Saññā Vipallāsa – Distorted Perception / Saññā Vipallāsa – Nhận Thức Sai Lệch

October 27, 2023

Ngày 27/10/2023

Saññā vipallāsa means “distorted perception.” Our perceptions about this world are distorted and wrong. Modern science has come to the same conclusion 2600 years after the Buddha.

Saññā vipallāsa nghĩa là “nhận thức sai lệch.” Nhận thức của chúng ta về thế gian này là méo mó và sai lầm. Khoa học hiện đại cũng đi đến cùng kết luận đó sau 2600 năm kể từ thời Đức Phật.

WebLink: youtube: You are Made Up of Nothingness

Our Bodies Are Not “Solid” – Wrong Perception (Saññā Vipallāsa)

[Wrong Perception That the Bodies is Solid]

Thân Thể Chúng Ta Không “Rắn Chắc” – Nhận Thức Sai Lệch (Saññā Vipallāsa)

[Nhận Thức Sai Lệch Rằng Thân Thể Là Rắn Chắc]

  1. We perceive worldly things as made of “solid, concrete matter.” Our physical bodies appear to be “solid,” and the houses and cars we value, as well as mountains, trees, etc., appear to be “solid.”

Chúng ta nhận thức các sự vật thế gian như được cấu tạo từ “vật chất rắn chắc, cụ thể.” Thân thể vật lý của chúng ta dường như “rắn chắc,” và những ngôi nhà, chiếc xe mà ta coi trọng, cũng như núi non, cây cối, v.v., đều có vẻ “rắn chắc.”

  • One of the startling discoveries science has made is the following: What we perceive with our senses (saññā) can be astonishingly deceiving. Even though our bodies seem to be “solid,” in reality, they are mostly “empty space,” as illustrated in the above video. Diamond is the hardest known substance on Earth, and diamond atoms are virtually empty, too.

Một trong những khám phá gây chấn động của khoa học là: Những gì ta nhận thức bằng giác quan (saññā) có thể vô cùng đánh lừa. Dù thân thể ta có vẻ “rắn chắc,” thực ra nó chủ yếu là “không gian trống rỗng,” như được minh họa trong video trên. Kim cương là chất cứng nhất được biết đến trên Trái Đất, nhưng các nguyên tử của kim cương cũng hầu như trống rỗng.

  • Initially, in the 1800s, scientists came to the conclusion that matter is made of atoms. But then, in the early 1900s, they found that atoms are “mostly empty” (with a tiny nucleus in the middle with most of the mass and an “electron cloud” surrounding it). The astonishing fact is that if the nucleus is compared to a peanut, the whole atom would be the size of a stadium, as pointed out in the above video. Try to make that picture in your mind. It is mind-boggling!

Ban đầu, vào những năm 1800, các nhà khoa học kết luận rằng vật chất được cấu tạo từ nguyên tử. Nhưng đến đầu những năm 1900, họ phát hiện nguyên tử “hầu hết là trống rỗng” (với một hạt nhân rất nhỏ ở giữa chứa gần như toàn bộ khối lượng và một “đám mây electron” bao quanh). Điều đáng kinh ngạc là nếu so hạt nhân với một hạt đậu phộng, thì toàn bộ nguyên tử sẽ có kích thước bằng một sân vận động, như đã nêu trong video trên. Hãy thử hình dung điều đó trong tâm trí. Thật khó tin!

  • However, that was just the beginning. More progress was made with the advent of quantum physics in the 1920s.

Tuy nhiên, đó chỉ mới là khởi đầu. Nhiều tiến bộ hơn nữa được đạt được với sự ra đời của vật lý lượng tử vào những năm 1920.

  1. In the middle of the 1900s, scientists found that even the nucleus is not “solid”; it is made of a variety of “fundamental particles.” They had to build enormous particle accelerators trying to understand the nature of those elementary particles.

Vào giữa những năm 1900, các nhà khoa học phát hiện rằng ngay cả hạt nhân cũng không “rắn chắc”; nó được cấu tạo từ nhiều “hạt cơ bản” khác nhau. Họ phải xây dựng các máy gia tốc hạt khổng lồ để cố gắng hiểu bản chất của các hạt sơ cấp đó.

  • The astonishing conclusion was that the “ultimate particle” that keeps everything together (“Higgs boson”) is not really a “particle” but more like a “packet of energy” (confirmed within the past ten years.) The following video, “The Surprising Truth About the Higgs Boson ‘Discovery’ at CERN,” explains that.

Kết luận gây kinh ngạc là “hạt tối hậu” giữ mọi thứ lại với nhau (“Higgs boson”) thực ra không hẳn là một “hạt,” mà giống như một “gói năng lượng” (được xác nhận trong khoảng mười năm trở lại đây). Video sau, “The Surprising Truth About the Higgs Boson ‘Discovery’ at CERN,” giải thích điều đó.

WebLink: youtube: The Surprising Truth About the Higgs Boson “Discovery” at CERN

  • That leads to two conclusions: (i) our perceptions based on the data from the five physical senses can be misleading (i.e., they lead to distorted perceptions or saññā vipallāsa), and (ii) at the very fundamental level, there is nothing that can be called “solid matter;” everything is just “energy.”

Điều đó dẫn đến hai kết luận: (i) nhận thức của chúng ta dựa trên dữ liệu từ năm giác quan vật lý có thể gây hiểu lầm (tức là dẫn đến nhận thức sai lệch hay saññā vipallāsa), và (ii) ở mức độ căn bản nhất, không có thứ gì có thể gọi là “vật chất rắn chắc”; mọi thứ chỉ là “năng lượng.”

  • The Buddha taught all that 2600 Years Ago! He called such distorted perceptions about the world (e.g., “solidity” of matter) “sañjānāti” or “saññā vipallāsa.”

Đức Phật đã dạy điều đó từ 2600 năm trước! Ngài gọi những nhận thức sai lệch như vậy về thế gian (ví dụ như “tính rắn chắc” của vật chất) là “sañjānāti” hay “saññā vipallāsa.”

Science Has Embraced Several of Buddha’s Worldviews

Khoa Học Đã Xác Nhận Nhiều Quan Điểm Thế Giới Của Đức Phật

  1. While quantum physics led to the above understanding of the microscopic nature, astronomical studies over the past five centuries also verified Buddha’s views about the large-scale universe.

Trong khi vật lý lượng tử dẫn đến sự hiểu biết trên về bản chất vi mô, thì các nghiên cứu thiên văn trong năm thế kỷ qua cũng xác nhận quan điểm của Đức Phật về vũ trụ ở quy mô lớn.

  • Western science (as well as religions) believed in a “geo-centric world” for thousands of years until the time of Galileo. Even a few hundred years ago, most people believed our Earth was at the center of the universe: WebLink: wikipedia.org: Geocentric model

Khoa học phương Tây (cũng như các tôn giáo) đã tin vào mô hình “địa tâm” trong hàng ngàn năm cho đến thời Galileo. Chỉ vài trăm năm trước, đa số người ta vẫn tin rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ: WebLink: wikipedia.org: Geocentric model

  • However, the Buddha taught 2600 years ago that our solar system is just one of an uncountable number of such systems in the universe. The universe consists of an uncountable number of star/planetary systems (cakkavāla) like our solar system. See, for example, “WebLink: suttacentral: Cūḷanikā Sutta (AN 3.80).”

Tuy nhiên, Đức Phật đã dạy từ 2600 năm trước rằng hệ Mặt Trời của chúng ta chỉ là một trong vô số hệ như vậy trong vũ trụ. Vũ trụ gồm vô số hệ sao/hành tinh (cakkavāla) giống như hệ Mặt Trời của chúng ta. Xem, ví dụ, “WebLink: suttacentral: Cūḷanikā Sutta (AN 3.80).”

  • Buddha’s view was confirmed by science using powerful telescopes to look at the sky (following the initial reports by Galileo). That approach of “extending the capabilities of our crude sensory faculties” revealed that, indeed, there are an uncountable number of “star systems” (just like our Solar system) in the universe. The following is a high-resolution picture of just our Milky Way galaxy. There are uncountable galaxies in the universe! See “Dhamma and Science – Introduction” for details.

Quan điểm của Đức Phật đã được khoa học xác nhận bằng việc sử dụng các kính thiên văn mạnh để quan sát bầu trời (tiếp nối những báo cáo ban đầu của Galileo). Cách tiếp cận “mở rộng khả năng của các giác quan thô sơ” đã cho thấy rằng thực sự có vô số “hệ sao” (giống như hệ Mặt Trời của chúng ta) trong vũ trụ. Hình dưới đây là ảnh độ phân giải cao của riêng dải Ngân Hà của chúng ta. Và còn vô số thiên hà trong vũ trụ! Xem “Dhamma and Science – Introduction” để biết chi tiết

  1. Therefore, the “wrong perception” (or “sañjānāti” or “saññā vipallāsa” in Buddha’s terminology) about the Earth being at the center of the universe was another wrong conclusion humans came to based on our crude sensory faculties.

Vì vậy, “nhận thức sai lệch” (hay “sañjānāti” hoặc “saññā vipallāsa” theo thuật ngữ của Đức Phật) về việc Trái Đất là trung tâm của vũ trụ là một kết luận sai lầm khác mà loài người đã rút ra dựa trên các giác quan thô sơ của mình.

  • Scientific investigations using telescopes vastly extended the capabilities of our sense faculties, and we were able to get a much better picture of what is really in the skies above us. The Buddha called such “mundane logic/investigation” or “vijānāti.” These terms are discussed in #7 and #8 below.

Các cuộc điều tra khoa học bằng kính thiên văn đã mở rộng đáng kể khả năng của các giác quan, và nhờ đó chúng ta có được bức tranh rõ ràng hơn nhiều về những gì thực sự tồn tại trên bầu trời phía trên. Đức Phật gọi loại “lý luận/khảo sát thế tục” như vậy là “vijānāti.” Những thuật ngữ này sẽ được bàn ở mục #7 và #8 bên dưới.

  • (However, there is more to be discovered by science. The current scientific theory is that the universe came into being only about 15 billion years ago and that there was “nothing” before that. This “Big Bang Theory” will be proven wrong, too. The Buddha described a different scenario where only a cluster of “star systems” (cakkavāla) get destroyed at a time but will be re-formed over time. The universe has existed “forever,” and there is no “discernible beginning” to life. See “Buddhism and Evolution – Aggañña Sutta (DN 27).”)

(Tuy nhiên, khoa học vẫn còn nhiều điều phải khám phá. Lý thuyết khoa học hiện nay cho rằng vũ trụ chỉ hình thành cách đây khoảng 15 tỷ năm và trước đó là “không có gì.” “Thuyết Vụ Nổ Lớn” này rồi cũng sẽ bị chứng minh là sai. Đức Phật mô tả một kịch bản khác, trong đó chỉ một cụm các “hệ sao” (cakkavāla) bị hủy diệt tại một thời điểm, rồi sẽ được tái hình thành theo thời gian. Vũ trụ đã tồn tại “từ vô thủy,” và không có “khởi đầu có thể xác định” nào của sự sống. Xem “Buddhism and Evolution – Aggañña Sutta (DN 27).”)

Elusive Nature of Matter

Bản Chất Khó Nắm Bắt Của Vật Chất

  1. The Buddha taught that our bodies, as well as anything else in this world, are made of bhūta that are hard to pinpoint. As scientists probed smaller and smaller particles, they noticed that it is not possible to measure the speed of a particle if its location is pinned down; if they tried to pinpoint the speed, they found that its location becomes unspecified. It is not possible to “pin down” or “specify everything” about a microscopic particle. That is called the “Heisenberg uncertainty principle.” [#1: Heisenberg’s Uncertainty Principle states that there is inherent uncertainty in the act of measuring a variable of a particle. Commonly applied to the position and momentum of a particle, the principle states that the more precisely the position is known, the more uncertain the momentum is and vice versa. #2: Heisenberg’s uncertainty principle states that it is impossible to measure or calculate exactly both the position and the momentum of an object.]

Đức Phật dạy rằng thân thể chúng ta, cũng như mọi thứ khác trong thế gian này, được cấu tạo từ các bhūta rất khó xác định một cách chính xác. Khi các nhà khoa học khảo sát những hạt ngày càng nhỏ hơn, họ nhận thấy rằng không thể đo vận tốc của một hạt nếu vị trí của nó được xác định chính xác; và nếu cố xác định vận tốc, thì vị trí của nó lại trở nên không xác định. Không thể “ghim chặt” hay “xác định hoàn toàn” mọi đặc tính của một hạt vi mô. Điều đó được gọi là “Nguyên lý Bất định Heisenberg.” [#1: Nguyên lý Bất định Heisenberg phát biểu rằng luôn tồn tại sự bất định nội tại trong việc đo lường một đại lượng của hạt. Thường được áp dụng cho vị tríđộng lượng của hạt, nguyên lý này nói rằng vị trí càng được biết chính xác thì động lượng càng bất định và ngược lại. #2: Nguyên lý bất định Heisenberg cho rằng không thể đo lường hay tính toán chính xác đồng thời cả vị trí lẫn động lượng của một vật.]

  • Because of that, the Buddha used the word bhūta (ghost) to describe the elusive nature of matter at the microscopic scale, a “ghost” in the sense that it is “hard to pin down.”

Vì vậy, Đức Phật đã dùng từ bhūta (nghĩa đen là “ma”) để mô tả bản chất khó nắm bắt của vật chất ở cấp độ vi mô, “ma” theo nghĩa là “khó xác định hay nắm bắt rõ ràng.”

  • Furthermore, such “elementary particles” arise out of “mental energy” (created in javana citta). Understanding that requires a good knowledge of Abhidhamma.

Hơn nữa, các “hạt cơ bản” như vậy phát sinh từ “năng lượng tâm” (được tạo ra trong javana citta). Để hiểu điều đó cần có kiến thức vững về Abhidhamma.

  • However, a basic explanation is in “Bhūta and Yathābhūta – What Do They Really Mean.” Yathābhūta means the true nature of matter (or the true nature of bhūta), which arises via the MIND.

Tuy nhiên, có thể xem phần giải thích cơ bản trong “Bhūta and Yathābhūta – What Do They Really Mean.” Yathābhūta nghĩa là bản chất thật của vật chất (hay bản chất thật của bhūta), vốn sinh khởi qua TÂM.

  1. To summarize: Everything in this world is made of pure energy at the fundamental level. The perception of “solidity” is an elusion, i.e., the fundamental nature of “matter” is elusive. Note that I did not use the word “illusive,” which would mean it is an illusion or unreal. Even though the real nature is hidden, the existence of “things in this world” (as well as suffering) is authentic, i.e., not an illusion. [Elusion is the act of successfully hiding or escaping from someone. Your cat’s elusion makes it hard to find her when it’s time to take her to the vet. When you avoid being found or caught, that’s elusion.]

Tóm lại: Ở mức độ căn bản nhất, mọi thứ trong thế gian này đều được cấu thành từ năng lượng thuần túy. Nhận thức về “tính rắn chắc” là một sự che giấu (elusion), tức là bản chất nền tảng của “vật chất” là khó nắm bắt. Lưu ý rằng tôi không dùng từ “ảo tưởng”, vì điều đó hàm ý không có thật. Dù bản chất thật bị che giấu, sự tồn tại của “các sự vật trong thế gian này” (cũng như khổ đau) là có thật, không phải ảo giác. [Sự trốn thoát là hành động trốn tránh hoặc thoát khỏi ai đó một cách thành công. Việc con mèo của bạn lẩn tránh khiến bạn khó tìm thấy nó khi đến lúc phải đưa nó đi bác sĩ thú y. Khi bạn tránh để bị tìm thấy hoặc bị bắt, đó được gọi là sự trốn thoát.” ]

  • However, this wrong perception of “solidity” (distorted saññā or “saññā vipallāsa”) is one reason that we tend to place “value” on worldly things, i.e., “rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ” or “rūpās are of value.” That distorted perception also leads to placing value (atta/attā) on mental entities arising when thinking about some of those rūpās: vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa. See “Attato Samanupassati and Sotāpanna Stage.”

Tuy nhiên, nhận thức sai lệch về “tính rắn chắc” (saññā méo mó hay saññā vipallāsa) là một lý do khiến ta gán “giá trị” cho các sự vật thế gian, tức là “rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ” hay “các rūpa là có giá trị.” Nhận thức sai lệch đó cũng khiến ta gán giá trị (atta/attā) cho các hiện tượng tâm sinh khởi khi nghĩ về những rūpa ấy: vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa. Xem “Attato Samanupassati and Sotāpanna Stage.”

  • These are deep insights built into Buddha Dhamma. However, just getting the basic idea is enough. There is no need to study particle physics.

Đây là những tuệ giác sâu xa được tích hợp trong Dhamma của Đức Phật. Tuy nhiên, chỉ cần nắm được ý chính là đủ. Không cần phải nghiên cứu vật lý hạt.

Mundane Approaches versus Buddha’s Approach – Exactly Opposite

Cách Tiếp Cận Thế Tục So Với Cách Tiếp Cận Của Đức Phật – Hoàn Toàn Trái Ngược

  1. According to the Buddha, there are two mundane ways of understanding the world, i.e., those based on (i) human perception or “saññā” and (ii) logical mundane investigations (vitakka and vicāra).

Theo Đức Phật, có hai cách thế tục để hiểu thế giới: (i) dựa trên nhận thức cảm tính của con người (saññā), và (ii) dựa trên khảo sát, suy luận logic thế tục (vitakka và vicāra).

  • The Buddha called the way of coming to conclusions based solely on perception “sañjānāti.” This is how people have come to conclusions about the external world solely based on our crude five physical senses (based on essentially a “hunch”).

Đức Phật gọi cách đi đến kết luận chỉ dựa trên nhận thức cảm tính là sañjānāti. Đây là cách con người đưa ra kết luận về thế giới bên ngoài chỉ dựa trên năm giác quan thô sơ (về cơ bản là dựa vào cảm tính).

  • On the other hand, scientists used investigations with instruments and logical reasoning, which the Buddha called “vijānāti.”

Mặt khác, các nhà khoa học dùng thiết bị và suy luận logic để tìm hiểu, điều mà Đức Phật gọi là vijānāti.

  • Both are based solely on materialism, assuming we can understand the world by examining its material properties.

Cả hai cách này đều dựa trên chủ nghĩa duy vật, giả định rằng ta có thể hiểu thế giới bằng cách nghiên cứu các đặc tính vật chất của nó.

  1. However, Buddha’s teachings are based on an entirely different approach. It is completely mind-based. He did not need experiments with instruments or particle accelerators. Furthermore, his investigations revealed that it is the mind that leads to the existence of matter (in a subtler form than anyone imagined before modern discoveries).

Tuy nhiên, giáo pháp của Đức Phật dựa trên một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Đó là cách tiếp cận hoàn toàn dựa trên tâm. Ngài không cần thí nghiệm bằng thiết bị hay máy gia tốc hạt. Hơn nữa, sự quán chiếu của Ngài cho thấy chính tâm dẫn đến sự hiện hữu của vật chất (ở một dạng vi tế hơn nhiều so với những gì con người từng tưởng tượng trước các khám phá hiện đại).

  • He taught that one cannot understand the fundamental nature of the world either by using the five senses or by using scientific instruments to study material composition.

Ngài dạy rằng không thể hiểu bản chất nền tảng của thế giới chỉ bằng năm giác quan hay bằng các thiết bị khoa học để nghiên cứu cấu trúc vật chất.

  • The problem is two-fold: (i) We cannot see everything in the external world (that is why science does not recognize the other 29 realms; its instruments cannot probe the suddhaṭṭhaka level of matter). (ii) Everything in the external world arises due to collective mind power or javana power that can arise only in minds. One begins to understand the Buddha’s worldview at the pajānāti stage as a Sotāpanna, and that understanding becomes complete (abhijānāti) at the Arahant

Vấn đề có hai mặt: (i) Chúng ta không thể “nhìn thấy” mọi thứ trong thế giới bên ngoài (vì vậy khoa học không nhận ra sự tồn tại của 29 cõi khác; thiết bị của họ không thể thăm dò đến mức suddhaṭṭhaka của vật chất). (ii) Mọi thứ trong thế giới bên ngoài phát sinh do sức mạnh tâm tập thể hay năng lực javana, vốn chỉ có thể sinh khởi trong tâm. Một người bắt đầu hiểu thế giới quan của Đức Phật ở mức pajānāti khi đạt đến bậc Sotāpanna, và sự hiểu biết đó trở nên hoàn toàn (abhijānāti) ở bậc Arahant.

  • I briefly discussed the terms sañjānāti, vijānāti, pajānāti, and abhijānāti in “Cognition Modes – Sañjānāti, Vijānāti, Pajānāti, Abhijānāti.”

Tôi đã bàn ngắn gọn về các thuật ngữ sañjānāti, vijānāti, pajānāti và abhijānāti trong bài “Cognition Modes – Sañjānāti, Vijānāti, Pajānāti, Abhijānāti.”

Buddha Dhamma Is All About the Mind

Dhamma của Đức Phật Hoàn Toàn Liên Quan Đến Tâm

  1. The Buddha taught there is no point in investigating external objects in the world. Such investigations can never lead to the “ultimate truth” about life. He said one must focus only on one’s own mind. All the terms in Paṭicca Samuppāda (the basis of Buddha Dhamma) are mental entities.

Đức Phật dạy rằng việc điều tra các đối tượng bên ngoài trong thế gian là vô ích. Những cuộc điều tra như vậy không bao giờ có thể dẫn đến “chân lý tối hậu” về đời sống. Ngài nói rằng người ta chỉ nên tập trung vào chính tâm mình. Tất cả các thuật ngữ trong Paṭicca Samuppāda (nền tảng của Dhamma của Đức Phật) đều là các pháp thuộc về tâm.

  • All the terms in Paṭicca Samuppāda are “mental entities,” and NONE refers to anything material and visible in the outside world. For example, “āyatana” (in salāyatana) does not refer to physical sensory faculties (like the eyes or ears) but to the use of such sensory faculties to “collect more information” once attached. An Arahant does not have āyatana but can see or hear; they would not use their eyes and ears to enjoy sensory pleasures.

Tất cả các thuật ngữ trong Paṭicca Samuppāda đều là “các pháp tâm,” và KHÔNG có thuật ngữ nào chỉ đến vật chất hữu hình bên ngoài. Ví dụ, “āyatana” (trong salāyatana) không chỉ đến các căn vật lý (như mắt hay tai), mà chỉ đến việc sử dụng các căn đó để “thu thập thêm thông tin” khi đã dính mắc. Một vị Arahant không có āyatana nhưng vẫn có thể thấy hay nghe; các vị ấy không dùng mắt tai để hưởng thụ dục lạc.

  • Several terms in Paṭicca Samuppāda (viññāṇa, nāmarūpa, bhava, and jāti) have “energy” associated with them. Only “jāti” has anything that can be called “subtle matter” (invisible) because it leads to the arising of a subtle “manomaya kāya” with a few suddhaṭṭhaka (the “elementary particle” in Buddha Dhamma). People usually think about the birth of a baby as “jāti,” but that is not correct. In Paṭicca Samuppāda, the “bhava paccayā jāti” step leads to the “birth of a human gandhabba.” Then, that human gandhabba can be reborn many times with a physical human body during its existence for many thousands of years; see “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein.”

Một số thuật ngữ trong Paṭicca Samuppāda (viññāṇa, nāmarūpa, bhava và jāti) có liên hệ với “năng lượng.” Chỉ có “jāti” mới liên quan đến thứ có thể gọi là “vật chất vi tế” (vô hình) vì nó dẫn đến sự sinh khởi của một “manomaya kāya” vi tế với một vài suddhaṭṭhaka (được xem là “hạt cơ bản” trong Dhamma của Đức Phật). Người ta thường nghĩ sự sinh ra của một đứa bé là “jāti,” nhưng điều đó không đúng. Trong Paṭicca Samuppāda, bước “bhava paccayā jāti” dẫn đến “sự sinh của một gandhabba người.” Sau đó, gandhabba người đó có thể tái sinh nhiều lần với thân người vật lý trong suốt sự tồn tại kéo dài hàng ngàn năm; xem “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein.”

  • That is why ALL the terms in Paṭicca Samuppāda cease to arise once the Arahant stage of Nibbāna is reached. The Paṭicca Samuppāda process does not operate for a living Arahant.

Đó là lý do vì sao TẤT CẢ các thuật ngữ trong Paṭicca Samuppāda đều chấm dứt khi đạt đến bậc Arahant của Nibbāna. Tiến trình Paṭicca Samuppāda không còn vận hành đối với một vị Arahant còn sống.

Summary

Tóm Lược

  1. We have discussed the true meaning of atta/attā/anatta (in relation to anicca and dukkha) in the subsection “Does ‘Anatta’ Refer to a ‘Self’?

Chúng ta đã bàn về ý nghĩa thật của atta/attā/anatta (liên hệ với anicca và dukkha) trong mục “Does ‘Anatta’ Refer to a ‘Self’?

  • Those posts are based on a series of earlier posts (as outlined in the above link) on the “hidden pure mind” or “pabhassara citta.” One needs to make sure to understand those fundamental concepts.

Những bài đó dựa trên một loạt bài trước (như đã nêu trong liên kết trên) về “tâm trong sáng ẩn kín” hay pabhassara citta. Cần bảo đảm hiểu rõ các khái niệm nền tảng đó.

  • In the next post, we will discuss the Mūlapariyāya Sutta – The Root of All Things. “Mūlapariyāya” means something like “the fundamentals” of the world according to the Buddha.

Trong bài tiếp theo, chúng ta sẽ bàn về Mūlapariyāya Sutta – Cội Rễ Của Mọi Pháp. “Mūlapariyāya” có nghĩa tương tự như “những nền tảng căn bản” của thế giới theo Đức Phật.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *