Peace of Mind to Nibbāna – The Key Step / Từ An Tâm đến Nibbāna – Bước Then Chốt

August 12, 2016; Revised December 21, 2016; June 27, 2022 (note that I wrote this in 2016); August 27, 2022 (note that I wrote this in 2016)

Ngày 12/8/2016; sửa ngày 21/12/2016; 27/6/2022 (lưu ý bài gốc viết năm 2016); ngày 27/8/2022 (lưu ý bài gốc viết năm 2016).

I have changed the title of this post from “Nirāmisa Sukha to Nibbāna Suva – The Key Step.”

Tôi đã đổi tiêu đề bài viết này từ “Nirāmisa Sukha to Nibbāna Suva – The Key Step.”

One needs to experience a “peace of mind” or “cooling down” (nirāmisa sukha) before starting on the Noble Path to Nibbāna; the transition to the Sotāpanna stage happens when one comprehends the anicca nature while experiencing nirāmisa sukha.

Một người cần phải trải nghiệm “sự an tâm” hay “sự nguội mát” (nirāmisa sukha) trước khi bắt đầu Thánh Đạo dẫn đến Nibbāna; sự chuyển sang bậc Sotāpanna xảy ra khi người ấy hiểu được bản chất anicca trong lúc đang trải nghiệm nirāmisa sukha.

  • After that transition, nirāmisa sukha becomes permanent with the removal of the pañcanīvaraṇa. The full explanation will take more posts, but we start here.

Sau sự chuyển hóa đó, nirāmisa sukha trở nên thường trực nhờ việc loại bỏ các pañcanīvaraṇa. Phần giải thích đầy đủ sẽ cần thêm nhiều bài nữa, nhưng chúng ta bắt đầu từ đây.

  • Many people start meditating without understanding what to meditate on. One needs to learn the basics of pure Buddha Dhamma first. One can start with conventional meditation techniques that are out there. Still, to grasp deeper Dhamma, one needs to stay away from the ten defilements (dasa akusala) as much as possible.

Nhiều người bắt đầu thiền mà không hiểu mình phải thiền về điều gì. Trước hết cần học những căn bản của Dhamma của Đức Phật. Người ta có thể khởi đầu bằng các kỹ thuật thiền thông thường, nhưng để nắm bắt Dhamma sâu hơn, cần phải tránh xa mười nhiễm ô (dasa akusala) càng nhiều càng tốt.

  1. In the previous post “Living Dhamma – Introduction,” we discussed the experience of X. Please read it before reading this post.

Trong bài trước “Living Dhamma – Introduction,” chúng ta đã bàn về trải nghiệm của X. Xin hãy đọc bài đó trước khi đọc bài này.

  • X had experienced nirāmisa sukha by engaging in a regular anāriya Mettā Bhāvanā. Even though it led to a relaxed and calm state of mind, X realized that at the same time the desire to engage in some types of sensual pleasures (reading books or listening to music) went away.

X đã trải nghiệm nirāmisa sukha nhờ thực hành đều đặn anāriya Mettā Bhāvanā. Mặc dù điều đó dẫn đến trạng thái tâm thư thái và an tĩnh, X nhận ra rằng đồng thời mong muốn tham gia vào một số loại dục lạc (như đọc sách hay nghe nhạc) cũng dần biến mất.

  • Then X stopped meditating for two weeks, and the ability to enjoy books or music returned. However, the nirāmisa sukha also disappeared, and X’s mind was again burdened and agitated.

Sau đó X ngừng thiền trong hai tuần, và khả năng thưởng thức sách hoặc âm nhạc đã quay trở lại. Tuy nhiên, nirāmisa sukha cũng biến mất, và tâm của X lại trở nên nặng nề và xao động.

  • Some people may not have experienced such a temporary “cooling down” or nirāmisa sukha, so I thought of discussing this a bit more before discussing the technical term “kilesa.” It is important to figure out one’s current status before reaching the next stage. It is a step-by-step process.

Một số người có thể chưa từng trải nghiệm sự “nguội mát” tạm thời hay nirāmisa sukha như vậy, nên tôi nghĩ nên bàn thêm một chút về điều này trước khi nói đến thuật ngữ kỹ thuật “kilesa.” Điều quan trọng là phải xác định tình trạng hiện tại của mình trước khi bước sang giai đoạn tiếp theo. Đây là một quá trình từng bước một.

  • One needs to get to that stage (where X was) to at least experience the difference between the nirāmisa sukha and sensory pleasures to start comprehending anicca At that stage, pañcanīvaraṇa is temporarily lifted and the mind becomes calm enough to comprehend anicca nature. However, that can happen momentarily during listening to a discourse too.

Một người cần đạt đến giai đoạn đó (như X) để ít nhất trải nghiệm được sự khác biệt giữa nirāmisa sukha và các dục lạc giác quan, từ đó bắt đầu hiểu bản chất anicca. Ở giai đoạn ấy, pañcanīvaraṇa được nhấc lên tạm thời và tâm trở nên đủ tĩnh để thấu hiểu anicca. Tuy nhiên, điều đó cũng có thể xảy ra thoáng chốc trong lúc nghe một bài pháp thoại.

  1. When fully immersed in sensory pleasures, the mental burden that inevitably comes with it is not apparent to that person. We have gotten used to the “mental agitation in the background” and don’t feel it most of the time. Only when one gets into a “calmed state of mind” can one appreciate the burden of this “constant agitation or incessant distress” in the background.

Khi đắm chìm hoàn toàn trong dục lạc giác quan, gánh nặng tinh thần vốn tất yếu đi kèm với nó lại không hiện rõ đối với người đó. Chúng ta đã quen với “sự xao động âm ỉ ở nền phía sau” tâm và phần lớn thời gian không cảm nhận được. Chỉ khi bước vào một “trạng thái tâm lắng dịu” thì người ta mới nhận ra gánh nặng của “sự xao động liên tục hay nỗi bất an dai dẳng” ở nền phía sau ấy.

  • Through the meditation program, X has begun to appreciate the relief from this “incessant distress” effect due to pañanīvaraṇa, and the relief is called nirāmisa sukha.

Nhờ chương trình thiền tập, X bắt đầu cảm nhận được sự nhẹ nhõm khỏi tác động “bất an dai dẳng” này do pañcanīvaraṇa gây ra, và sự nhẹ nhõm đó được gọi là nirāmisa sukha.

  • However, the conundrum is that there is a price to pay (if one does not comprehend the anicca nature)! To the dismay of X, the ability to enjoy some favorite sense pleasures disappeared.

Tuy nhiên, vấn đề nan giải là sẽ có một cái giá phải trả (nếu không thấu hiểu bản chất anicca)! Điều khiến X thất vọng là khả năng tận hưởng một số dục lạc ưa thích đã biến mất.

  1. In very simple terms, this problem arises because X has not comprehended the anicca nature (what we will be doing in this new section is to discuss a step-by-step process that could help comprehend the anicca nature).

Nói thật đơn giản, vấn đề này phát sinh vì X chưa thấu hiểu bản chất anicca (trong phần mới này, điều chúng ta sẽ làm là thảo luận một tiến trình từng bước có thể giúp thấu hiểu bản chất anicca).

  • In X’s mind, those sensory pleasures are worth hanging on to. And that feeling is VERY POWERFUL.

Trong tâm của X, những dục lạc giác quan ấy là đáng để níu giữ. Và cảm giác đó RẤT MẠNH.

  • Even though a Sotāpanna who has lost the craving for SOME sensory pleasures has still more left. So, even a Sotāpanna knows how hard it is to eliminate that “nagging feeling” of needing to seek sensory pleasures. Of course, a Sotāpanna would not do any apāyagāmi deeds seeking sensory pleasures.

Dù một Sotāpanna đã mất sự thèm khát đối với MỘT SỐ dục lạc giác quan, họ vẫn còn những thứ khác. Vì vậy, ngay cả một Sotāpanna cũng biết việc loại bỏ cái “cảm giác thôi thúc dai dẳng” phải đi tìm dục lạc giác quan khó đến mức nào. Dĩ nhiên, một Sotāpanna sẽ không làm bất kỳ hành vi apāyagāmi nào để tìm cầu dục lạc.

  1. This is why comprehending the anicca nature is so important at X’s stage. When one comprehends the anicca nature to SOME EXTENT, one loses the “nagging feeling” to seek some sensory pleasure.

Đây là lý do vì sao việc thấu hiểu bản chất anicca lại quan trọng đến vậy ở giai đoạn của X. Khi một người thấu hiểu anicca ở MỘT MỨC ĐỘ NÀO ĐÓ, người ấy sẽ mất đi “cảm giác thôi thúc dai dẳng” phải đi tìm một số dục lạc giác quan.

  • Only when one truly realizes the dangers (or at least the worthlessness) of given sensory pleasure will the mind automatically lose that “nagging feeling.” For example, if one likes to go hunting, one will not give it up voluntarily until one starts seeing the bad consequences of that activity. Same for fishing, being an alcoholic or a drug user, etc.

Chỉ khi một người thật sự nhận ra những nguy hiểm (hoặc ít nhất là sự vô giá trị) của một dục lạc giác quan cụ thể, thì tâm mới tự động mất đi cái “cảm giác thôi thúc dai dẳng” đó. Ví dụ, nếu ai đó thích đi săn, họ sẽ không tự nguyện bỏ cho đến khi bắt đầu thấy các hậu quả xấu của hoạt động ấy. Điều này cũng tương tự với câu cá, nghiện rượu hay dùng ma túy, v.v.

  • Comprehension of the anicca nature comes gradually. One first sees the dangers in immoral sense pleasures. Then one sees the worthlessness in extreme sense pleasures that are not harmful to others but oneself. One sees the worthlessness of any sensory pleasure in the kāma loka only at the Anāgāmī This is why it is a step-by-step process.

Sự thấu hiểu bản chất anicca đến một cách dần dần. Trước hết, người ta thấy được các nguy hiểm trong những dục lạc bất thiện. Sau đó, người ta thấy sự vô giá trị của các dục lạc cực đoan tuy không hại người khác nhưng hại chính mình. Chỉ đến bậc Anāgāmī thì người ta mới thấy sự vô giá trị của mọi dục lạc giác quan trong kāma loka. Đó là lý do vì sao đây là một quá trình từng bước.

  1. It is like holding onto a gold necklace that was considered valuable. But if it were undoubtedly proven that the necklace was an imitation, one would instantly lose the attachment to it.

Điều này giống như đang nắm giữ một sợi dây chuyền vàng được xem là quý giá. Nhưng nếu được chứng minh chắc chắn rằng sợi dây ấy chỉ là đồ giả, người ta sẽ lập tức mất sự dính mắc vào nó.

  • Attaining the Sotāpanna stage via comprehending the anicca nature to some extent is like that, i.e., realizing the dangers (and/or worthlessness) of SOME extreme sense pleasures. Even though one may not realize that one has lost the craving for SOME sense attractions, one will realize that within weeks or months.

Đạt đến giai đoạn Sotāpanna nhờ thấu hiểu anicca ở một mức độ nào đó cũng giống như vậy, tức là nhận ra sự nguy hiểm (và/hoặc vô giá trị) của MỘT SỐ dục lạc cực đoan. Dù ban đầu người ta có thể không nhận ra rằng mình đã mất sự thèm khát đối với MỘT SỐ sức hút giác quan, nhưng trong vài tuần hoặc vài tháng họ sẽ nhận ra điều đó.

  • Then, the more one meditates on the anicca nature, the more one starts seeing the perils of other (less harmful) sense pleasures too. That is why one HAS TO proceed step-by-step. Getting rid of ALL kāma rāga (attachment to sense inputs via the body touches, smells, and tastes) happens only at the Anāgāmī

Sau đó, càng quán chiếu/thiền về bản chất anicca, người ta càng bắt đầu thấy những tai hại của các dục lạc giác quan khác (ít gây hại hơn) nữa. Vì vậy người ta BẮT BUỘC PHẢI tiến từng bước. Việc loại bỏ TOÀN BỘ kāma rāga (dính mắc vào các đối tượng giác quan qua xúc chạm thân, mùi và vị) chỉ xảy ra ở bậc Anāgāmī.

  1. However, I must say that X is a bit unusual in losing the desire to read books and listen to music. Those are not really “extreme sense pleasures.” Before that one will lose the desire to go fishing, mistreat animals, etc., and get pleasure from lying, gossiping, slandering, stealing, sexual misconduct, etc. I am quite sure X never tended to those anyway.

Tuy nhiên, tôi phải nói rằng X hơi khác thường khi đánh mất mong muốn đọc sách và nghe nhạc. Những điều đó thực sự không phải là “dục lạc cực đoan.” Trước đó, người ta thường sẽ mất ham muốn đi câu cá, ngược đãi động vật, v.v., và mất khoái cảm từ việc nói dối, nói lời đâm thọc, vu khống, trộm cắp, tà hạnh trong dục, v.v. Tôi khá chắc rằng X vốn dĩ cũng không hề có những khuynh hướng ấy.

  • I also do not want people to think that one needs to lose sensory pleasures such as reading books or listening to music to become a Sotāpanna or to experience nirāmisa sukha. That is not the case. One could even be a Sotāpanna and still have those two tendencies. I have mentioned a person in the time of the Buddha who became a Sotāpanna but could not get rid of the urge to have a drink (however, he did not live that long after attaining the Sotāpanna stage). No one can say whether another person has attained the Sotāpanna

Tôi cũng không muốn mọi người nghĩ rằng phải đánh mất những dục lạc giác quan như đọc sách hay nghe nhạc thì mới có thể trở thành Sotāpanna hoặc mới trải nghiệm được nirāmisa sukha. Không phải vậy. Một người vẫn có thể là Sotāpanna mà vẫn còn hai khuynh hướng ấy. Tôi từng nhắc đến một người thời Đức Phật đã trở thành Sotāpanna nhưng không thể bỏ được thói quen uống rượu (tuy nhiên, ông ấy không sống lâu sau khi đạt Sotāpanna). Không ai có thể khẳng định chắc chắn người khác đã đạt Sotāpanna hay chưa.

  • A Sotāpanna would not do only those deeds that could make him/her suitable for rebirth in the apāyā. That means he/she has removed high levels of greed, hate, and ignorance to the levels of kāma rāga, paṭigha, and avijjā; see, “Lobha, Dosa, Moha versus Raga, Paṭigha, Avijjā.”

Một Sotāpanna sẽ không làm những hành vi khiến mình có khả năng tái sinh vào apāyā. Điều đó có nghĩa là người ấy đã loại bỏ những mức độ thô nặng của tham, sân, si, chỉ còn lại các dạng tinh tế hơn là kāma rāga, paṭigha và avijjā; xem Lobha, Dosa, Moha versus Raga, Paṭigha, Avijjā

  • I believe X had cultivated anāriya jhānā in previous but recent rebirths and is carrying that “gati” to this life. X has described some bodily sensations that are associated with jhānā. This is why it is easy for X to at least temporarily lose attachment to even fairly harmless things like reading books or listening to music.

Tôi tin rằng X đã tu tập anāriya jhāna trong những kiếp trước gần đây và mang theo “gati” ấy sang đời này. X đã mô tả một số cảm giác thân liên hệ đến jhāna. Vì vậy, với X, việc tạm thời buông bỏ ngay cả những điều khá vô hại như đọc sách hay nghe nhạc trở nên dễ dàng.

  1. Each person loses a set of characteristics (gati) upon attaining the Sotāpanna One should be able to look back and see what those are, just like X did. And, of course, whether those changes are permanent.

Mỗi người sẽ đánh mất một tập hợp các đặc tính (gati) khi đạt đến bậc Sotāpanna. Người đó nên có khả năng nhìn lại và thấy được những thay đổi ấy, giống như X đã làm, và tất nhiên là xem chúng có mang tính lâu dài hay không.

  • As I mentioned, I have lost the urge to have a drink at the end of the day, which I had been doing for over 30 years. I did not force that, even though I contemplated the possible bad consequences of keeping that habit.

Như tôi đã nói, tôi đã mất đi thôi thúc uống rượu vào cuối ngày, một thói quen tôi đã duy trì hơn 30 năm. Tôi không ép buộc mình bỏ, dù tôi có quán xét về những hậu quả xấu có thể xảy ra nếu tiếp tục thói quen ấy.

  • When one follows the Path, one does not forcefully give up sensory pleasures, only immoral actions that can hurt other living beings; even X did not forcefully give up books or music, it just happened. Losing the desire for sense pleasures happens gradually, starting with extremes.

Khi đi theo Con đường Tu tập, người ta không cưỡng ép từ bỏ các dục lạc giác quan, mà chỉ từ bỏ các hành vi bất thiện có thể gây hại cho sinh linh khác; ngay cả X cũng không ép mình bỏ sách hay nhạc, nó tự xảy ra. Việc mất dần ham muốn đối với dục lạc diễn ra từ từ, bắt đầu với những điều cực đoan.

  • I have only lost interest in reading fiction books. I used to read all types of books, but now I am not interested in reading fiction because it is a waste of time, just like watching TV. On the other hand, I am now reading more non-fiction books.

Tôi chỉ mất hứng thú với việc đọc tiểu thuyết hư cấu. Trước đây tôi đọc đủ loại sách, nhưng giờ tôi không còn hứng thú với sách hư cấu vì thấy đó là lãng phí thời gian, giống như xem TV. Ngược lại, tôi lại đọc nhiều sách phi hư cấu hơn.

  • Over the past two years, I have also been more productive in my science interests. I have learned the subtleties of quantum mechanics that were not apparent to me even two years ago. The mind becomes much clear as one gets rid of kilesa.

Trong hai năm qua, tôi cũng trở nên năng suất hơn trong các mối quan tâm khoa học của mình. Tôi đã học được những tinh tế của cơ học lượng tử mà thậm chí hai năm trước tôi còn không nhận ra. Khi kilesa được loại bỏ, tâm trở nên sáng suốt hơn rất nhiều.

  • So, it is important to realize that one is not supposed to lose all interests. One loses interest in only those activities related to greed, hate, and ignorance. That is a must and should be fairly obvious when one looks back. One loses interest in all worldly affairs only upon attaining the Arahanthood.

Vì vậy, điều quan trọng là phải hiểu rằng người ta không cần đánh mất mọi mối quan tâm. Người ta chỉ mất hứng thú đối với những hoạt động liên quan đến tham, sân, si. Điều này là tất yếu và sẽ khá rõ ràng khi nhìn lại. Chỉ khi đạt đến bậc Arahant thì người ta mới mất hứng thú với toàn bộ các việc thế gian.

  1. My point is that it is desirable to first get into this stage of X, where X can see the difference between sensual pleasures (āmisa sukha) and the nirāmisa sukha that arise by at least temporarily suppressing the desire for sensual pleasures via a meditation program.

Ý của tôi là, điều đáng mong muốn là trước hết đạt đến giai đoạn như X, nơi X có thể thấy được sự khác biệt giữa dục lạc giác quan (āmisa sukha) và nirāmisa sukha phát sinh khi ít nhất là tạm thời đè nén ham muốn dục lạc thông qua một chương trình thiền tập.

  • Even more critical than a meditation program is living a moral life, staying away from dasa akusala as much as possible.

Điều còn quan trọng hơn cả một chương trình thiền là sống đời sống đạo đức, tránh xa dasa akusala nhiều nhất có thể.

  1. Many people try to attain “Nibbānic pleasure” just because they think sensual pleasures, i.e., that Nibbānic pleasure is like the pleasure of music, good food, etc. This is why the account of X is so good an example in pointing out the difference between the two.

Nhiều người cố gắng đạt đến “lạc Nibbāna” chỉ vì họ nghĩ rằng nó giống như các dục lạc giác quan, như khoái cảm của âm nhạc hay thức ăn ngon, v.v. Đó là lý do vì sao câu chuyện của X là một ví dụ rất hay để chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại này.

  • Actually, this is a good place to discuss the differences among āmisa, nirāmisa, and jhāna sukha and the Nibbānic sukha.

Thật ra, đây là thời điểm thích hợp để bàn về sự khác nhau giữa āmisa sukha, nirāmisa sukha, jhāna sukha và lạc Nibbāna.

  • I reserved the name “sukha” for Nibbāna because it differs from the nirāmisa sukha. It is an overall state of “well-being.” I have no idea what that is like at higher stages, but it is now an ever-present calming effect on the body and mind.

Tôi dành riêng chữ “sukha” cho Nibbāna, vì nó khác với nirāmisa sukha. Đó là một trạng thái “an lạc toàn diện.” Tôi không biết nó ra sao ở những tầng bậc cao hơn, nhưng hiện nay nó là một hiệu ứng làm lắng dịu thường trực đối với thân và tâm.

  • Sense pleasures lead to āmisa (or sāmisa) sukha. So, we are all familiar with āmisa sukha.

Các dục lạc giác quan dẫn đến āmisa (hay sāmisa) sukha. Vì vậy, tất cả chúng ta đều quen thuộc với āmisa sukha.

  1. Nirāmisa sukha can arise due to a few different causes. They are all beneficial for the Path and to comprehend the anicca

Nirāmisa sukha có thể sinh khởi do một vài nguyên nhân khác nhau. Tất cả đều có lợi cho Con đường Tu tập và cho việc hiểu được bản chất anicca.

  • Those cittā that bring us āmisa sukha are burdened with kilesa or akusala cetasika (which we will discuss in the next post). These give rise to an agitated mind that is under incessant distress; see,Anicca – The Incessant Distress (“Pīḷana”).” This is what X described in the previous post, “.. I stopped my formal meditation for a few weeks, and I found that I began to get agitated and anxious as before.” When one gets rid of this incessant distress, one feels the nirāmisa sukha.

Những cittā đem lại āmisa sukha bị chất chứa kilesa hay các akusala cetasika (sẽ bàn ở bài sau). Những yếu tố ấy tạo ra một tâm bị khuấy động, luôn ở trong trạng thái bức bách liên miên; xemAnicca – The Incessant Distress (“Pīḷana”).” Đây chính là điều X mô tả ở bài trước: “.. tôi ngưng thiền hình thức vài tuần và thấy mình lại trở nên bồn chồn, lo lắng như trước.” Khi sự bức bách liên miên này được loại bỏ, người ta cảm nhận được nirāmisa sukha.

  • One can also feel the nirāmisa sukha for short times when engaged in moral activities, for example, helping others or giving food to hungry people or animals. Again, this feeling comes because those kilesa are not present in citta that arise during such activities.

Người ta cũng có thể cảm nhận nirāmisa sukha trong thời gian ngắn khi làm các việc thiện, như giúp đỡ người khác hay cho người, cho thú đang đói ăn. Cảm giác này xuất hiện vì những citta khởi lên trong lúc ấy không có kilesa.

  • Another is engaging in Ariya or anāriya Here also, one’s mind is mostly devoid of kilesa (depending on the strength of the samādhi).

Một nguyên nhân khác là hành trì các loại thiền Ariya hay anāriya. Trong trường hợp này, tâm phần lớn cũng không bị kilesa chi phối (tùy theo mức độ samādhi).

  1. There is also a higher nirāmisa sukha that the Buddha recommended. That is the sukha arising due to jhānā. When in a jhāna, one has citta running through one’s mind that belongs to rūpa or arūpa loka.

Còn có một loại nirāmisa sukha cao hơn mà Đức Phật khuyến khích, đó là sukha sinh khởi do jhāna. Khi ở trong jhāna, các citta vận hành thuộc về rūpa loka hay arūpa loka.

  • By definition, those cittā are also devoid of kilesa or mental impurities.

Theo định nghĩa, những citta ấy cũng không có kilesa hay cấu uế tâm.

  • Jhānā arise when samādhi is intensified (cultivated) to a certain level.

Jhāna sinh khởi khi samādhi được tăng trưởng đến một mức độ nhất định.

  1. Nivan sukha” or “Nibbānic sukha” or “Nibbānic bliss” is due to cittā that are even purer. There is no trace of incessant agitation or stress left in those cittā.

“Nivan sukha” hay “Nibbānic sukha” hay “lạc Nibbāna” sinh khởi từ những citta còn thanh tịnh hơn nữa. Trong những citta ấy không còn chút dấu vết nào của sự khuấy động hay căng thẳng liên miên.

  • These cittā are also called pabhassara (bright) citta; see “Nibbāna – Is it Difficult to Understand?” and “Pabhassara Citta, Radiant Mind, and Bhavaṅga.”

Những citta này còn được gọi là pabhassara (sáng chói) citta; xem “Nibbāna – Is it Difficult to Understand?” và “Pabhassara Citta, Radiant Mind, and Bhavaṅga.”

  • Also, Sotāpanna will not be able to experience the Nibbāna sukha for that stage unless he/she can get into Sotāpanna phala samāpatti via cultivating jhānā. Still, he/she will not have the nirāmisa sukha going away. Whatever relief gained from the “incessant distress” is permanent.

Ngoài ra, một Sotāpanna sẽ không thể kinh nghiệm lạc Nibbāna của tầng bậc ấy nếu không thể nhập vào Sotāpanna-phala-samāpatti thông qua tu tập jhāna. Tuy vậy, nirāmisa sukha của họ sẽ không biến mất. Bất cứ sự nhẹ nhõm nào đạt được từ việc thoát khỏi “sự bức bách liên miên” đều là vĩnh viễn.

  1. We will discuss the kilesa (akusala cetasika) that give rise not only to incessant agitation and stress — but eventually to all sansāric suffering — soon in this series.

Chúng ta sẽ sớm bàn về các kilesa (akusala cetasika) không chỉ tạo ra sự khuấy động và căng thẳng liên miên, mà cuối cùng còn dẫn đến toàn bộ khổ đau luân hồi.

  • The incessant distress can be considered “immediate kamma vipāka” due to cittā burdened with kilesa or akusala cetasika. The “delayed effects” of such citta will bring more kamma vipāka at later times, and the more potent ones can bring rebirth in the apāyā.

Sự bức bách liên miên có thể được xem là “kamma vipāka tức thời” do các citta bị kilesa hay akusala cetasika chi phối. Những “tác dụng trễ” của các citta ấy sẽ đem lại thêm kamma vipāka về sau, và những loại mạnh hơn có thể đưa đến tái sinh vào apāyā.

  • Thus the key step to the Sotāpanna stage is to experience nirāmisa sukha by cleansing the mind via moral behavior (sīla) and a good meditation program. Then the mind is open to grasping the anicca nature, i.e., pañcanīvaraṇa could be suppressed for days.

Vì vậy, bước then chốt để đạt đến Sotāpanna là kinh nghiệm nirāmisa sukha bằng cách làm sạch tâm qua đời sống đạo đức (sīla) và một chương trình thiền tập đúng đắn. Khi ấy, tâm sẵn sàng nắm bắt bản chất anicca, tức là pañcanīvaraṇa có thể được chế ngự trong nhiều ngày.

  • However, that transition may happen quickly when one is living a moral life and contemplating pure Dhamma, followed by the Sotāpanna phala moment without one noticing it then. Different people get there in different ways.

Tuy nhiên, sự chuyển đổi này có thể xảy ra rất nhanh khi một người sống đời đạo đức và quán chiếu Dhamma trong sáng, rồi khoảnh khắc Sotāpanna phala xuất hiện mà lúc đó người ấy có thể không nhận ra. Mỗi người đến đó theo những cách khác nhau.

  • But there is much to discuss before discussing the Sotāpanna

Nhưng vẫn còn rất nhiều điều cần bàn trước khi nói đến bậc Sotāpanna.

Next in the series, “Starting on the Path Even without Belief in Rebirth”, …..

Tiếp theo trong loạt bài: “Starting on the Path Even without Belief in Rebirth”,….

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *