Vedanā (Feelings) / Vedanā (Cảm thọ)

Revised November 6, 2018; August 31, 2019

Sửa ngày 6/11/2018; ngày 31/8/2019

In this and follow-up posts, we will discuss six types of vedanā (feelings) and how they arise. There are other types of vedanā, but these are the important ones to understand for the Sotāpanna stage. Three of these occur due to kamma vipāka, and the other three arise due to saṅkhāra (defiled thoughts).

Trong bài này và các bài tiếp theo, chúng ta sẽ bàn về sáu loại vedanā (cảm thọ) và cách chúng sinh khởi. Có những loại vedanā khác, nhưng sáu loại này là quan trọng nhất để hiểu giai đoạn Sotāpanna. Ba loại sinh khởi do kamma vipāka, và ba loại còn lại sinh khởi do saṅkhāra (tư tưởng bất thiện).

  • Vedanā comes from (“ve” + “danā”) which means “වීම දැනවීම” in Sinhala. That means to “become aware of something.” When we sense something via our six senses, we become aware of it; that is vedanā.

Vedanā xuất phát từ (“ve” + “danā”) có nghĩa “වීම දැනවීම” trong tiếng Sinhala, tức “trở nên nhận biết điều gì đó.” Khi ta tiếp xúc một đối tượng qua sáu căn, ta trở nên nhận biết về nó; đó chính là vedanā.

Two Ways Vedanā (Feelings) Can Arise

Hai Cách Vedanā (Cảm Thọ) Có Thể Sinh Khởi

Vedanā (feelings) can arise in two ways:

Cảm thọ (vedanā) có thể sinh khởi theo hai cách:

  1. First, as a consequence of a previous kamma (i.e., a kamma vipāka), possibly done many lives ago. Those usually are not avoidable.

Thứ nhất, cảm thọ sinh khởi như hậu quả của một kamma trước đây (tức kamma vipāka), có thể được tạo từ nhiều đời trước. Những loại này thường không thể tránh.

  • Unavoidable vedanā (feelings) are three kinds : Sukha vedanā (pleasant or joyful feeling), dukha vedanā (unpleasant or painful feeling), and adukkhama asukha (without being painful or joyful, just neutral), where we are just aware of it. This adukkhama asukha vedanā is also called upekkha vedanā.

Ba loại vedanā (cảm thọ) không thể tránh là: sukha vedanā (cảm thọ lạc), dukha vedanā (cảm thọ khổ), adukkhama asukha (không khổ, không lạc – chỉ là trung tính), khi ta chỉ đơn thuần nhận biết nó. Adukkhama asukha vedanā này còn được gọi là upekkha vedanā.

  1. Second, as a direct consequence of a saṅkhāra (one could say an ongoing action or a way of thinking). These are absent in Arahants.

Thứ hai, cảm thọ sinh khởi trực tiếp do saṅkhāra (có thể hiểu là một hành động đang diễn ra hoặc một cách suy nghĩ). Những cảm thọ này không có nơi một vị Arahant.

  • Three types of other vedanā are avoidable: somanassa (pleasant), domanassa (unpleasant), and upekkhā (neutral) vedanā. They are solely mind-made and are due to defiled thoughts (saṅkhāra). The details discussed below.

Ba loại vedanā còn lại có thể tránh được là: somanassa (hỷ lạc), domanassa (khó chịu), và upekkhā vedanā (xả). Chúng hoàn toàn do tâm tạo và sinh khởi từ các tư tưởng ô nhiễm (saṅkhāra). Chi tiết được bàn bên dưới.

Vedanā Arising from Kamma Vipāka

Cảm thọ sinh khởi từ Kamma Vipāka

Kamma vipāka can happen to everyone, including Arahants. While everyone can avoid some kamma vipāka, others are too strong to be able to be avoided.

Kamma vipāka có thể xảy ra với bất kỳ ai, kể cả một vị Arahant. Mặc dù ai cũng có thể tránh một số kamma vipāka, nhưng có những cái quá mạnh nên không thể tránh được.

  • For example, the Buddha himself had physical ailments later in his life as kamma vipāka. Because of a bad kamma that he committed many lives before, Moggallāna Thero was beaten to death.

Ví dụ, chính Đức Phật cũng bị bệnh thân vào cuối đời như một kamma vipāka. Do một kamma bất thiện đã tạo từ nhiều kiếp trước, ngài Moggallāna Thero bị đánh đến chết.

  • However, kamma vipāka are not sure to happen. Some can be reduced in power by Mettā Bhāvanā; see, “Karaniya Metta Sutta – Mettā Bhāvanā.”

Tuy nhiên, kamma vipāka không chắc chắn sẽ xảy ra. Một số có thể giảm sức mạnh nhờ thực hành Mettā Bhāvanā; xem “Karaniya Metta Sutta – Mettā Bhāvanā.”

  • All kamma vipāka reduce in power with time and some eventually die out if they did not get a chance to come to fruition within 91 Mahā kappas. Many can be avoided by not providing conditions for them to arise (see, the discussion on kamma bīja in , “Saṅkhāra, Kamma, Kamma Bīja, Kamma Vipāka”).

Tất cả kamma vipāka đều giảm sức mạnh theo thời gian, và một số cuối cùng sẽ mất hẳn nếu không có cơ hội trổ quả trong vòng 91 Mahā kappa. Nhiều quả có thể tránh được bằng cách không cung cấp điều kiện cho chúng sinh khởi (xem phần bàn về kamma bīja trong “Saṅkhāra, Kamma, Kamma Bīja, Kamma Vipāka”).

  • One could also feel sukha vedanā (pleasant feelings) due to good kamma vipāka. These are also bodily feelings that arise due to “pleasant bodily contacts” like a getting a good massage or lying on a luxurious bed.

Một người cũng có thể kinh nghiệm sukha vedanā (cảm thọ lạc) do kamma vipāka thiện. Đây cũng là những cảm thọ thân, sinh từ “tiếp xúc thân dễ chịu” như được xoa bóp thư giãn hoặc nằm trên giường êm ái.

  • These types of vedanā are not DIRECTLY relevant in Paṭicca Samuppāda. For example, when Devadatta injured the Buddha, the Buddha did not generate “vedanā paccayā taṇhā” in Paṭicca Samuppāda.

Những loại vedanā này không liên quan TRỰC TIẾP đến Paṭicca Samuppāda. Ví dụ, khi Devadatta làm tổn thương Đức Phật, Ngài không sinh “vedanā paccayā taṇhā” trong chuỗi Paṭicca Samuppāda.

Vedanā Arising from Saṅkhāra

Cảm thọ Sinh khởi từ Saṅkhāra

These are the vedanā that Arahants do not feel. Since they do not commit any abhisaṅkhāra (those strong saṅkhāra done with greed, hate, and ignorance), an Arahant avoids any feeling arising from abhisaṅkhāra. The easiest way to explain this kind of vedanā is to give some examples:

Đây là các loại vedanā mà Arahant không kinh nghiệm. Vì họ không tạo bất kỳ abhisaṅkhāra nào (những saṅkhāra mạnh được tạo bởi tham, sân, si), nên một Arahant không có cảm thọ sinh khởi từ abhisaṅkhāra. Cách dễ nhất để giải thích loại vedanā này là đưa ra vài ví dụ:

  1. Three people are walking down the street. One has an ultra-right political bias (A), the second has an ultra-left preference (B), and the third is an Arahant who does not have special feelings for anyone (C). They all see a famous politician hated by the political right coming their way. It is a given that the sight of the politician causes A to have displeasure and B to have a pleasurable feeling.

Ba người đang đi bộ trên đường. Một người (A) có xu hướng chính trị cực hữu, người thứ hai (B) có xu hướng cực tả, và người thứ ba (C) là một Arahant không có cảm xúc thiên vị với bất kỳ ai. Cả ba đều thấy một chính trị gia nổi tiếng bị phe cực hữu ghét bỏ đang đi tới. Dễ hiểu là A sinh cảm thọ bất mãn, trong khi B sinh cảm thọ hỷ lạc.

  1. On the other hand, the sight does not cause the Arahant to generate any pleasure or displeasure. Even though all three see the same person, they generate different types of feelings. It is critical to realize that A and B created the feelings by themselves.

Ngược lại, Arahant không sinh bất kỳ cảm thọ lạc hay khổ nào. Dù cả ba đều thấy cùng một người, họ lại sinh ra những cảm thọ khác nhau. Điều quan trọng là hiểu rằng A và B tự tạo ra các cảm thọ đó cho chính họ.

  1. Two friends go looking for treasure and find a gem. They are both overjoyed. It seems quite valuable, and one person kills the other so that he can get all the money. When he tries to sell the “gem”, he finds out that it was not that valuable. His joy turns to sorrow in an instant. Nothing had changed in the object, the piece of stone. It was the same piece of colored rock. What has changed was the perception of it (saññā).

Hai người bạn đi tìm kho báu và tìm thấy một viên đá quý. Cả hai đều rất vui mừng. Nó có vẻ rất giá trị, và một người giết người kia để chiếm toàn bộ tài sản. Nhưng khi đem viên “đá quý” đi bán, anh ta phát hiện nó chẳng đáng giá bao nhiêu. Niềm vui lập tức hóa thành buồn thảm. Không có gì thay đổi ở đối tượng – vẫn là cùng một mảnh đá màu. Điều thay đổi chính là nhận thức (saññā) của anh ta về nó.

  1. A loving couple had lived for many years without any problems and were happy to be together. However, the husband slaps his wife during an argument. The physical pain from the slap itself did not last more than a few minutes. But for how long the wife would suffer mentally? Even the husband, who did not feel any physical pain, would suffer for days if he really loved his wife. In both cases, the attachment to each other led to real suffering. The wife could have dropped something on her foot and would have suffered about the same amount of physical pain. But she would not have had any lingering mental pain associated with that.

Một cặp vợ chồng yêu thương nhau đã sống nhiều năm không có vấn đề gì và hạnh phúc bên nhau. Tuy nhiên, trong một cuộc tranh cãi, người chồng tát vợ. Cơn đau thân mà cái tát gây ra không kéo dài quá vài phút. Nhưng người vợ sẽ chịu đau khổ trong tâm bao lâu? Ngay cả người chồng, dù không bị đau thể xác, cũng sẽ đau khổ nhiều ngày nếu anh thật sự yêu vợ mình. Trong cả hai trường hợp, sự gắn bó giữa họ đã dẫn đến khổ thật sự. Người vợ có thể làm rơi vật gì lên chân và chịu một mức độ đau tương đương về mặt thân, nhưng chị sẽ không có nỗi đau tinh thần kéo dài như vậy.

Thus all these second kind of feelings arise due to greed, hate, or ignorance. They are due to (abhi) saṅkhāra. The feelings come from INSIDE oneself. They do not come from a kamma vipāka. We use external things to CAUSE happiness or suffering by our own volition.

Do đó, tất cả những cảm thọ loại thứ hai này sinh khởi do tham, sân, hoặc si. Chúng sinh khởi từ (abhi)saṅkhāra. Các cảm thọ ấy đến từ BÊN TRONG chính mình. Chúng không đến từ kamma vipāka. Chúng ta dùng các đối tượng bên ngoài để TẠO RA hạnh phúc hay khổ đau bằng ý muốn của chính mình.

  • These types of vedanā (also called samphassa jā vedanā” or “vedanā generated via samphassa”) are the ones relevant in Paṭicca Samuppāda.

Những loại vedanā này (còn gọi là samphassa jā vedanā, tức “cảm thọ được sinh qua samphassa”) mới là loại liên quan trong Paṭicca Samuppāda.

Deeper analyses can be found at Vedanā (Feelings) Arise in Two Ways @ Assāda, Ādīnava, Nissaraṇ” or (Same at Vedanā (Feelings) Arise in Two Ways @ The Five Aggregates (Pañcakkhandha)”)

Phân tích sâu hơn có thể xem tạiVedanā (Feelings) Arise in Two Ways @ Assāda, Ādīnava, Nissaraṇa” hoặc (tạiVedanā (Feelings) Arise in Two Ways @ The Five Aggregates (Pañcakkhandha)”)

Next, “Viññāṇa (Consciousness)”, …………….

Tiếp theo, “Viññāṇa (Thức)”, ……………

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *