Rūpa Kalāpa (Grouping of Matter) / Rūpa Kalāpa (Sự kết hợp của Sắc pháp)

Revised September 15, 2020; September 6, 2022; October 17, 2022 (#7); December 3, 2022 (#7)

Sửa ngày 15/9/2020; 6/9/2022; 17/10/2022 (#7); 3/12/2022 (#7)

  1. There are 28 rūpa types discussed in Abhidhamma: “Rūpa (Material Form) – Table.” They are not found separately in nature. The four causes produce them through tiny material groups called rūpa kalāpā or “elementary groups of matter.”

Trong Abhidhamma có 28 loại rūpa, được trình bày trong bảng “Rūpa (Material Form)”. Chúng không tồn tại riêng lẻ trong tự nhiên. Bốn nhân sinh ra chúng thông qua các nhóm vật chất cực nhỏ gọi là rūpa kalāpa, hay “những nhóm vật chất căn bản”.

  • All rūpā have origins in the four great elements of pathavī, āpo, tejo, and vāyo. However, they all arise together in the smallest unit of matter, a suddhaṭṭhaka. See “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.” Four more rūpā (vaṇṇa, gandha, rasa, oja) derived from the great elements are in a suddhaṭṭhaka, making it an octad (composed of eight or an aṭṭaka).

Tất cả sắc pháp đều có nguồn gốc từ bốn đại: pathavī (địa), āpo (thủy), tejo (hỏa) và vāyo (phong). Tuy nhiên, chúng luôn sinh khởi cùng nhau trong đơn vị vật chất nhỏ nhất gọi là suddhaṭṭhaka. Xem “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.” Ngoài bốn đại này, còn có bốn rūpā phát sinh từ các đại là vaṇṇa, gandha, rasa, oja, hợp thành một nhóm tám rūpā, gọi là bát sắc (aṭṭaka).

  • There are 15 other elementary units (rūpa kalāpā) that derive from suddhaṭṭhaka. All 16 types of rūpa kalāpā are not further divisible. They are avinibbhoga rūpa.

Có thêm 15 đơn vị căn bản khác (rūpa kalāpa) được hình thành từ suddhaṭṭhaka. Tổng cộng có 16 loại rūpa kalāpa, và chúng không thể chia nhỏ hơn nữa. Chúng được gọi là avinibbhoga rūpa.

  • Let us briefly discuss them.

Sau đây là phần trình bày ngắn gọn về các nhóm này.

  1. There are three rūpa kalāpā that have nine units: A suddhaṭṭhaka “energized” by kammic energy becomes a jīvita navaka (vital nonad) of nine units. That added unit is an “energy unit” called a jīvita rūpa. That jīvita rūpa keeps a physical body alive. Another element of nine units, a sadda navaka (sound nonad) is responsible for the sound created by utu, i.e., an utuja rūpa. Another is kāyaviññatti navaka created by cittā responsible for bodily intimation.

Có ba loại rūpa kalāpa gồm chín đơn vị: Khi một suddhaṭṭhaka “được kích hoạt” bởi năng lực kamma, nó trở thành jīvita navaka (cửu sắc mạng). Đơn vị được thêm vào là một “đơn vị năng lực” gọi là jīvita rūpa, có chức năng duy trì sự sống của thân vật lý. Một nhóm chín đơn vị khác là sadda navaka (cửu sắc âm thanh), chịu trách nhiệm cho âm thanh do thời tiết sinh ra, tức utuja rūpa. Nhóm thứ ba là kāyaviññatti navaka, do tâm sinh, chịu trách nhiệm cho thân biểu tri.

  • Eight types of rūpa kalāpā have ten units (dasaka or decad) created by kammic energy: Here a suddhaṭṭhaka combines with a jīvita rūpa and another unit created by kammic energy to become a dasaka. Those eight types of dasaka are vital parts of a living being. For example, a cakkhu pasāda rūpa (together with the other nine units) creates a cakkhu dasaka responsible for seeing. In the same way sota dasaka, ghana dasaka, jivhā dasaka, kāya dasaka Itthibhāva rūpa and purisabhāva rūpa give rise to itthibhāva dasaka and purisabhāva dasaka. The seat of the mind, vatthu dasaka arises with the hadaya vatthu.

Có tám loại rūpa kalāpa gồm mười đơn vị (dasaka hay thập sắc) được sinh ra bởi năng lượng kamma. Trong đó, một suddhaṭṭhaka kết hợp với jīvita rūpa và thêm một đơn vị khác do kamma sinh, tạo thành một dasaka. Tám loại dasaka này là những thành phần thiết yếu của một chúng sinh. Ví dụ, cakkhu pasāda rūpa cùng với chín sắc còn lại tạo thành cakkhu dasaka, chịu trách nhiệm cho việc thấy. Tương tự là sota dasaka, ghana dasaka, jivhā dasaka và kāya dasaka. Itthibhāva rūpa và purisabhāva rūpa lần lượt tạo thành itthibhāva dasaka và purisabhāva dasaka. Nền tảng của tâm, vatthu dasaka, sinh khởi cùng với hadaya vatthu.

  • The following are created only by citta (thoughts): One is vacīviññatti-sadda-dasaka (vocal intimation decad) responsible for speech. Kāyaviññatti-lahutādi-dvadasaka (dodecad of bodily intimation) of 12 units with kāyaviññatti and three lahutādi rūpa. Another is vacīviññatti-sadda-lahutādi-terāsaka (tricad of sound) of 13 units with vacīviññatti, three lahutādi rūpa, and sadda.

Các nhóm sau đây chỉ do citta (tâm) sinh: Thứ nhất là vacīviññatti-sadda-dasaka (thập sắc khẩu biểu tri), chịu trách nhiệm cho lời nói. Kế đến là kāyaviññatti-lahutādi-dvadasaka (mười hai sắc thân biểu tri), gồm kāyaviññatti và ba lahutādi rūpa. Một nhóm khác là vacīviññatti-sadda-lahutādi-terāsaka (mười ba sắc âm thanh), gồm vacīviññatti, ba lahutādi rūpa và sadda.

  • Then there is lahutādi-ekadasaka (suddhaṭṭhaka + lahutā + mudutā + kammaññatā) with 11 units created by citta. There is also sadda–lahutādi-dvadasaka (suddhaṭṭhaka + lahutā + mudutā + kammaññatā + sadda) with 12 units created by utu.

Ngoài ra còn có lahutādi-ekadasaka (suddhaṭṭhaka + lahutā + mudutā + kammaññatā) do tâm sinh. Cũng có sadda–lahutādi-dvadasaka (suddhaṭṭhaka + lahutā + mudutā + kammaññatā + sadda) do utu sinh.

  1. All rūpa kalāpā have the following characteristics.

Tất cả rūpa kalāpa đều có những đặc tính sau:

  1. All the rūpā in a rūpa kalāpa arise together, i.e., they have a common genesis.

Tất cả rūpā trong một rūpa kalāpa sinh khởi cùng lúc, tức có chung một sự sinh khởi.

  1. They also cease or dissolve together, i.e. they have a common cessation.

Chúng cũng hoại diệt cùng lúc, tức có chung một sự diệt.

  1. They all depend on the four great essentials present in the kalāpa for their arising, i.e. they have a common dependence.

Chúng đều nương vào bốn đại hiện diện trong kalāpa để sinh khởi, tức có chung một nền tảng y cứ.

  1. They are so thoroughly mixed that they cannot be distinguished, i.e. they co-exist.

Chúng hòa trộn chặt chẽ đến mức không thể phân biệt riêng rẽ, tức đồng tồn tại.

  1. It should be noted that kalāpā are so small that they are indistinguishable from pure energy. The origin of rūpa is a javana citta, which is formless and mass-less. Science has shown that the smallest “particle” detected, the Higgs boson, is indistinguishable from energy. See, “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

Cần lưu ý rằng các kalāpa nhỏ đến mức không thể phân biệt với năng lượng thuần túy. Nguồn gốc của rūpa là javana citta, vốn không hình tướng và không khối lượng. Khoa học cũng cho thấy rằng hạt nhỏ nhất từng được phát hiện, boson Higgs, không thể phân biệt với năng lượng. Xem “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

  1. There are 17 types of kalāpā produced in 21 ways:

Có 17 loại kalāpa được tạo ra theo 21 cách:

9 kammaja kalāpā, 6 cittaja kalāpā, 4 utuja kalāpā, 2 āhāraja kalāpā, as shown below:

9 kalāpa do kamma sinh, 6 kalāpa do tâm sinh, 4 kalāpa do utu sinh và 2 kalāpa do āhāra  sinh, như trình bày dưới đây:

  Kamma-born

Do kamma sinh

Citta-born

Do citta sinh

Utu-born

Do utu sinh

Āhāra-born

Do āhāra sinh

Cakkhu dasaka (eye decad)

Cakkhu dasaka (thập sắc nhãn)

Đúng      
Sota dasaka (ear decad)

Sota dasaka (thập sắc nhĩ)

Đúng      
Ghana dasaka (nose decad)

Ghana dasaka (thập sắc tỷ)

Đúng      
Jivhā dasaka (tongue decad)

Jivhā dasaka (thập sắc thiệt)

Đúng      
Kāya dasaka (body decad)

Kāya dasaka (thập sắc thân)

Đúng      
Itthi dasaka (female decad)

Itthi dasaka (thập sắc nữ)

Đúng      
Purisa dasaka (male decad)

Purisa dasaka (thập sắc nam)

Đúng      
Vatthu dasaka (base decad)

Vatthu dasaka (thập sắc căn bản)

Đúng      
Jīvita navaka (vital nonad)

Jīvita navaka (cửu sắc mạng)

Đúng      
Suddhaṭṭhaka (pure octad)

Suddhaṭṭhaka (bát sắc thuần)

  Đúng Đúng Đúng
Kāya-viññatti navaka (body intimation nonad)

Kāya-viññatti navaka (cửu sắc thân biểu tri)

  Đúng    
Vacī-viññatti sadda dasaka (vocal intimation decad)

Vacī-viññatti sadda dasaka (thập sắc khẩu biểu tri)

  Đúng    
Lahutādi eka dasaka (undecad of mutability)

Lahutādi eka dasaka (thập nhất sắc biến hoại)

  Đúng Đúng Đúng
Kāyaviññatti lahutādi dvā dasaka (undecad of mutability)

Kāyaviññatti lahutādi dvā dasaka (thập nhất sắc biến hoại – thân biểu tri)

  Đúng Đúng  
Vacīviññatti sadda lahutādi terasa dasaka (tridecad of mutability)

Vacīviññatti sadda lahutādi terasa dasaka (thập tam sắc biến hoại)

  Đúng    
Sadda navaka (sound decad)

Sadda navaka (cửu sắc âm thanh)

    Đúng  
  1. Internal and External Kalāpā

Kalāpa Nội và Kalāpa Ngoại

All the 21 rūpa kalāpā mentioned above occur internally in living beings. Itthibhāva-dasaka does not occur in males. Similarly, pumbhava-dasaka (or purisabhāva-dasaka) does not occur in females. For those who are born blind or deaf, cakkhu-dasaka or sota-dasaka are not present.

Tất cả 21 loại rūpa kalāpa được nêu ở trên đều hiện diện nội tại trong các chúng sinh sống. Itthibhāva-dasaka không hiện diện ở nam giới. Tương tự, pumbhava-dasaka (hay purisabhāva-dasaka) không hiện diện ở nữ giới. Đối với những người sinh ra bị mù hoặc điếc, cakkhu-dasaka hoặc sota-dasaka sẽ không hiện diện.

  • In the external (bahiddha) world, only the two utuja-kalāpā are found. All inanimate things, such as trees, stones, earth, water, fire, corpses, etc., are made up of utujasuddhaṭṭhaka kalāpā. The sounds produced by beating two sticks together, rubbing branches in the wind, or by instruments such as violin, piano, radio, cassettes, etc., are utuja-sadda-navaka kalāpā.

Trong thế giới bên ngoài (bahiddha), chỉ có hai loại utuja-kalāpa hiện diện. Tất cả các vật vô tri như cây cối, đá, đất, nước, lửa, tử thi, v.v. đều được cấu tạo bởi các utuja-suddhaṭṭhaka kalāpa. Các âm thanh được tạo ra do đập hai que vào nhau, do cành cây cọ xát trong gió, hoặc do các nhạc cụ như violin, piano, radio, cassette, v.v. đều là các utuja-sadda-navaka kalāpa.

  • From the internal rūpas, kāya-pasāda, bhava-rūpa (femininity and masculinity), cittaja-rūpa, utuja-rūpa and āhāraja-rūpa spread all over the body. So they will be present in the eye, the ear, the nose, the tongue and in every part of the body.

Trong các rūpa nội, kāya-pasāda (thân thanh tịnh sắc), bhava-rūpa (tính nữ và tính nam), cittaja-rūpa (sắc do tâm sinh), utuja-rūpa (sắc do thời tiết sinh) và āhāraja-rūpa (sắc do thực phẩm sinh) lan tỏa khắp toàn thân. Vì vậy, chúng hiện diện trong mắt, tai, mũi, lưỡi và trong mọi phần của cơ thể.

  1. Rūpa in Kāmaloka

Rūpa trong Kāmaloka

If circumstances permit, all 28 material qualities occur undiminished in an individual during a lifetime in kāmaloka (sense-sphere).

Nếu đủ điều kiện, cả 28 sắc pháp đều hiện diện đầy đủ nơi một cá nhân suốt đời sống trong dục giới (kāmaloka).

  • In womb-born creatures, only three kammaja-kalāpā comprising body-decad, sex-decad and heart-decad are manifested at the moment of conception (at paṭisandhi).

Ở các loài sinh từ bào thai, chỉ có ba kammaja-kalāpa được biểu hiện tại thời điểm thọ thai (paṭisandhi), gồm thân-thập sắc, giới tính-thập sắc và tâm căn-thập sắc.

Here again, the sex-decad may not be manifested in some particular individuals. After conception, during life, the eye-decad and the rest are manifested slowly in due order. Of the groups of material qualities produced in four ways, kammaja-rūpa starts to form at the moment of conception and forms incessantly at every minor instant. Cittaja-rūpa begins to form from the second moment of consciousness, i.e., from the arising instant of the first bhavaṅga, which follows the rebirth-consciousness. Cittaja-rūpa continues to be formed for a lifetime.

Ở đây cũng vậy, thập sắc giới tính có thể không hiện diện ở một số cá nhân đặc biệt. Sau khi thọ thai, trong suốt đời sống, nhãn-thập sắc và các nhóm còn lại dần dần hiện khởi theo trình tự thích hợp. Trong các nhóm sắc pháp được sinh ra theo bốn cách, kammaja-rūpa bắt đầu hình thành ngay tại thời điểm thọ thai và tiếp tục hình thành không gián đoạn ở mỗi sát-na nhỏ. Cittaja-rūpa bắt đầu hình thành từ sát-na tâm thứ hai, tức từ sát-na sinh khởi của bhavaṅga đầu tiên, tiếp sau tâm tái sinh. Cittaja-rūpa tiếp tục được hình thành suốt cả đời sống.

  • Utuja-rūpa starts to form from the existing instant of rebirth consciousness. The reason is that the tejo-dhātu (utu) present in the first kammaja-kalāpā comes to the static stage (ṭhiti) at that instant. From that time onward, the tejo-dhātu produces utuja-rūpa at every moment. Since tejo-dhātu is present in every kalāpa, every kalāpa, from the time it reaches the static stage, produces new utuja-kalāpā at every minor instant. And the new utuja-kalāpā, from the time they reach the static stage, again produce new utuja-kalāpā at every minor instant. So this process goes on forever.

Utuja-rūpa bắt đầu hình thành từ sát-na trụ của tâm tái sinh. Lý do là vì tejo-dhātu (utu) hiện diện trong các kammaja-kalāpa đầu tiên đạt đến giai đoạn trụ (ṭhiti) vào sát-na đó. Từ thời điểm đó trở đi, tejo-dhātu tạo ra utuja-rūpa ở mỗi sát-na. Vì tejo-dhātu hiện diện trong mọi kalāpa, nên mỗi kalāpa, kể từ khi đạt đến giai đoạn trụ, đều sinh ra các utuja-kalāpa mới ở mỗi sát-na nhỏ. Và các utuja-kalāpa mới này, kể từ khi đạt đến giai đoạn trụ, lại tiếp tục sinh ra các utuja-kalāpa mới ở mỗi sát-na nhỏ. Do đó, tiến trình này diễn ra liên tục không ngừng.

Every kalāpa also contains the nutritional essence of oja. But āhāraja-rūpa forms when internal oja meets external oja at the time of diffusion of nutritional essence, and the combination of internal and external oja comes to the static stage. From that instant, āhāraja-rūpa is also formed at every minor instant. Old groups dissolve and disappear as new groups of material qualities are incessantly produced. Thus, the material phenomena go on uninterruptedly in the sense-sphere till the end of life like the flame of a lamp, or a river stream.

Mỗi kalāpa đều chứa tinh chất dinh dưỡng là oja. Tuy nhiên, āhāraja-rūpa chỉ hình thành khi oja nội tại gặp oja bên ngoài trong quá trình phân bố tinh chất dinh dưỡng, và sự kết hợp giữa oja nội và ngoại đạt đến giai đoạn trụ. Kể từ sát-na đó, āhāraja-rūpa cũng được hình thành ở mỗi sát-na nhỏ. Các nhóm cũ tan rã và biến mất khi các nhóm sắc pháp mới liên tục được sinh ra. Do đó, các hiện tượng vật chất tiếp diễn không gián đoạn trong dục giới cho đến cuối đời, giống như ngọn lửa của cây đèn hay dòng chảy của con sông.

Material Phenomena at Death: At the time of death, psychic life and physical life must cease together. This means that all kammaja-rūpa that contains physical life must cease at the time of death. So at the beginning of the seventeenth citta, reckoned backward from the death-consciousness (cuti citta), the last kammaja-rūpa is formed. This last kammaja-rūpa will cease at the dissolving instant of the death-consciousness. Cittaja rūpa is formed till the arising instant of the cuti citta. This last cittaja rūpa will have lasted for a conscious-moment at the dissolution of cuti citta and thus will perish in another sixteen conscious-moments, which happens almost instantly. Āhāraja rūpa is formed till the dissolving instant of the cuti citta because the support required for the formation of āhāraja rūpa can be furnished by citta up to that time. So at death, that last-formed āhāraja rūpa lasted only one minor instant. However in another fifty minor instants (rūpa lifespan – 51 minor instants or 17 conscious-moments), that āhāraja rūpa also ceases. Thus at the time of death, kammaja rūpa, cittaja rūpa and āhāraja rūpa cease almost instantly.

Hiện tượng Sắc pháp/Vật chất Lúc Chết: Vào thời điểm chết, đời sống tâm lý và đời sống vật chất phải chấm dứt đồng thời. Điều này có nghĩa là tất cả kammaja-rūpa mang sự sống vật lý đều phải chấm dứt vào lúc chết. Do đó, tại thời điểm bắt đầu của sát-na tâm thứ mười bảy, tính ngược từ tâm tử (cuti citta), kammaja-rūpa cuối cùng được hình thành. Kammaja-rūpa cuối cùng này sẽ chấm dứt tại sát-na diệt của tâm tử. Cittaja rūpa được hình thành cho đến sát-na sinh khởi của cuti citta. Cittaja rūpa cuối cùng này tồn tại trong một sát-na tâm tại thời điểm diệt của cuti citta và do đó sẽ hoại diệt sau mười sáu sát-na tâm nữa, diễn ra gần như tức thời. Āhāraja rūpa được hình thành cho đến sát-na diệt của cuti citta, vì sự hỗ trợ cần thiết cho việc hình thành āhāraja rūpa vẫn còn được cung cấp bởi citta cho đến thời điểm đó. Do vậy, khi chết, āhāraja rūpa cuối cùng chỉ tồn tại trong một sát-na nhỏ. Tuy nhiên, sau năm mươi sát-na nhỏ nữa (tuổi thọ của sắc pháp – 51 sát-na nhỏ hay 17 sát-na tâm), āhāraja rūpa đó cũng chấm dứt. Vì vậy, vào thời điểm chết, kammaja rūpa, cittaja rūpa và āhāraja rūpa gần như chấm dứt ngay lập tức.

  • But utuja-rūpa form and dissolve until the corpse is converted into dust. A corpse consists of only utuja-rūpa.

Tuy nhiên, utuja-rūpa vẫn tiếp tục sinh và diệt cho đến khi thi thể tan rã thành bụi. Một tử thi chỉ bao gồm utuja-rūpa.

  • So when a person dies and is reborn in another life, material phenomena similarly arise from the instant of conception and go on arising till the time of death.

Vì vậy, khi một người chết và tái sinh trong một đời sống khác, các hiện tượng sắc pháp cũng sinh khởi từ thời điểm thọ thai và tiếp tục sinh khởi cho đến lúc chết.

Arising of Material Phenomena in Rūpa-planes

Sự Sinh Khởi Của Sắc Pháp Trong Các Cõi Rūpa

In the rūpa-plane, nose-decad, tongue-decad, and āhāraja-kalāpā do not arise. At the opapātika rebirth, five kammaja-kalāpā (vatthu, bhāva, kāya, cakkhu, and sota) arise. During life, however, cittaja-kalāpā and utuja-kalāpā also arise. For the Asañña Brahmā, hadaya vatthu is there, but it is shielded by the “physical body,” which has no mana-indriya. Thus, it cannot interact with dhammā (or viññāṇa-dhātu), and cittā cannot arise. Therefore, cittaja-kalāpā do not arise.

Trong sắc giới (rūpa), tỷ-thập sắc, thiệt-thập sắc và các āhāraja-kalāpa không sinh khởi. Khi tái sinh hóa sinh (opapātika), năm kammaja-kalāpa sinh khởi là: vatthu, bhāva, kāya, cakkhu và sota. Tuy nhiên, trong suốt đời sống, các cittaja-kalāpa và utuja-kalāpa vẫn sinh khởi. Đối với Asañña Brahmā, hadaya vatthu vẫn hiện diện, nhưng nó bị che chắn bởi “thân vật chất” không có ý căn (mana-indriya). Do đó, nó không thể tương tác với các pháp (dhammā hay viññāṇa-dhātu), và các tâm (cittā) không thể sinh khởi. Vì vậy, cittaja-kalāpa không sinh khởi.

  • Thus in kāma loka and rūpa loka, the process of the arising of material phenomena should be understood in two ways, that is (1) at rebirth and (2) during life.

Vì vậy, trong kāma loka và rūpa loka, tiến trình sinh khởi của các hiện tượng sắc pháp cần được hiểu theo hai phương diện: (1) tại thời điểm tái sinh và (2) trong suốt đời sống.

  • For details, see “Body Types in 31 Realms – Importance of Manomaya Kaya,” and “Bhūta and Yathābhūta – What Do They Really Mean.”

Để biết thêm chi tiết, xin xem “Body Types in 31 Realms – Importance of Manomaya Kaya” và “Bhūta and Yathābhūta – What Do They Really Mean.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *