Sakkāya Diṭṭhi in Terms of Attā or “Self” or “Ātma” / Sakkāya Diṭṭhi theo nghĩa Attā hay “Ngã” hoặc “Ātma”

October 26, 2019; revised November 1, 2019; October 9, 2022

Ngày 26/10/2019; chỉnh sửa ngày 1/11/2019; ngày 9/10/2022

Summary of Chachakka Sutta Up to This Point

Tóm tắt Chachakka Sutta Cho Đến Thời Điểm Này

  1. The Chachakka Sutta (MN 148) describes in detail what happens when a new ārammaṇa (thought object) comes to the mind. The mind may “attach” (taṇhā) to that ārammaṇa via greed, anger, or ignorance. Let us briefly summarize those steps. All relevant posts are at “Origin of Life.”

Chachakka Sutta (MN 148) mô tả chi tiết những gì xảy ra khi một ārammaṇa mới (đối tượng của tâm) đến với tâm. Tâm có thể “bám chấp” (taṇhā) vào ārammaṇa đó thông qua tham, sân hoặc si. Hãy tóm tắt ngắn gọn các bước đó. Tất cả các bài liên quan nằm trong phần “Origin of Life.”

  • First, depending on the specific internal āyatana involved, one of six vipāka viññāṇa Those are cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya, or mano viññāṇa. Such a viññāṇa does not create kammic energy. It is just “seeing,” “hearing,” “smelling,” “tasting,” “touching,” or “recalling a memory or an idea.”

Trước hết, tùy theo āyatana bên trong nào liên quan, một trong sáu vipāka viññāṇa sinh khởi. Chúng là cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya hoặc mano viññāṇa. Loại viññāṇa này không tạo ra năng lượng kamma.Nó chỉ đơn giản là “thấy”, “nghe”, “ngửi”, “nếm”, “chạm”, hoặc “nhớ lại một ký ức hay một ý tưởng”.

  • Then the mind “makes contact” with “saŋ gati.” If one has gati to attach to that ārammaṇa via greed, anger, or ignorance, then the mind GENERATES corresponding somanassa, domanassa, or upekkhā vedanā. They are samphassa-jā-vedanā or mind-made vedanā.

Sau đó tâm “tiếp xúc” với “saŋ gati”. Nếu người đó có gati để bám chấp vào ārammaṇa đó qua tham, sân hoặc si, thì tâm sẽ TẠO RA somanassa, domanassa hoặc upekkhā vedanā tương ứng. Chúng là samphassa-jā-vedanā, tức là cảm thọ do tâm tạo ra.

  • The mind “attaches” to that ārammaṇa if such a “mind-made” vedanā One can attach (taṇhā) via greed, hate, or ignorance.

Tâm “bám chấp” vào ārammaṇa đó nếu loại vedanā do tâm tạo này sinh khởi. Người ta có thể bám chấp (taṇhā) qua tham, sân hoặc si.

  • The keyword ārammaṇa was introduced in the post “Vipāka Vedanā and ‘Samphassa jā Vedanā’ in a Sensory Event.”

Thuật ngữ ārammaṇa đã được giới thiệu trong bài “Vipāka Vedanā and ‘Samphassa jā Vedanā’ in a Sensory Event.”

The Unique Situation For an Arahant

Trường Hợp Đặc Biệt Của Một Vị Arahant

  1. Only the first step happens in an Arahant. There is no attachment to any ārammaṇa. Only the experience of kāma guṇa (such as the sweetness of sugar or the bitterness of lemon) is there. See, “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā).”

Chỉ có bước đầu tiên xảy ra ở một vị Arahant. Không có sự dính mắc vào bất kỳ ārammaṇa nào. Chỉ có sự trải nghiệm kāma guṇa (như vị ngọt của đường hay vị chua/đắng của chanh). Xem bài “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā).”

  • However, an Arahant would also feel sārīrika (bodily) vedanā due to injuries, sicknesses, etc. Those are dukkha, sukha, or adukkhamasukha vedanā. Note that an Arahant does not experience somanassa/domanassa vedanā (samphassa-jā-vedanā) based on those sārīrika (bodily) vedanā.

Tuy nhiên, một vị Arahant vẫn cảm nhận sārīrika vedanā (cảm thọ thân thể) do chấn thương, bệnh tật, v.v. Đó là dukkha, sukha hoặc adukkhamasukha vedanā. Lưu ý rằng một vị Arahant không trải nghiệm somanassa/domanassa vedanā (tức samphassa-jā-vedanā) dựa trên các cảm thọ thân thể (sārīrika vedanā) đó.

  • [Note (August 5, 2023): In the previous versions, I had used the term kāyika vedanā to represent vedanā felt by the physical body. However, “kāya” is used in other contexts, too, for example, as “an aggregate.” Furthermore, the following sutta specifically used sārīrika vedanā to describe the physical pain felt by the Buddha with an injury: “WebLink: suttacentral: Sakalika Sutta (SN 1.38).”]

[Lưu ý (5/8/2023): Trong các phiên bản trước, tôi đã dùng thuật ngữ kāyika vedanā để chỉ cảm thọ được cảm nhận bởi thân thể vật lý. Tuy nhiên, “kāya” còn được dùng trong các ngữ cảnh khác, ví dụ như “một uẩn.” Hơn nữa, sutta sau đây đã dùng thuật ngữ sārīrika vedanā để mô tả cơn đau thân thể mà Đức Phật cảm nhận khi bị thương: “WebLink: suttacentral: Sakalika Sutta (SN 1.38).”]

  • Anyone other than an Arahant MIGHT attach to a particular ārammaṇa. Whether or not that attachment happens depends on the “saŋ gati.” It is not that everyone attaches to every ārammaṇa.

Bất kỳ ai không phải là Arahant ĐỀU CÓ THỂ dính mắc vào một ārammaṇa nào đó. Việc sự dính mắc đó có xảy ra hay không phụ thuộc vào “saŋ gati.” Không phải ai cũng dính mắc vào mọi ārammaṇa.

Deeper Aspects of the Chachakka Sutta

Những Khía Cạnh Sâu Hơn Của Chachakka Sutta

  1. We also discussed the “deeper aspects” involved in those steps.

Chúng ta cũng đã thảo luận các “khía cạnh sâu hơn” liên quan đến những bước đó.

  • Only one of the six types of viññāṇa arises in mind at any moment due to a specific ārammaṇa. When we see, we do not hear, smell, taste, touch, or think AT THAT BRIEF MOMENT. That is because only one citta vīthi focused on one sensory input can be present at any moment. Put another way, only one pasāda rūpa can contact the hadaya vatthu (seat of the mind) at a given time. The mind analyzes that sensory contact with four citta vīthi JUST FOCUSED ON that particular sensory input.

Chỉ một trong sáu loại viññāṇa sinh khởi trong tâm tại bất kỳ thời điểm nào do một ārammaṇa cụ thể. Khi chúng ta thấy, chúng ta không nghe, không ngửi, không nếm, không chạm, và không suy nghĩ TRONG KHOẢNH KHẮC NGẮN NGỦI đó. Điều này là vì tại một thời điểm chỉ có một citta vīthi tập trung vào một dữ liệu giác quan. Nói cách khác, tại một thời điểm chỉ có một pasāda rūpa tiếp xúc với hadaya vatthu (trụ sở của tâm). Tâm phân tích sự tiếp xúc giác quan đó bằng bốn citta vīthi chỉ tập trung vào đúng dữ liệu giác quan đó.

  • For example, when the mind analyzes a “packet of sound,” it focuses on that sound. The mind DOES NOT and CANNOT see, taste, smell, etc. during that brief time. Thus sensory inputs are analyzed in “packets.” Each “packet” is only one of six possible types (sight, sound, taste, smell, touch, or recall of dhammā).

Ví dụ, khi tâm phân tích một “gói dữ liệu âm thanh,” nó chỉ tập trung vào âm thanh đó. Trong khoảng thời gian ngắn đó, tâm KHÔNG và KHÔNG THỂ thấy, nếm, ngửi, v.v. Do đó các dữ liệu giác quan được phân tích theo từng “gói.” Mỗi “gói” chỉ thuộc một trong sáu loại: hình ảnh, âm thanh, vị, mùi, xúc chạm, hoặc sự nhớ lại dhammā.

  • We analyzed that in terms of recent findings from modern science. The mind takes “snapshots” of each sensory input separated by about a hundredth of a second (10 milliseconds). Since that happens very fast, we “feel like” we are “seeing continuously.” That is an illusion created by the mind, just like we perceive a set of snapshots as a continuous movie. See, “Vision Is a Series of ‘Snapshots’ – Movie Analogy.”

Chúng ta đã phân tích điều này dựa trên các phát hiện gần đây của khoa học hiện đại. Tâm “chụp ảnh nhanh” của từng dữ liệu giác quan cách nhau khoảng một phần trăm giây (10 mili giây). Vì điều này diễn ra rất nhanh nên chúng ta “cảm thấy như” mình “thấy liên tục.” Đó là một ảo giác do tâm tạo ra, giống như khi chúng ta xem một chuỗi ảnh tĩnh mà cảm nhận nó như một bộ phim chuyển động liên tục. Xem bài “Vision Is a Series of ‘Snapshots’ – Movie Analogy.”

  • Not only that, but we feel that we are seeing, hearing, tasting, smelling, touching, and thinking simultaneously. But the reality is that the mind receives only one “snapshot” at a time. The mind has the astounding capability to combine “data packets” from the “six doors” without mixing them up!

Không chỉ vậy, chúng ta còn cảm thấy rằng mình đang thấy, nghe, nếm, ngửi, chạm và suy nghĩ cùng một lúc. Nhưng thực tế là tâm chỉ nhận một “ảnh chụp nhanh” tại một thời điểm. Tâm có khả năng đáng kinh ngạc trong việc kết hợp các “gói dữ liệu” từ “sáu cửa” mà không bị lẫn lộn!

What is Ghana Saññā?

Ghana Saññā là gì?

  1. The fast mind gives the illusion that there is a “person” or a “self” or an “attā” experiencing those sensory events. That incorrect perception is “ghana saññā” or a “perception of solidity.”

Tâm hoạt động rất nhanh tạo ra ảo giác rằng có một “con người,” một “cái tôi,” hay một “attā” đang trải nghiệm các sự kiện giác quan đó. Nhận thức sai lầm đó được gọi là ghana saññā hay “nhận thức về sự rắn chắc.”

  • I had not used the term “ghana saññā” previously. It is a word that describes the illusion that the mind creates by taking a series of “snapshots” and linking them together to provide a “continuous sensory experience.”

Trước đây tôi chưa sử dụng thuật ngữ ghana saññā. Đây là từ dùng để mô tả ảo giác mà tâm tạo ra bằng cách lấy một chuỗi “ảnh chụp nhanh” và nối chúng lại với nhau để tạo ra một “trải nghiệm giác quan liên tục.”

  • As we discussed, that happens when we watch a movie too. The illusion of continuous motion results from the projection of a series of “static pictures.” See, “Vision Is a Series of ‘Snapshots’ – Movie Analogy.”

Như chúng ta đã thảo luận, điều đó cũng xảy ra khi xem phim. Ảo giác về chuyển động liên tục xuất phát từ việc chiếu một chuỗi các hình ảnh tĩnh. Xem bài “Vision Is a Series of ‘Snapshots’ – Movie Analogy.”

  1. Any sensory event is just a brief “snapshot.” It lasts a brief moment and goes to the past. That is the critical point to understand. Bāhiya understood that point instantly and attained Arahanthood. But he had cultivated the path almost to the end and needed a “little push” to get there. We discussed that in the previous post, “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.”

Mọi sự kiện giác quan chỉ là một “ảnh chụp nhanh” ngắn ngủi. Nó tồn tại trong một khoảnh khắc rồi trở thành quá khứ. Đây là điểm then chốt cần hiểu. Bāhiya đã hiểu điểm này ngay lập tức và chứng đắc Arahant. Nhưng ông đã tu tập con đường gần đến đích và chỉ cần một “cú thúc nhẹ” để đạt tới đó. Chúng ta đã thảo luận điều đó trong bài trước: “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.

  • The mind has the astounding capability to recall preceding “snapshots,” and to put it all together to present a “continuous sensory experience.” That is why the Buddha called viññāṇa a magician.

Tâm có khả năng đáng kinh ngạc trong việc nhớ lại các “ảnh chụp nhanh” trước đó và ghép chúng lại với nhau để tạo ra một “trải nghiệm giác quan liên tục.” Đó là lý do Đức Phật gọi viññāṇa (thức) là một ảo thuật gia.

  1. We also have a “ghana saññā” about our physical body. We perceive our bodies as solid, but as I have explained in a previous post, our bodies are “mostly empty.” That is because those atoms and molecules which make up our bodies are mostly empty. See #7 – #10 of the post, “Mystical Phenomena in Buddhism?

Chúng ta cũng có “ghana saññā” đối với thân thể vật lý của mình. Chúng ta cảm nhận cơ thể như một khối rắn chắc, nhưng như tôi đã giải thích trong một bài trước, cơ thể chúng ta thực ra “phần lớn là trống rỗng.” Điều này là vì các nguyên tử và phân tử cấu thành cơ thể chủ yếu là khoảng trống. Xem mục #7 – #10 của bài “Mystical Phenomena in Buddhism?”.

  • I keep summarizing the discussion since there is a lot of material embedded in those verses. Now, let us discuss the next verse in the sutta.

Tôi tiếp tục tóm tắt cuộc thảo luận vì có rất nhiều nội dung được hàm chứa trong các câu kinh đó. Bây giờ chúng ta sẽ bàn đến câu kinh tiếp theo trong sutta.

Next Verse in the Chachakka SuttaSakkāya Samudaya

Câu kệ tiếp theo trong Chachakka Sutta – Sakkāya Samudaya

We have discussed up to the verse which ends with, “Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.” Now we are getting to the critical conclusion reached from those earlier verses.

Chúng ta đã thảo luận đến câu kệ kết thúc bằng: “Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.” Bây giờ chúng ta đi đến kết luận quan trọng rút ra từ các câu kệ trước đó.

  1. The next verse in the sutta starts with, “Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadācakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; rūpe ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; …”

Câu kệ tiếp theo bắt đầu bằng: “Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadācakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; rūpe ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; …”

  • Sakkāya here refers to sakkāya diṭṭhi. Samudaya (“saŋ” + “udaya”) means “arising (due to) saŋ.” Gāmini means “path.” Paṭipadā means an “action plan” or simply one’s behavior. Thus, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā means, “the behavior that leads to the arising of sakkāya diṭṭhi.”

Sakkāya ở đây chỉ sakkāya diṭṭhi (tà kiến về cái tôi). Samudaya (“saŋ” + “udaya”) nghĩa là “sự sinh khởi (do saŋ).” Gāmini nghĩa là “con đường.” Paṭipadā nghĩa là “kế hoạch hành động” hay đơn giản là hành vi của một người. Vì vậy sakkāyasamudayagāminī paṭipadā có nghĩa là “hành vi dẫn đến sự sinh khởi của sakkāya diṭṭhi.”

  • Then it says, sakkāya diṭṭhi arises because one believes that “cakkhu is mine, cakkhu is what I am, cakkhu is my ‘self.’”

Sau đó sutta nói rằng sakkāya diṭṭhi sinh khởi vì người ta tin rằng: “cakkhu là của tôi, cakkhu chính là tôi, cakkhu là bản ngã của tôi.”

  • The sutta then repeats that for all other five entities associated with “seeing.” They are rūpa, cakkhu viññāṇa, cakkhu samphassa, cakkhu samphassa-jā-vedanā, and taṇhā (that results from cakkhu samphassa-jā-vedanā).

Sutta tiếp tục lặp lại điều này cho năm yếu tố khác liên quan đến việc “thấy.” Đó là rūpa, cakkhu viññāṇa, cakkhu samphassa, cakkhu samphassa-jā-vedanā, và taṇhā (sinh ra từ cakkhu samphassa-jā-vedanā).

  • Then it is repeated for the other five internal āyatana: sota, ghāna, jivhā, kāya, mano.

Sau đó điều này được lặp lại cho năm āyatana bên trong còn lại: sota, ghāna, jivhā, kāya, mano.

Re-cap on the Initial Sensory Experience Due to Kamma Vipāka

Tóm lược về Trải Nghiệm Giác Quan Ban Đầu Do Kamma Vipāka

  1. All our discussions on the first half of the sutta led to the CRITICAL conclusion in the above verse. In simple terms, “there is no EXPERIENCER” experiencing those initial sensory inputs. As we remember, those INITIAL sensory inputs come in as kamma vipāka.

Tất cả các thảo luận của chúng ta về nửa đầu sutta dẫn đến kết luận RẤT QUAN TRỌNG trong câu trên. Nói một cách đơn giản, “không có người trải nghiệm” đang trải nghiệm các dữ liệu giác quan ban đầu đó. Như chúng ta đã thấy, các trải nghiệm giác quan BAN ĐẦU này đến như kamma vipāka.

  • Let me emphasize this point. Any sensory experience starts without direct initiation by the “experiencer.” For example, one FIRST sees an object via “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ.” But that does not happen by chance. It is ALWAYS a kamma vipāka.

Tôi muốn nhấn mạnh điểm này. Mọi trải nghiệm giác quan đều bắt đầu không do sự khởi xướng trực tiếp của “người trải nghiệm.” Ví dụ, trước hết người ta thấy một vật thông qua: “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ.” Nhưng điều đó không xảy ra ngẫu nhiên. Nó LUÔN là kamma vipāka.

  • A kamma vipāka experienced through the physical body (kāya) can be comforting (sukha), painful (dukkha), or neutral (adukkhamasukha). For example, one gets to lie on a comfortable bed due to a good kamma done in the past. A bad kamma done in the past leads to an injury. Both happen via “kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ.”

Một kamma vipāka được trải nghiệm qua thân thể vật lý (kāya) có thể dễ chịu (sukha), đau đớn (dukkha), hoặc trung tính (adukkhamasukha). Ví dụ, người ta được nằm trên chiếc giường thoải mái nhờ một nghiệp tốt đã làm trong quá khứ. Một nghiệp xấu trong quá khứ có thể dẫn đến chấn thương. Cả hai đều xảy ra qua: “kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ.”

  1. All other INITIAL sensory EXPERIENCES START with adukkhamasukha vedanā. We see, hear, smell, taste, or a thought comes to the mind. The last one is, “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.” All those generate adukkhamasukha vedanā (neutral feeling).

Tất cả các TRẢI NGHIỆM giác quan BAN ĐẦU khác đều bắt đầu bằng adukkhamasukha vedanā. Chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, hoặc một ý nghĩ xuất hiện trong tâm. Trường hợp cuối cùng là: “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.” Tất cả những điều đó tạo ra adukkhamasukha vedanā (cảm thọ trung tính).

  • However, based on all six initial sensory contacts, we may instantly generate somanassa or domanassa vedanā due to kāma guṇa. For example, it is natural for a human (including Arahants) to experience an appealing taste when tasting sugar or seeing an attractive person.

Tuy nhiên, dựa trên sáu loại tiếp xúc giác quan ban đầu đó, chúng ta có thể ngay lập tức tạo ra somanassa hoặc domanassa vedanā do kāma guṇa. Ví dụ, đối với con người (kể cả Arahant), việc cảm nhận vị dễ chịu khi nếm đường hoặc thấy một người hấp dẫn là điều tự nhiên.

  • Based on those are “mind-made” feelings or “samphassa-jā-vedanā.” They are different from dukkha/sukha vedanā associated with sensory contacts with the body (kāya).

Dựa trên những điều đó, các cảm thọ này là “cảm thọ do tâm tạo ra” hay samphassa-jā-vedanā. Chúng khác với dukkha/sukha vedanā liên quan đến sự tiếp xúc giác quan qua thân thể (kāya).

  • Now, based on such somanassa or domanassa vedanā due to kāma guṇa, an average human MAY generate samphassa-jā-vedanā. That will happen IF the mind “gets stuck” (taṇhā) on that sensory input. Of course, an Arahant WILL NOT generate those samphassa-jā-vedanā.

Bây giờ, dựa trên những somanassa hoặc domanassa vedanā phát sinh do kāma guṇa, một người bình thường CÓ THỂ tạo ra samphassa-jā-vedanā. Điều đó xảy ra NẾU tâm “bị mắc kẹt” (taṇhā) vào dữ liệu giác quan đó. Dĩ nhiên, một vị Arahant SẼ KHÔNG tạo ra những samphassa-jā-vedanā này.

  • That was discussed in, “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā).”

Điều này đã được bàn trong bài “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā).”

Taṇhā Leads to Upādāna via Paṭicca Samuppāda

Taṇhā dẫn đến Upādāna trong Paṭicca Samuppāda

  1. That is a critical step in Paṭicca Samuppāda, not discussed in the Chachakka Sutta. That sutta explains only the KAMMA VIPĀKA That step of “taṇhā paccayā upādāna” starts the “new kamma GENERATION” process.

Đây là một bước rất quan trọng trong Paṭicca Samuppāda, nhưng không được bàn chi tiết trong Chachakka Sutta. Sutta đó chỉ giải thích giai đoạn kamma vipāka. Bước “taṇhā paccayā upādāna” bắt đầu quá trình tạo kamma mới.

  • I hope you can see that ALL of our kamma generation activities start when a new ārammaṇa comes to mind. That starts with the “salāyatana paccayā phasso” step in the Paṭicca Samuppāda It is the “taṇhā paccayā upādāna” step that starts a new Paṭicca Samuppāda cycle with “avijjā paccayā saṅkhāra.”

Tôi hy vọng bạn có thể thấy rằng TẤT CẢ các hoạt động tạo kamma của chúng ta bắt đầu khi một ārammaṇa mới xuất hiện trong tâm. Điều đó bắt đầu từ bước “salāyatana paccayā phasso” trong chu trình Paṭicca Samuppāda. Chính bước “taṇhā paccayā upādāna” khởi động một chu trình Paṭicca Samuppāda mới với “avijjā paccayā saṅkhāra.”

  • That is a CRITICAL point. I will take the time to explain this “taṇhā paccayā upādāna” step. That way, one can get insights into how Paṭicca Samuppāda operates. Then one can begin to get an idea of the importance of understanding key concepts of Buddha Dhamma.

Đây là một điểm RẤT QUAN TRỌNG. Tôi sẽ dành thời gian để giải thích bước “taṇhā paccayā upādāna.” Nhờ đó người ta có thể hiểu rõ hơn cách Paṭicca Samuppāda vận hành. Từ đó, người ta có thể bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của việc hiểu các khái niệm cốt lõi của Buddha Dhamma.

A New Paṭicca Samuppāda Process Starts Only if One Starts Acting with Avijjā

Một Tiến trình Paṭicca Samuppāda Mới Chỉ Bắt Đầu Khi Hành Động với Avijjā

  1. Next, the Chachakka Sutta states the REASONS why a given person may START going through the kamma generation stage starting with avijjā. See, “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.”

Tiếp theo, Chachakka Sutta nêu ra những LÝ DO vì sao một người có thể BẮT ĐẦU bước vào giai đoạn tạo kamma, bắt đầu từ avijjā. Xem bài “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.”

  • One would pursue a given ārammaṇa (the sight, sound, etc.) ONLY IF one perceives that it is worthwhile or beneficial to him or her. That perception comes from the wrong view that those sensory experiences are one’s own. As we discussed, that wrong view is sakkāya diṭṭhi.

Một người sẽ theo đuổi một ārammaṇa (hình ảnh, âm thanh, v.v.) CHỈ KHI người đó nhận thức rằng nó đáng giá hoặc có lợi cho mình. Nhận thức đó xuất phát từ tà kiến rằng những trải nghiệm giác quan đó là của mình. Như đã thảo luận, tà kiến đó là sakkāya diṭṭhi.

  • One with sakkāya diṭṭhi does not realize that those experiences are just results of causes from the past. That they are kamma vipāka. Then one tries to get control of the situation by either trying to maintain a “good experience” or avoid a “bad experience.” Therefore, it is POSSIBLE for ANYONE with sakkāya diṭṭhi to go through the “taṇhā paccayā upādāna” step.

Người có sakkāya diṭṭhi không nhận ra rằng những trải nghiệm đó chỉ là kết quả của các nguyên nhân trong quá khứ, tức kamma vipāka. Vì vậy họ cố kiểm soát tình huống bằng cách duy trì một “trải nghiệm tốt” hoặc tránh một “trải nghiệm xấu.” Do đó BẤT KỲ AI có sakkāya diṭṭhi đều CÓ THỂ đi qua bước “taṇhā paccayā upādāna.”

  • However, a Sotāpanna (who has removed sakkāya diṭṭhi) may still do immoral deeds. A Sotāpanna would NOT do apāyagāmī But he/she may still do less-strong immoral deeds. That is because a Sotāpanna still has wrong perceptions (viparita saññā). At the Arahant stage, one would have removed both wrong views and perceptions. I will explain this in a future post after concluding the discussion on the Chachakka Sutta.

Tuy nhiên, một Sotāpanna (người đã đoạn trừ sakkāya diṭṭhi) vẫn có thể làm những hành động bất thiện. Một Sotāpanna sẽ KHÔNG làm các hành động dẫn đến apāya (các cõi khổ). Nhưng người đó vẫn có thể làm những hành động bất thiện nhẹ hơn. Điều này là vì một Sotāpanna vẫn còn nhận thức sai lầm (viparita saññā). Ở giai đoạn Arahant, người ta đã loại bỏ cả tà kiến lẫn nhận thức sai lầm. Tôi sẽ giải thích điều này trong một bài viết sau khi kết thúc phần thảo luận về Chachakka Sutta.

  1. However, not everyone with sakkāya diṭṭhi will go through the “taṇhā paccayā upādāna” step. Different people “attach” to different types of ārammaṇa.

Tuy nhiên, không phải ai có sakkāya diṭṭhi cũng sẽ đi qua bước “taṇhā paccayā upādāna.” Những người khác nhau sẽ bám chấp vào các loại ārammaṇa khác nhau.

  • For example, if a beautiful woman starts working at a workplace, everyone will see her as beautiful. But only a few will get “attached” and start thinking about asking her for a date. There could even be a person who may “fall in love head over heels” at first sight of her.

Ví dụ, nếu một phụ nữ xinh đẹp bắt đầu làm việc tại một nơi làm việc, mọi người đều thấy cô ấy đẹp. Nhưng chỉ một vài người sẽ “bị dính mắc” và bắt đầu nghĩ đến việc mời cô ấy đi hẹn hò. Thậm chí có thể có người “yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.”

  • That is why we cannot say there is “no-self” either. Until one attains Arahanthood, there will be a “dynamic self” who gets attached to some things in this world. I say a “dynamic self” because there is no “fixed self” in the sense of a soul or a “ātma.” See “What Reincarnates? – Concept of a Lifestream.”

Đó là lý do vì sao chúng ta cũng không thể nói đơn giản rằng “không có tự ngã.” Cho đến khi đạt Arahant, vẫn tồn tại một “cái ngã động” bám chấp vào một số thứ trong thế giới này. Tôi gọi là “cái ngã động” vì không có một cái ngã cố định theo nghĩa linh hồn hay ātma. Xem bài “What Reincarnates? – Concept of a Lifestream.”

Attachment (Taṇhā) Can Happen Due to Greed, Anger, or Ignorance

Sự Bám Chấp (Taṇhā) Có Thể Xảy Ra Do Tham, Sân Hoặc Si

  1. In the above example, we discussed getting attached to the sight of a beautiful woman. But as we have discussed, one can “attach” to a ārammaṇa via anger or ignorance.

Trong ví dụ ở trên, chúng ta đã bàn về việc dính mắc vào hình ảnh của một người phụ nữ đẹp. Nhưng như đã thảo luận, người ta cũng có thể “dính mắc” vào một ārammaṇa thông qua sân hoặc si.

  • Seeing an enemy, one will instantly generate anger in mind via the steps in the Chachakka Sutta. Here, the samphassa-jā-vedanā generated is a domanassa vedanā. It is a stressful vedanā. But still one “attaches” to that ārammaṇa, and will start making bad vacī saṅkhāra (i.e., conscious thoughts of anger) in mind.

Khi nhìn thấy kẻ thù, người ta sẽ ngay lập tức sinh ra sự tức giận trong tâm theo các bước trong Chachakka Sutta. Ở đây samphassa-jā-vedanā được tạo ra là domanassa vedanā. Đây là một cảm thọ căng thẳng. Nhưng dù vậy người ta vẫn “bám chấp” vào ārammaṇa đó và bắt đầu tạo ra vacī saṅkhāra bất thiện (tức là các suy nghĩ có ý thức đầy sân hận) trong tâm.

  • On the other hand, the samphassa-jā-vedanā generated in the example discussed in #12 above (upon seeing a beautiful woman) is a somanassa vedanā. That person is “attached” via greed.

Ngược lại, samphassa-jā-vedanā sinh ra trong ví dụ ở mục #12 (khi thấy một người phụ nữ đẹp) là somanassa vedanā. Người đó “bám chấp” thông qua tham.

  • In some situations, there could be confusion on how to respond to a ārammaṇa and still get “stuck.” That is due to avijjā.

Trong một số tình huống, người ta có thể bối rối không biết phải phản ứng thế nào với một ārammaṇa và vẫn bị “mắc kẹt” vào đó. Điều này là do avijjā (vô minh).

Taṇhā Leads to Upādāna Depending on One’s Level of Avijjā

Taṇhā Dẫn đến Upādāna Tùy theo Mức độ Avijjā

  1. Having one or more of the following views leads to sakkāya diṭṭhi.

Có một hoặc nhiều quan điểm sau đây sẽ dẫn đến sakkāya diṭṭhi.

  • The physical body (kāya) is mine, it is what I am, and it is my “self.” Furthermore, all associated bodily functions are mine; they are what I am and my “self.” Those are: seeing or cakkhu, hearing or sota, tasting or jivhā, smelling or ghāna, touching or kāya, and thinking or mana. See #6 above.

Thân thể vật lý (kāya) là của tôi, nó chính là tôi, và nó là “bản ngã” của tôi. Hơn nữa, tất cả các chức năng liên quan đến thân cũng là của tôi; chúng chính là tôi và là “bản ngã” của tôi. Những chức năng đó gồm: thấy (cakkhu), nghe (sota), nếm (jivhā), ngửi (ghāna), chạm (kāya), và suy nghĩ (mana). Xem mục #6 ở trên.

  • Then one also tends to associate some external rūpa the same way. Those are rūpa rūpa (or vaṇṇa rūpa or simply rūpa), sadda rūpa, gandha rūpa, rasa rūpa, phoṭṭhabba rūpa, and dhamma rūpa or dhammā. For example, “this is my house; my song; this is my cake; my favorite scent; my comfy bed; these are my thoughts.”

Sau đó người ta cũng có xu hướng liên hệ một số rūpa bên ngoài theo cách tương tự. Đó là rūpa rūpa (hay vaṇṇa rūpa), sadda rūpa, gandha rūpa, rasa rūpa, phoṭṭhabba rūpa, và dhamma rūpa (hay dhammā). Ví dụ: “đây là nhà của tôi; bài hát của tôi; chiếc bánh của tôi; mùi hương yêu thích của tôi; chiếc giường êm ái của tôi; những suy nghĩ của tôi.”

  • One may also perceive that all of one’s mental aspects (cakkhu viññāṇa, cakkhu samphassa, cakkhu samphassa-jā-vedanā, and taṇhā) are all one’s “self.” Of course, the same with other mental aspects associated with other sense faculties. There are 36 (6 × 6) such entities that the sutta See, “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.”

Người ta cũng có thể nghĩ rằng tất cả các khía cạnh tâm lý của mình (cakkhu viññāṇa, cakkhu samphassa, cakkhu samphassa-jā-vedanā, và taṇhā) đều là “bản ngã” của mình. Tương tự đối với các yếu tố tâm lý liên quan đến các giác quan khác. Sutta liệt kê 36 (6 × 6) thực thể như vậy. Xem “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.”

Pañcupādānakkhandhā as Sakkāya Diṭṭhi

Pañcupādānakkhandhā như là Sakkāya Diṭṭhi

  1. Those 36 entities are also known as “pañcupādānakkhandhā.” Here, pañcupādānakkhandhā comes from “pañca” + “upādāna” + “khandha” or the five aggregates to which one gets attached. See “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.”

Ba mươi sáu thực thể này cũng được gọi là pañcupādānakkhandhā. Thuật ngữ này gồm “pañca” + “upādāna” + “khandha”, tức năm uẩn mà người ta bám chấp vào. Xem “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa.”

  • If you carefully look at those 36 entities, they include rūpakkhandha, vedanākkhandha, saññākkhandha, saṅkhārakkhandha, and the viññāṇakkhandha. However, one does not consider all of those to be “mine.” For example, out of all the houses in this world, one may claim to own one or a few homes. Out of all humans, one may have a set of people that one considers “mine.” For example, my parents, wife, children, friends, etc.

Nếu xem xét kỹ 36 thực thể này, chúng bao gồm rūpakkhandha, vedanākkhandha, saññākkhandha, saṅkhārakkhandha, và viññāṇakkhandha. Tuy nhiên, người ta không xem tất cả những thứ đó là “của mình.” Ví dụ, trong tất cả các ngôi nhà trên thế giới, người ta chỉ nhận một hoặc vài căn là của mình. Trong tất cả mọi người, người ta chỉ xem một số là “của mình” như cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè, v.v.

  • Therefore, only a tiny fraction of the pañcakkhandha one has “attachments to.” Those attachments can vary from very strong (my body is the strongest) to decreasing levels for friends, neighbors, etc.

Do đó chỉ có một phần rất nhỏ của pañcakkhandha là đối tượng mà người ta bám chấp. Mức độ bám chấp có thể khác nhau: mạnh nhất là đối với thân thể của mình, rồi giảm dần đối với bạn bè, hàng xóm, v.v.

  • Thus, pañcupādānakkhandhā is a small fraction of the pañcakkhandha.

Vì vậy pañcupādānakkhandhā chỉ là một phần nhỏ của pañcakkhandha.

WebLink: suttacentral: Sakkāyapañhā Sutta (SN 38.15) ĐỊNH NGHĨA sakkāya là pañcupādānakkhandhā:

“’Sakkāyo, sakkāyo’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamo nu kho, āvuso, sakkāyo”ti? “Pañcime, āvuso, upādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā, seyyathidaṁ— rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime kho, āvuso, pañcupādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā”ti.

Other Ways of Describing Sakkāya Diṭṭhi

Các Cách Khác Để Mô Tả Sakkāya Diṭṭhi

  1. It is possible to describe sakkāya diṭṭhi in somewhat different ways. However, all of those are inter-consistent. The following posts discuss some of those. Please let me know if you find any inconsistencies (lal@puredhamma.net) or we can discuss it at the discussion forum.

Có thể mô tả sakkāya diṭṭhi theo nhiều cách hơi khác nhau. Tuy nhiên, tất cả những cách đó đều nhất quán với nhau. Các bài viết sau đây bàn về một số cách giải thích đó. Xin hãy cho tôi biết nếu bạn phát hiện bất kỳ sự không nhất quán nào (lal@puredhamma.net) hoặc chúng ta có thể thảo luận tại diễn đàn thảo luận.

  • Sakkāya Diṭṭhi – “Not Seeing the Unfruitful Nature of the World”

Sakkāya Diṭṭhi – “Không Thấy Được Bản Chất Không Đem Lại Lợi Ích Của Thế Giới”

  • Sakkāya Diṭṭhi and Tilakkhaṇa

Sakkāya Diṭṭhi và Tilakkhaṇa

  • Sakkāya Diṭṭhi – Getting Rid of Deeper Wrong Views

Sakkāya Diṭṭhi – Loại Bỏ Những Tà Kiến Sâu Hơn

Wrong Views of Nicca and Sukha Lead to the Wrong View of Attā

Tà Kiến Về Nicca và Sukha Dẫn Đến Tà Kiến Về Attā

  1. One gets attached to things one perceives to be nicca and sukha. Nicca (pronounced “nichcha”) means we believe we can keep them in the way we want or like. Sukha means we think we will be happy by getting “ownership” of them.

Người ta bám chấp vào những thứ mà mình cho là nicca và sukha. Nicca (đọc là “nichcha”) nghĩa là chúng ta tin rằng mình có thể giữ chúng theo cách mình muốn hoặc thích. Sukha nghĩa là chúng ta nghĩ rằng mình sẽ hạnh phúc khi có “quyền sở hữu” đối với chúng.

  • Then one takes “ownership” of them. One considers those to be “one’s own” or “attā.” That attachment can vary from very strong to less intense. One’s own body and mental qualities (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa regarding one’s own body) give the strongest sense of attā.

Sau đó người ta nhận chúng là của mình. Người ta xem chúng là “của mình” hay attā. Sự bám chấp đó có thể từ rất mạnh đến yếu hơn. Thân thể của mình và các yếu tố tâm lý của mình (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa liên quan đến thân mình) tạo ra cảm giác attā mạnh nhất.

  • Then comes one’s spouse, children, house, cars, etc., relatives and friends, etc.

Sau đó là vợ/chồng, con cái, nhà cửa, xe cộ, họ hàng và bạn bè, v.v.

  • Therefore, the hardest thing to remove is the sense of attā about one’s body.

Vì vậy, điều khó loại bỏ nhất là cảm giác attā đối với thân thể của mình.

  • IT CANNOT be removed by willpower. It comes only from understanding this world’s anicca, dukkha, and anatta What we discussed up to now plays a significant role in that understanding. There is no “experiencer.” A sensory input comes in as a result (kamma vipāka) of a previous cause (kamma).

Điều này KHÔNG THỂ loại bỏ chỉ bằng ý chí. Nó chỉ biến mất khi hiểu được bản chất anicca, dukkha, anatta của thế giới. Những gì chúng ta đã thảo luận đến nay đóng vai trò quan trọng trong sự hiểu biết đó. Không có “người trải nghiệm.” Một dữ liệu giác quan xuất hiện như kết quả (kamma vipāka) của một nguyên nhân trước đó (kamma).

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *