The 89 (121) Types of Citta / 89 (121) Loại Citta

Revised: October 29, 2015; August 31, 2017; June 3, 2018; July 31, 2018; August 28, 2022; May 16, 2023 (#7-#10); May 3, 2024; June 12, 2024

Sửa đổi: ngày 29/10/2015; 31/08/2017; 03/06/2018; 31/07/2018; 28/08/2022; 16/05/2023 (#7–#10); 03/05/2024; 12/06/2024

Citta for Kāmaloka (in the 11 sense realms) – 54 in all

Citta thuộc Kāmaloka (trong 11 cõi dục) – tổng cộng 54

  1. There are three main types of citta here: The differentiation is based on whether they have immoral roots (lobha, dosa, moha), kammically moral roots (alobha, adosa, amoha), or are kammically neutral, i.e., no roots.

Ở đây có ba loại citta chính: sự phân biệt dựa trên việc chúng có các căn bất thiện (lobha, dosa, moha), các căn thiện về mặt kamma (alobha, adosa, amoha), hay là trung tính về mặt kamma, tức là không có căn nào.

  • 12 immoral citta: 8 with lobha roots, 2 with dosa roots, and 2 with moha All ten immoral acts (dasa akusala) are done with these 12 types of cittā. Because of the 12 immoral cittā, seven rootless (ahetuka) vipāka cittā can arise in the future. Thus, altogether, there are 19 cittā in this category.

12 citta bất thiện: gồm 8 có căn lobha, 2 có căn dosa và 2 có căn moha. Cả mười hành vi bất thiện (dasa akusala) đều được thực hiện bằng 12 loại citta này. Do 12 citta bất thiện này, trong tương lai có thể sinh khởi bảy vipāka citta vô căn (ahetuka). Vì vậy, tổng cộng có 19 citta trong nhóm này.

  • Eight moral cittā: four with all three moral roots and 4 with two moral roots (lacking in wisdom). They can give rise to two types of vipāka citta: eight vipāka cittā with no roots and eight vipāka citta with moral roots (four of them have all three moral roots, and the other four are lacking in wisdom). Thus 24 types of citta are mentioned here, of which 16 have moral roots, and eight are rootless (ahetuka).

Tám citta thiện: bốn có đủ ba căn thiện và bốn chỉ có hai căn thiện (thiếu trí tuệ). Chúng có thể tạo ra hai loại vipāka citta: tám vipāka citta vô căn và tám vipāka citta có căn thiện (trong đó bốn có đủ ba căn thiện, bốn còn lại thiếu trí tuệ). Do đó, ở đây đề cập đến 24 loại citta, trong đó 16 có căn thiện và 8 là vô căn (ahetuka).

  • When these same eight moral citta arise in Arahants, they are called kiriya citta or functional citta. They have the same moral roots as the eight moral citta mentioned above but do not have any kammic potential or kammic

Khi chính tám citta thiện này sinh khởi nơi các vị Arahant, chúng được gọi là kiriya citta hay citta chức năng. Chúng có các căn thiện giống như tám citta thiện nêu trên, nhưng không có tiềm năng kamma hay hậu quả kamma nào.

  • All those citta with moral roots (8 kiriya cittā for Arahants and 16 for others) are called sobhana (beautiful) citta.

Tất cả các citta có căn thiện (8 kiriya citta của Arahant và 16 của các bậc khác) đều được gọi là sobhana citta (citta đẹp).

 

  • Finally, three types of kiriya citta arise in citta vīthi: they are neither kamma nor kamma vipāka. These are the three kiriya citta without any roots and thus are rootless (ahetuka) citta. Two of these perform functions of (i) five-sense-door adverting consciousness (pañcadvārāvajjana citta) and the votthapana citta and (ii) mind-door-adverting consciousness (manodvārāvajjana citta). (iii) The third one arises in only Arahants (when they smile about sense-sphere phenomena).

Cuối cùng, có ba loại kiriya citta sinh khởi trong citta vīthi: chúng không phải là kamma cũng không phải là kamma vipāka. Đây là ba kiriya citta không có căn nào, nên là citta vô căn (ahetuka). Hai trong số này đảm nhiệm các chức năng: (i) hướng tâm qua cửa ngũ căn (pañcadvārāvajjana citta) và citta votthapana, và (ii) hướng tâm qua cửa ý (manodvārāvajjana citta). (iii) Loại thứ ba chỉ sinh khởi nơi các vị Arahant (khi các ngài mỉm cười trước các pháp thuộc dục giới).

  • Note that none of the seven akusala vipāka citta has roots. Also, eight kusala vipāka citta associated with pavutti vipāka (i.e., not giving rise to rebirth) do not have any roots. Those 15 cittā and the three ahetuka kiriya cittā are involved in the vipāka phase of a given citta vīthi. They do not have any sobhana or asobhana cetasika other than the 7 universal cetasika and the 6 pakiṇṇaka (particulars) cetasika; see, “Cetasika – Connection to Gati” for various types of cetasika. Those 18 cittā are listed on p. 112 of 1 under the second group below the group of akusala citta.

Lưu ý rằng không có citta nào trong bảy akusala vipāka citta có căn. Ngoài ra, tám kusala vipāka citta liên quan đến pavutti vipāka (tức là không dẫn đến tái sinh) cũng không có căn nào. Mười lăm citta đó cùng với ba ahetuka kiriya citta tham gia vào giai đoạn vipāka của một citta vīthi nhất định. Chúng không có bất kỳ sobhana hay asobhana cetasika nào ngoài bảy cetasika phổ quát và sáu cetasika pakiṇṇaka (đặc thù); xem “Cetasika – Connection to Gati” để biết các loại cetasika khác nhau. Mười tám citta này được liệt kê ở trang 112 của Tài liệu tham khảo số 1, trong nhóm thứ hai bên dưới nhóm akusala citta.

  1. The 54 kāmaloka cittā can be categorized in different ways.

54 kāmaloka citta có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau.

Asobhana (Unbeautiful)

Asobhana (không đẹp, bất thiện)

Sobhana (Beautiful)

Sobhana (đẹp, thiện)

Immoral – 12

Bất thiện – 12

Rootless – 18

Vô căn – 18

Moral – 8

Thiện (8)

Lobha (8)

Lobha (8)

Immoral Vipāka (7)

Vipāka Bất thiện (7)

Moral – 8

Thiện (8)

Dosa (2)

Dosa (2)

Moral Vipāka (8)

Vipāka Thiện (8)

Moral Vipāka (8)

Vipāka Thiện (8)

Moha (2)

Moha (2)

Kiriya (3)

Kiriya (3)

Kiriya (8)

Kiriya (8)

Citta for Rūpaloka (in the 16 Rūpa realms) – 15 in all

Citta thuộc Rūpaloka (trong 16 cõi Rūpa) – tổng cộng 15 citta

  1. There are only 15 cittā that are predominantly present in the Rūpaloka. Five are jhānic moral citta, and five are vipāka cittā due to those.

Chỉ có 15 loại cittā là hiện diện chủ yếu trong Rūpaloka. Trong đó, có 5 cittā thiện thuộc jhāna, và 5 cittā vipāka phát sinh do các cittā jhāna thiện này.

  1. The five jhānic moral cittā can be experienced by humans when they develop samādhi and attain these (first through fifth) jhānā. However, they can only experience the corresponding five vipāka cittā when they are born in Rūpalokas.

Năm cittā thiện thuộc jhāna có thể được con người kinh nghiệm khi họ phát triển samādhi và chứng đắc các jhāna này (từ jhāna thứ nhất đến thứ năm). Tuy nhiên, năm cittā vipāka tương ứng chỉ có thể được kinh nghiệm khi họ tái sinh vào các cõi Rūpaloka.

  1. The five jhānic states are characterized by five jhāna factors or mental concomitants: vitakka (initial application), vicāra (sustained application), pīti (zest), sukha (happiness), and ekaggatā (one-pointedness). All five factors are present in the first jhāna, and as one moves to higher jhānā, these factors are lost one by one, and in the fifth jhāna, only ekaggatā is left.

Năm trạng thái jhāna được đặc trưng bởi năm yếu tố jhāna hay các tâm sở đi kèm: vitakka (sự hướng tâm ban đầu), vicāra (sự duy trì đối tượng), pīti (hỷ), sukha (lạc), và ekaggatā (nhất tâm). Cả năm yếu tố đều hiện diện trong jhāna thứ nhất; khi tiến dần lên các jhāna cao hơn, các yếu tố này lần lượt được loại bỏ từng cái một, và đến jhāna thứ năm thì chỉ còn lại ekaggatā (nhất tâm).

Pīti (zest) is the happiness in the mind, and sukha (happiness) is the tranquility of the body.

Pīti (hỷ) là niềm vui trong tâm, còn sukha (lạc) là sự an lạc, êm dịu của thân.

  1. There are five more jhānic kiriya cittā experienced by Arahants when they attain these jhānā.

Có thêm năm jhānic kiriya cittā được các vị Arahant kinh nghiệm khi chứng đắc các jhāna này.

Thus there are 15 cittā in all that predominantly belong to the Rūpaloka.

Như vậy, tổng cộng có 15 cittā chủ yếu thuộc về Rūpaloka.

Citta for Arūpaloka (in the 4 Arūpa realms) – 12 in all

Citta thuộc Arūpaloka (trong 4 cõi Arūpa) – tổng cộng 12 citta

  1. There are only 12 cittā that are predominantly present in the Arūpaloka. These are not jhānās but “arūpāvacara samāpatti.” Four are kusala cittā (that one cultivates), and four are vipāka citta due to those.

Chỉ có 12 cittā là hiện diện chủ yếu trong Arūpaloka. Những trạng thái này không phải là jhāna mà là “arūpāvacara samāpatti”. Bốn là kusala cittā (do hành giả tu tập), và bốn là vipāka cittā phát sinh từ các kusala cittā đó.

  1. The four kusala cittā can be experienced by humans when they attain the arūpāvacara samāpatti. However, they can only experience the corresponding four vipāka cittā when they are born in Arūpa loka.

Bốn kusala cittā này có thể được con người kinh nghiệm khi chứng đắc arūpāvacara samāpatti. Tuy nhiên, bốn vipāka cittā tương ứng chỉ có thể được kinh nghiệm khi tái sinh vào Arūpa loka.

  1. The first of the four arūpāvacara samāpatti is the attainment of the base of infinite space (Ākāsānañcāyatana). A human must master the highest rūpāvacara jhāna to attain this arūpāvacara samāpatti.

Trạng thái arūpāvacara samāpatti thứ nhất là chứng đắc xứ vô biên không (Ākāsānañcāyatana). Một người phải thuần thục jhāna cao nhất thuộc rūpāvacara thì mới có thể chứng đắc arūpāvacara samāpatti này.

  • The second is the base of infinite consciousness (Viññāṇañcāyatana), where the “infinite viññāṇa” separates from “infinite space.” Now, the mind is fully disengaged from the “material world.” In the third stage, the yogi can willfully “shrink viññāṇa” to a level of “minimal perception” (Ākāsānañcāyatana). As the yogi makes further progress to the highest arupāvacara samāpatti (“neither-perception-nor-non-perception” or Nevasaññānāsaññāyatana), one’s awareness starts to be extinguished (as in Parinibbāna). However, it cannot be extinguished for an anāriya yogi because the saṁyojana/anusaya (avijjā) remains. But this is how an Ubhatovimutti Arahant gets into nirodha samāpatti.

Trạng thái thứ hai là xứ vô biên thức (Viññāṇañcāyatana), nơi “thức vô biên” tách rời khỏi “không gian vô biên”. Lúc này, tâm hoàn toàn tách khỏi “thế giới vật chất”. Ở giai đoạn thứ ba, hành giả có thể chủ ý “thu nhỏ viññāṇa” đến mức “nhận thức tối thiểu”. Khi hành giả tiến xa hơn đến arūpāvacara samāpatti cao nhất (“phi tưởng phi phi tưởng xứ” – Nevasaññānāsaññāyatana), sự nhận biết bắt đầu dần dần tắt lịm (tương tự Parinibbāna). Tuy nhiên, điều này không thể xảy ra hoàn toàn đối với một anāriya yogi vì các saṁyojana/anusaya (đặc biệt là avijjā) vẫn còn. Đây chính là cách mà một vị Ubhatovimutti Arahant nhập vào nirodha samāpatti.

  • In that highest arupāvacara samāpatti, the perception factor (saññā) is so subtle that it can no longer perform the function of perception. Yet perception is not altogether absent. This is another reason why the ancient yogis erroneously assumed this eighth jhāna to be Nibbāna. See “Samādhi, Jhāna, and Sammā Samādhi,” and “Nirodha Samapatti, Phala Samapatti, Jhāna, and Jhāna Samapatti.”

Trong arūpāvacara samāpatti cao nhất, yếu tố saññā trở nên cực kỳ vi tế đến mức không còn thực hiện được chức năng nhận biết. Tuy vậy, saññā không hoàn toàn biến mất. Đây là một lý do khác khiến các yogi cổ đại đã nhầm lẫn jhāna thứ tám này với Nibbāna. Xem “Samādhi, Jhāna, và Sammā Samādhi,” và “Nirodha Samapatti, Phala Samapatti, Jhāna, và Jhāna Samapatti.”

  1. There are four more arūpāvacara samāpatti kiriya cittā experienced by Arahants when they attain these samāpatti.

Có thêm bốn arūpāvacara samāpatti kiriya cittā được các vị Arahant kinh nghiệm khi chứng đắc các samāpatti này.

Thus there are 12 cittā in all predominantly belong to the Arūpa loka.

Như vậy, tổng cộng có 12 cittā chủ yếu thuộc Arūpaloka.

Lokuttara (Supermundane) Citta – 8 in all

Lokuttara (Siêu thế) Citta – tổng cộng 8 citta

  1. These pertain to the four stages of Nibbānic attainment: Sotāpanna, Sakadāgāmī, Anāgāmī, Arahant

Những citta này liên quan đến bốn giai đoạn chứng đắc Nibbāna: Sotāpanna, Sakadāgāmī, Anāgāmī, Arahant

  1. Each stage involves two types of citta: path consciousness (magga citta) and fruition consciousness (phala citta). The magga citta has the function of eradicating or permanently attenuating defilements.

Mỗi giai đoạn bao gồm hai loại citta: magga citta (tâm đạo) và phala citta (tâm quả). Magga citta có chức năng đoạn trừ hoặc làm suy giảm vĩnh viễn các phiền não.

  • The phala citta has the function of experiencing the degree of liberation made possible by the magga citta.

Phala citta có chức năng trải nghiệm mức độ giải thoát mà magga citta mang lại.

  1. Each magga citta arises only once and endures for one “thought moment.” It is never The corresponding phala citta (which corresponds to a vipāka citta but is not called a vipāka citta) arises immediately after the magga citta. This contrasts mundane vipāka cittā, which can occur even many lifetimes after the corresponding kusala or akusala citta.

Mỗi magga citta chỉ khởi lên đúng một lần và tồn tại trong một “sát-na tâm”. Nó không bao giờ lặp lại. Phala citta tương ứng (tương tự một vipāka citta nhưng không được gọi là vipāka citta) khởi lên ngay sau magga citta. Điều này khác với các vipāka cittā thế gian, vốn có thể khởi lên sau nhiều kiếp sống kể từ kusala hoặc akusala citta tương ứng.

  1. The phala citta can be repeated after one attains it. With practice, it can be sustained for long times, up to 7 days for an Arahant.

Phala citta có thể được lặp lại sau khi một người đã chứng đắc nó. Với sự tu tập, phala citta có thể được duy trì trong thời gian dài, lên đến 7 ngày đối với một vị Arahant.

Thus, there are 54 + 15 + 12 + 8 = 89 cittā in all.

Do đó, tổng cộng có 54 + 15 + 12 + 8 = 89 cittā.

How 121 Types of Citta are Possible

Vì sao Có thể có 121 Loại Citta

  1. It is possible to further analyze the types of citta by refining the above method by considering that each magga phala can be reached from the vicinity of each anāriya jhānic

Có thể phân tích sâu hơn các loại citta bằng cách tinh chỉnh phương pháp trên, xét đến việc mỗi magga phala có thể được chứng đắc từ cận hành của mỗi trạng thái anāriya jhāna.

  • One can attain Nibbānic states via the vicinity of each of the five rūpa loka jhānic states (here, the Abhidhamma method of 5 jhānā is used, instead of the four mentioned in the suttā, where the first two jhāna in Abhidhamma categorization are taken to be one jhāna; in the Abhidhamma analysis vitakka and vicāra are removed in two steps, whereas in the sutta analysis it is assumed that they are removed in one step).

Một người có thể chứng đắc các trạng thái Nibbāna thông qua cận hành của mỗi trong năm trạng thái jhāna thuộc rūpa loka (ở đây sử dụng cách phân loại 5 jhāna theo Abhidhamma, thay vì 4 jhāna như trong suttā, trong đó hai jhāna đầu theo Abhidhamma được xem là một jhāna trong suttā; trong phân tích Abhidhamma, vitakka và vicāra được loại bỏ theo hai bước, trong khi trong suttā thì giả định chúng được loại bỏ trong một bước).

  • Therefore, the five jhānic states can lead to the four magga cittā and four phala cittā.

Do đó, năm trạng thái jhāna có thể dẫn đến bốn magga cittā và bốn phala cittā.

  • Thus, here, there are 40 ways to attain lokuttara cittā.

Vì vậy, ở đây có 40 con đường để chứng đắc lokuttara cittā.

  • Therefore, in this case, the total number of cittā would be 121 (= 54 + 15 + 12 + 40) instead of 89.

Do đó, trong trường hợp này, tổng số cittā là 121 (= 54 + 15 + 12 + 40) thay vì 89.

  1. Therefore, magga phala (including the Arahant stage) can be reached through any jhānic state or without going through any jhānic

Vì vậy, magga phala (bao gồm cả tầng Arahant) có thể được chứng đắc qua bất kỳ trạng thái jhāna nào hoặc không cần thông qua jhāna.

  • Of course, the eight lokuttara cittā (i.e., the four stages of Nibbāna) arrived are the same, regardless of whether they arrived via jhāna.

Dĩ nhiên, tám lokuttara cittā (tức bốn tầng Nibbāna) đạt được là giống nhau, bất kể được chứng đắc thông qua jhāna hay không.

  • From the above, it is clear that magga phala can be attained without jhāna (89 citta analysis applicable). Magga phala can also be attained via each of the five jhānic states (in the Abhidhamma method), which correspond to the four jhānā discussed in the suttā; here, the 121 citta analysis is applicable.

Từ những phân tích trên, rõ ràng là magga phala có thể đạt được mà không cần jhāna (áp dụng phân tích 89 citta). Magga phala cũng có thể đạt được thông qua mỗi trong năm trạng thái jhāna (theo Abhidhamma), tương ứng với bốn jhāna được đề cập trong suttā; trong trường hợp này, phân tích 121 citta được áp dụng.

REFERENCE

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. A Comprehensive Manual of Abhidhamma,” by Bhikkhu Bodhi (2000). A pdf file can be downloaded (click the link to open the pdf). The 89 (121) citta analysis is in Table 1.1 on p. 28.

A Comprehensive Manual of Abhidhamma,” của Bhikkhu Bodhi (2000). Có thể tải về bản pdf (nhấn vào liên kết để mở). Phân tích 89 (121) citta nằm trong Bảng 1.1 ở trang 28.

  1. A discourse by Waharaka Thero on 89/121 citta analysis and phala samāpatti: “ඵල සමාවත සහ සමාපත්තිය අතර වෙනස”

Một bài pháp thoại của ngài Waharaka Thero về phân tích 89/121 citta và phala samāpatti: “ඵල සමාවත සහ සමාපත්තිය අතර වෙනස

WebLink: Listen to the discourse: 83-වන-සංයුක්ත-තැටිය-ඵල-සමාව ත-සහ-සමාපත්තිය-අතර-වෙනස.mp3

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *