Samādhi, Jhāna, Magga Phala – Introduction / Samādhi, Jhāna, Magga Phala – Giới thiệu

October 12, 2017; revised April 28, 2018; September 13, 2018; February 11, 2020; June 26, 2022; rewritten February 1, 2023

Ngày 12/10/2017; sửa ngày 28/04/2018; ngày 13/09/2018; ngày 11/02/2020; ngày 26/06/2022; viết lại ngày 01/02/2023

Introduction

Giới thiệu

  1. Many people have recently attained magga phala (with or without jhāna) worldwide. We are indebted to the late Waharaka Thero for this great awakening through his correct interpretations of Buddha’s teachings. Many work tirelessly to make those interpretations available to others; see, “Parinibbāna of Waharaka Thero.”

Gần đây, nhiều người trên khắp thế giới đã chứng đắc magga phala (có hoặc không có jhāna). Chúng ta mang ơn cố Trưởng lão Waharaka Thero vì sự thức tỉnh lớn lao này thông qua những cách diễn giải đúng đắn giáo pháp của Đức Phật. Nhiều người đã làm việc không mệt mỏi để phổ biến những cách diễn giải ấy đến người khác; xem bài “Parinibbāna of Waharaka Thero”.

  • Over the years, I have seen some critical issues related to jhāna and magga phala discussed at many online forums, without reaching a definitive conclusion. I hope this series of posts will be of use to bring more clarity.

Trong nhiều năm qua, tôi đã thấy nhiều vấn đề then chốt liên quan đến jhāna và magga phala được thảo luận trên các diễn đàn trực tuyến nhưng không đi đến kết luận rõ ràng. Tôi hy vọng loạt bài này sẽ giúp làm sáng tỏ những điểm đó.

  • I will create a consistent picture based solely on material from the Tipiṭaka. One common problem I see in online forums is that many people put Tipiṭaka on the same footing as commentaries (such as Visuddhimagga) written much later by people (non-Ariyā) like Buddhaghosa or Nagarjuna. That leads to confusion because those accounts have many contradictions with the Tipiṭaka.

Tôi sẽ xây dựng một bức tranh nhất quán chỉ dựa trên tư liệu từ Tipiṭaka. Một vấn đề phổ biến tôi thấy trên các diễn đàn là nhiều người đặt Tipiṭaka ngang hàng với các bộ chú giải (như Visuddhimagga) được viết muộn hơn rất nhiều bởi những người không phải bậc Thánh như Buddhaghosa hay Nagarjuna. Điều đó dẫn đến sự nhầm lẫn vì các bản chú giải này có nhiều điểm mâu thuẫn với Tipiṭaka.

  • These posts are supposed to be read in the given sequence. Please read carefully at a quiet time.

Các bài viết này cần được đọc theo đúng trình tự đã nêu. Vui lòng đọc kỹ những lúc yên tĩnh.

What Is Samādhi?

Samādhi là gì?

  1. Samādhi (“sama” + “adhi” where “sama” means “same” and “adhi” means “dominance.”) For example, if someone thinks, speaks, and acts like a thief, they will get to the mindset that is the same as that of a thief, i.e., they will have a samādhi (or mindset) the same as that of a “thief.” In formal meditation, if one contemplates the benefits of morals and the dangers of immoral, they will get in a “moral samādhi” compatible with such thoughts.

Samādhi (“sama” + “adhi”, trong đó “sama” nghĩa là “đồng nhất”, “adhi” nghĩa là “chi phối”). Ví dụ, nếu một người suy nghĩ, nói năng và hành động như một kẻ trộm, thì người đó sẽ đạt đến trạng thái tâm tương đồng với kẻ trộm, tức là có một samādhi (hay tâm thế) của “kẻ trộm”. Trong thiền chính thức, nếu một người quán chiếu lợi ích của đạo đức và hiểm họa của sự vô đạo đức, người đó sẽ đạt đến một “samādhi đạo đức” phù hợp với những suy nghĩ ấy.

  • A good analogy is the following. We become restless if our environment becomes too hot. Then we try to find a way to cool ourselves. We get very uncomfortable if we are in a “too cold” environment also. Then we try to be warm by turning on a heater or wrapping ourselves with blankets.

Một ví dụ minh họa là thế này: chúng ta trở nên bứt rứt nếu môi trường quá nóng và sẽ tìm cách làm mát. Tương tự, nếu môi trường quá lạnh, chúng ta cũng thấy khó chịu và sẽ tìm cách làm ấm bằng cách bật máy sưởi hoặc quấn chăn.

  • However, if the room temperature is moderate and away from both those extremes, we feel comfortable. We feel contended.

Nhưng khi nhiệt độ phòng ở mức vừa phải, tránh xa cả hai cực đoan đó, chúng ta cảm thấy dễ chịu và hài lòng.

  1. The definition of samādhi is more restricted when we discuss that in the context of formal meditation or even living a moral life. Here samādhi is to get closer to “equilibrium.” If we move away from the equilibrium, we will feel that physically, mentally, or both.

Khi bàn về samādhi trong bối cảnh thiền tập chính thức hoặc đời sống đạo đức, định nghĩa của samādhi được hiểu hẹp hơn. Ở đây, samādhi là tiến gần đến trạng thái “quân bình”. Nếu rời xa trạng thái quân bình này, chúng ta sẽ cảm nhận sự lệch lạc đó về mặt thân, tâm, hoặc cả hai.

  • To be physically in equilibrium, our bodies need to be in equilibrium. For example, we become uncomfortable, if the environment is cold or hot. To reach equilibrium, we need to heat or cool the room we are in. If we are in a noisy environment, we like to move away from there, etc.

Để đạt được trạng thái quân bình về mặt thân, cơ thể chúng ta cần ở trong trạng thái cân bằng. Ví dụ, chúng ta sẽ thấy khó chịu nếu môi trường quá lạnh hoặc quá nóng. Để đạt lại sự quân bình, ta cần làm ấm hoặc làm mát căn phòng đang ở. Nếu ở trong môi trường ồn ào, ta thường muốn rời khỏi nơi đó, v.v.

  • The opposite of the Pāli word “sama” is “visama.” When either the body or the mind gets “away from equilibrium” (meaning “visama”), we become uncomfortable.

Từ đối nghĩa của từ Pāli “sama” là “visama”. Khi thân hoặc tâm rơi vào trạng thái “xa khỏi quân bình” (tức là “visama”), chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu.

  • A greedy or angry mind is in a “visama” state and is away from samādhi.

Một tâm tham lam hoặc sân hận đang ở trong trạng thái “visama” và rời xa samādhi.

  • However, if the focus is a dhamma concept, the mind moves toward “equilibrium.”

Tuy nhiên, nếu đối tượng chú tâm là một dhamma, thì tâm sẽ tiến dần về trạng thái quân bình.

  • This type of samādhi is essential to attain Magga phala. Jhāna is a particular category of samādhi. It can be conducive but is not essential to get to sammā samādhi.

Loại samādhi này là điều cốt yếu để chứng Magga phala. Jhāna chỉ là một dạng đặc biệt của samādhi; nó có thể hỗ trợ, nhưng không phải là điều kiện bắt buộc để đạt sammā samādhi.

Sammā Samādhi Are Two Types

Sammā Samādhi Có Hai Loại

  1. Sammā Samādhi can be of many types. What is essential to attain magga phala is lokuttara Sammā Samādhi. As we have discussed before, there is mundane sammā samādhi that is reached by getting rid of the ten types of micchā diṭṭhi. Then there is lokuttara Sammā Samādhi that is reached by comprehending Tilakkhaṇa to some extent; see, “Buddha Dhamma – In a Chart.”

Sammā Samādhi có thể có nhiều dạng. Điều cốt yếu để chứng magga phala là lokuttara Sammā Samādhi. Như đã bàn trước đó, có loại sammā samādhi thế gian đạt được bằng cách loại bỏ mười loại micchā diṭṭhi. Sau đó là lokuttara Sammā Samādhi, đạt được khi hiểu Tilakkhaṇa ở một mức độ nhất định; xem bài “Buddha Dhamma – In a Chart”.

  • As discussed in the previous post, “Sīla, Samādhi, Paññā to Paññā, Sīla, Samādhi,” one gets to mundane Sammā Samādhi via “Sīla, Samādhi, Paññā.” Then one can comprehend the Tilakkhaṇa and follow the Noble Path via “Paññā, Sīla, Samādhi,” with Sammā Diṭṭhi taking the lead.

Như đã trình bày trong bài trước “Sīla, Samādhi, Paññā to Paññā, Sīla, Samādhi”, người ta đạt sammā samādhi thế gian theo trình tự “Sīla, Samādhi, Paññā”. Sau đó, khi đã hiểu Tilakkhaṇa, người ấy bước vào Thánh đạo theo trình tự “Paññā, Sīla, Samādhi”, với Sammā Diṭṭhi giữ vai trò dẫn đầu.

  • There is nowhere in the Tipiṭaka that says one needs jhāna to attain magga phala or Nibbāna. See, “Samādhi, Jhāna (Dhyāna), Magga Phala.”

Không có chỗ nào trong Tipiṭaka nói rằng cần phải có jhāna mới chứng được magga phala hay Nibbāna; xem bài “Samādhi, Jhāna (Dhyāna), Magga Phala”.

  • Magga phala means one is starting to break the bonds (dasa saṁyojana) to this world; see, “Dasa Saṁyojana – Bonds in Rebirth Process.” One attains magga phala by getting into lokuttara Sammā Samādhi (samādhi to remove “saŋ”: “saŋ” + “”; see, “What is “Saŋ”? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra).”

Magga phala có nghĩa là bắt đầu phá vỡ các trói buộc (dasa saṁyojana) với thế gian; xem bài “Dasa Saṁyojana – Bonds in Rebirth Process”. Người ta chứng magga phala bằng cách đạt lokuttara Sammā Samādhi (loại samādhi có tác dụng loại bỏ “saŋ”: “saŋ” + “mā”; xem bài “What is ‘Saŋ’? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra)”).

Jhāna and Samāpatti

Jhāna và Samāpatti

  1. Jhānā are mental states experienced by Brahmas in the 16 rūpāvacara Brahma A human can reach those mental states by overcoming akusala and kāma rāga. If only suppression of them happens, then those are anāriya (mundane) jhānā; if those defilements (anusaya) are removed in attaining them, they are Ariya (supermundane) jhānā attained by those with magga phala. See “Mundane versus Supramundane Jhāna.”

Jhānā là các trạng thái tâm được các Brahma trong 16 cõi rūpāvacara kinh nghiệm. Con người có thể đạt đến các trạng thái tâm đó bằng cách vượt qua akusala và kāma rāga. Nếu chỉ là đè nén chúng thì đó là anāriya jhānā (jhāna thế gian); nếu các khuynh hướng tiềm ẩn (anusaya) được đoạn trừ khi chứng đắc, thì đó là Ariya jhānā (jhāna siêu thế) của những người đã có magga phala. Xem “Mundane versus Supramundane Jhāna.”

  • There are only four jhānic states discussed in the Tipiṭaka. The first jhāna is split into two in the Abhidhamma

Trong Tipiṭaka chỉ nói đến bốn trạng thái jhāna. Riêng jhāna thứ nhất được phân tích thành hai trong Abhidhamma.

  • The mental states above those jhānic states are called four higher (fifth through eighth) jhānā these days. Those are mental states of the arūpāvacara (formless) Brahmas in the four arūpāvacara Brahma In the Tipiṭaka, those “formless attainments” (arūpa samāpattī) are never called “arūpa jhānā.” This is a later designation, especially by Buddhaghosa.

Các trạng thái tâm vượt trên các jhāna đó ngày nay thường được gọi là bốn jhāna cao hơn (từ thứ năm đến thứ tám). Chúng thực ra là các trạng thái tâm của các Brahma thuộc bốn cõi arūpāvacara. Trong Tipiṭaka, các “chứng đắc vô sắc” này (arūpa samāpattī) không bao giờ được gọi là “arūpa jhānā”; đây là cách gọi xuất hiện muộn về sau, đặc biệt là từ Buddhaghosa.

  1. For a human, getting to the first jhāna means (at least temporarily) transcending the kāma loka. Initially, that is only for a couple of thought moments (citta). Then the mind “gets back” to citta vīthi associated with the kāma loka. The “breakthrough” to jhānic states happens with the gotrabu citta (changing the “gotra” or the lineage). This is evident in an Abhidhamma analysis of citta vīthi; see “Citta Vīthi – Processing of Sense Inputs.”

Đối với con người, đạt đến jhāna thứ nhất có nghĩa là (ít nhất là tạm thời) vượt khỏi kāma loka. Ban đầu, điều này chỉ kéo dài trong vài sát-na tâm (citta). Sau đó, tâm lại quay về citta vīthi gắn với kāma loka. Sự “đột phá” vào các trạng thái jhāna xảy ra với gotrabu citta (tâm chuyển dòng, đổi “gotra” hay dòng giống). Điều này được thấy rõ trong phân tích citta vīthi của Abhidhamma; xem bài “Citta Vīthi – Processing of Sense Inputs”.

  • Only with practice one lengthens the “time in the first jhāna.” But the problem is identifying whether one has reached the jhāna So, this may not be easy for someone who has not cultivated jhāna in previous lives. Many misidentify various sensations as jhānā.

Chỉ với sự tu tập, người ta mới kéo dài được “thời gian ở trong jhāna thứ nhất”. Tuy nhiên, vấn đề là nhận diện đúng liệu mình đã thật sự đạt jhāna hay chưa. Vì vậy, điều này không dễ đối với những người chưa từng tu tập jhāna trong các đời trước; nhiều người đã nhầm lẫn các cảm giác khác nhau với jhānā.

  • As one lengthens the time in the first jhāna, one can start feeling those bodily experiences described in the Sāmaññaphala Sutta; see “Jhānic Experience in Detail – Sāmaññaphala Sutta (DN 2).”

Khi thời gian an trú trong jhāna thứ nhất được kéo dài, người ta có thể bắt đầu cảm nhận các trải nghiệm thân thể được mô tả trong Sāmaññaphala Sutta; xem bài “Jhānic Experience in Detail – Sāmaññaphala Sutta (DN 2)”.

  • When jhānic citta vīthi start running without falling back to kāmāvacara citta vīthi, one is in a jhāna samāpatti.

Khi các jhānic citta vīthi vận hành liên tục mà không rơi trở lại kāmāvacara citta vīthi, thì người đó đang ở trong jhāna samāpatti.

  • The higher arūpāvacara citta vīthi always run continuously; thus, they are always arūpāvacara samāpatti.

Các arūpāvacara citta vīthi ở tầng cao hơn luôn vận hành liên tục; vì vậy, chúng luôn là arūpāvacara samāpatti.

Jhānā Are Not Necessary to Attain Magga Phala

Jhāna Không Cần Thiết Để Chứng Magga Phala

  1. April 28, 2018: I found a desanā by Waharaka Thero where he presents clear evidence that jhāna is not necessary to attain magga phala (It is of course in the Sinhala language):

Ngày 28/4/2018: tôi tìm thấy một desanā của Ngài Waharaka Thero, trong đó Ngài đưa ra những bằng chứng rõ ràng rằng jhāna không phải là điều kiện cần để chứng magga phala (bài giảng bằng tiếng Sinhala):

WebLink: Download “Are Jhāna Required for Magga-Phala”

  • The main point Thero makes is that if a jhāna were REQUIRED to attain the Sotāpanna stage, then that person WOULD NOT be reborn in the human realm, but in a Brahma realm corresponding to that jhāna.

Điểm chính mà Ngài Thero nêu ra là: nếu jhāna là điều kiện BẮT BUỘC để chứng quả Sotāpanna, thì người đó SẼ KHÔNG tái sinh vào cõi người, mà sẽ tái sinh vào cõi Brahma tương ứng với jhāna đó.

  • However, the Tipiṭaka asserts that King Bimbisara (a Sotāpanna) was reborn in a lower Deva Another is that Sakka, the king of the Tāvatiṁsā Devas, became a Sotāpanna while listening to a discourse by the Buddha and was reborn as Sakka (i.e., he died and was reborn a moment later; he did not even realize that until Buddha told him.)

Tuy nhiên, Tipiṭaka xác nhận rằng vua Bimbisara (một vị Sotāpanna) đã tái sinh vào một cõi Deva thấp hơn. Một trường hợp khác là Sakka, vua của Tāvatiṁsā Deva, đã chứng Sotāpanna khi đang nghe Đức Phật thuyết pháp và được tái sinh lại làm Sakka (tức là ông chết và tái sinh ngay tức khắc; bản thân ông không hề nhận ra điều đó cho đến khi Đức Phật nói cho ông biết).

  • One must be an Anāgāmi to attain the FIRST Ariya jhāna since kāma rāga is eliminated even in the first Ariya jhāna. No sensual attraction can perturb one’s mind if one has reached that. So, one can watch any X-rated movie, for example, without getting aroused. That is the ultimate test of attaining either the Anāgāmi stage or the first Ariya jhāna; of course, one can be an Anāgāmi without attaining any jhāna.

Người ta phải là Anāgāmi mới có thể chứng được Ariya jhāna THỨ NHẤT, vì kāma rāga đã được đoạn trừ ngay trong Ariya jhāna đầu tiên. Khi đã đạt đến mức đó, không còn bất kỳ hấp dẫn dục lạc nào có thể làm dao động tâm. Vì vậy, ví dụ, người đó có thể xem bất kỳ phim khiêu dâm nào mà không hề bị kích động. Đây là phép thử tối hậu để xác nhận đã chứng Anāgāmi hoặc Ariya jhāna thứ nhất; dĩ nhiên, một người có thể là Anāgāmi mà không cần chứng bất kỳ jhāna nào.

Attaining Jhāna Has Nothing to Do With Nibbāna

Việc Đạt đến Jhāna Không Liên Quan Trực Tiếp Đến Nibbāna

  1. In simple terms, jhāna are mental states in the 16 rūpa realms and the four arūpa Thus by definition, attaining jhāna has nothing to do with Nibbāna. This can be seen in “The 89 (121) Types of Citta.”

Nói một cách đơn giản, jhāna là các trạng thái tâm thuộc 16 cõi rūpa và bốn cõi arūpa. Do đó, về mặt định nghĩa, việc chứng jhāna không liên quan gì đến Nibbāna. Điều này có thể thấy rõ trong “The 89 (121) Types of Citta”.

Jhāna falls into two categories (Ariya and anāriya) and — depending on the category — could be an asset or hindrance, as discussed in this section. The two categories are discussed in “Mundane versus Supramundane Jhāna.”

Jhāna được chia thành hai loại (Ariya và anāriya) và, tùy theo loại, có thể là trợ duyên hoặc chướng ngại, như đã bàn trong phần này. Hai loại đó được trình bày trong bài “Mundane versus Supramundane Jhāna”.

  • As discussed in “31 Realms Associated with the Earth” those 20 realms lie above the realms of kāma loka. Those rūpi and arūpi Brahmā enjoy only jhānic pleasures, which are better than sensual pleasures.

Như đã trình bày trong “31 Realms Associated with the Earth”, 20 cõi đó nằm phía trên kāma loka. Các Brahmā rūpi và arūpi chỉ hưởng thọ các lạc thọ jhāna, vốn vi tế hơn khoái lạc giác quan.

  • We all have been born in most of the 31 realms (except for the realms reserved for the Anāgāmis) uncountable times, and thus had attained those jhānic states uncountable times in previous lives.

Tất cả chúng ta đã từng tái sinh trong hầu hết 31 cõi (ngoại trừ các cõi dành riêng cho Anāgāmi) vô số lần, và do đó cũng đã đạt các trạng thái jhāna vô số lần trong những đời trước.

  • As we know, sensual pleasures are present only in kāma loka (human realm, six deva realms, and the animal realm).

Như đã biết, khoái lạc giác quan chỉ tồn tại trong kāma loka (cõi người, sáu cõi Deva và cõi súc sinh).

  • Humans can cultivate jhāna by suppressing (anāriya) or removing (Ariya) the craving for sensual pleasures (kāma rāga). The jhānic experience is discussed in “Jhānic Experience in Detail – Sāmaññaphala Sutta (DN 2).”

Con người có thể tu tập jhāna bằng cách đè nén (anāriya) hoặc đoạn trừ (Ariya) sự tham ái đối với khoái lạc giác quan (kāma rāga). Trải nghiệm jhāna được trình bày chi tiết trong “Jhānic Experience in Detail – Sāmaññaphala Sutta (DN 2)”.

  • One could approach Nibbāna via Ariya or anāriya jhāna; see, “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna).”

Người ta có thể tiếp cận Nibbāna thông qua Ariya jhāna hoặc anāriya jhāna; xem bài “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna)”.

Difference Between Ariya and Anāriya Jhāna

Sự Khác Biệt Giữa Ariya Jhāna và Anāriya Jhāna

  1. If those Brahmā are born there via cultivating mundane jhāna, then kāma rāga remains with them as anusaya (which means deeply hidden). So, when they die and are reborn in the lower realms, kāma rāga re-surface. The suppression is only during the time they live as Brahmā in those higher realms.

Nếu các vị Brahmā được sinh vào các cõi đó nhờ tu tập jhāna thế gian, thì kāma rāga vẫn còn tồn tại nơi họ dưới dạng anusaya (nghĩa là bị che giấu rất sâu). Vì vậy, khi họ chết và tái sinh vào các cõi thấp hơn, kāma rāga sẽ tái xuất hiện. Sự đè nén này chỉ tồn tại trong khoảng thời gian họ sống với tư cách là Brahmā ở các cõi cao đó.

  • In the same way, those humans who get into jhānā SUPPRESSING kāma rāga can lose the ability to get into jhānā even in this life. The best example from the Tipiṭaka is Devadatta, who developed not only anāriya (mundane) jhānā but also abhiññā powers, and then lost all that and ended up in an apāya. Even though Devadatta was exposed to correct Tilakkhaṇa (the Buddha himself ordained him), he did not comprehend.

Tương tự như vậy, những con người đạt được jhāna bằng cách ĐÈ NÉN kāma rāga có thể mất khả năng nhập jhāna ngay trong chính đời này. Ví dụ rõ ràng nhất trong Tipiṭaka là Devadatta, người đã phát triển không chỉ jhāna anāriya (thế tục) mà còn cả các năng lực abhiññā, nhưng sau đó đã mất hết tất cả và rơi vào apāya. Mặc dù Devadatta đã được tiếp xúc trực tiếp với Tilakkhaṇa đúng đắn (chính Đức Phật đã xuất gia cho ông), nhưng ông không hề thấu hiểu.

  • The ability to get into jhāna is also related to our gati (pronounced “gathi”; our habits from past lives). Those who have cultivated mundane jhānā in relatively recent past lives can quickly get into mundane jhāna and stay in it for even hours.

Khả năng nhập jhāna cũng liên hệ đến gati (đọc là “gathi”; tức các thói quen tích lũy từ các đời trước). Những ai đã từng tu tập jhāna thế tục trong các đời quá khứ tương đối gần có thể nhanh chóng nhập jhāna thế tục và duy trì trạng thái đó trong nhiều giờ.

  • However, if one gets into even the first Ariya (Supramundane) jhāna, one has essentially attained the Anāgāmī stage by removing kāma rāga; see, “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna).”

Tuy nhiên, nếu một người đạt được dù chỉ Ariya jhāna (siêu thế) đầu tiên, thì về bản chất người đó đã đạt đến tầng Anāgāmī do đã đoạn trừ kāma rāga; xem bài “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna)”.

Magga Phala Require Sammā Samādhi

Magga Phala Đòi hỏi Sammā Samādhi

  1. Magga phala (including the Arahant stage) can be reached via going through one of the jhānic states or without going through any jhānic state; see “Paññāvimutti – Arahanthood without Jhāna” and “The 89 (121) Types of Citta.”

Magga phala (bao gồm cả quả vị Arahant) có thể đạt được bằng cách đi qua một trạng thái jhānahoặc không cần đi qua bất kỳ trạng thái jhāna nào; xem “Paññāvimutti – Arahanthood without Jhāna” và “The 89 (121) Types of Citta”.

Điều này cũng được trình bày trong “WebLink: suttacentral: Paññāvimutta Sutta (AN 9.44)” và “WebLink: suttacentral: Susimaparibbājaka Sutta (SN 12.70)”.

  • Furthermore, a Sotāpanna may attain anāriya jhāna and be born in Brahma realms lying below the Suddhāvāsa realms reserved for the Anāgāmis. But they also do not return to kāma loka; see “Paṭhama Mettā Sutta.”

Hơn nữa, một vị Sotāpanna có thể đạt jhāna anāriya và tái sinh vào các cõi Brahma nằm dưới các cõi Suddhāvāsa vốn dành riêng cho Anāgāmī. Nhưng họ cũng sẽ không quay trở lại kāma loka; xem “Paṭhama Mettā Sutta”.

  • Of course, those who attain anāriya jhāna without magga phala will come back to kāma loka and could be born in the apāyā

Dĩ nhiên, những ai đạt jhāna anāriya mà chưa chứng magga phala sẽ quay trở lại kāma loka và có thể tái sinh vào apāyā về sau.

Further Details

Thông tin Bổ sung

  1. More detailed information with references to suttā in the section “Samādhi, Jhāna (Dhyāna), Magga Phala..

Thông tin chi tiết hơn, kèm các dẫn chứng từ suttā, được trình bày trong mục “Samādhi, Jhāna (Dhyāna), Magga Phala..”.

  • There are another series of posts on jhāna (in simpler terms, without too many Pāli words) in an older section: “Power of the Human Mind.” A new series with more details at “Elephant in the Room 2 – Jhāna and Kasiṇa.”

Ngoài ra còn có một loạt bài khác về jhāna (trình bày đơn giản hơn, ít thuật ngữ Pāli) trong mục cũ “Power of the Human Mind”. Một loạt bài mới với chi tiết hơn có trong “Elephant in the Room 2 – Jhāna and Kasiṇa”.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *