffering.
Khi đó, ta sẽ chặn được bước “avijjā paccayā saṅkhāra”. Điều này sẽ ngăn không cho “viññāṇa xấu” sinh khởi hay được nuôi dưỡng bằng cách loại bỏ bước “saṅkhāra paccayā viññāṇa”. Dĩ nhiên, như vậy sẽ chấm dứt kết quả cuối cùng là khổ đau.
- If those abhisaṅkhāra cultivated get strong enough, they can also lead to future births. The rebirth process proceeds via the uppatti PS process, which is very similar; see “Paṭicca Samuppāda.”
Nếu những abhisaṅkhāra được nuôi dưỡng đủ mạnh, chúng còn có thể dẫn đến các lần tái sinh trong tương lai. Tiến trình tái sinh diễn ra qua uppatti PS, rất tương tự; xem “Paṭicca Samuppāda.” Xem “Paṭicca Samuppāda.”
- Only by cultivating Ānāpāna and Satipaṭṭhāna can we break that cycle of rebirth: “Paṭicca Samuppāda, Tilakkhaṇa, Four Noble Truths.”
Chỉ bằng cách tu tập Ānāpāna và Satipaṭṭhāna chúng ta mới có thể phá vỡ chu trình tái sinh đó: “Paṭicca Samuppāda, Tilakkhaṇa, Four Noble Truths.”
