Paññāvimutti – Arahanthood without Jhāna / Paññāvimutti – Quả vị Arahant không cần Jhāna

September 12, 2018; revised February 24, 2019; January 30, 2024

Ngày 12/09/2018; chỉnh sửa ngày 24/02/2019; ngày 30/01/2024

[paññāvimutti : [f.] emancipation through insight.][WebLink: suttacentral: Paññāvimutti Sutta (AN 9:44)] [paññāvimutti: sự giải thoát nhờ tuệ giác.][WebLink: suttacentral: Paññāvimutti Sutta (AN 9:44)]

  1. One could get to magga phala without ever going through jhāna. The Noble Eightfold Path, at its completion, takes one to Sammā Samādhi. Then one becomes an Arahant by completing the following two steps — Sammā Ñāṇa and Sammā Vimutti — to become an Arahant.

Một người có thể chứng đắc magga phala mà không hề trải qua jhāna. Bát Chánh Đạo, khi được hoàn tất, sẽ đưa hành giả đến Sammā Samādhi. Sau đó, người ấy trở thành Arahant bằng cách hoàn thành hai bước kế tiếp — Sammā Ñāṇa và Sammā Vimutti — để thành tựu quả vị Arahant.

This is stated clearly in the WebLink: suttacentral: Mahā Cattārīsika Sutta (Majjhima Nikāya 117):

Điều này được nêu rõ trong WebLink: suttacentral: Mahā Cattārīsika Sutta (Majjhima Nikāya 117):

“..Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Sammādiṭṭhissa, bhikkhave, sammāsaṅkappo pahoti, sammāsaṅkappassa sammāvācā pahoti, sammāvācassa sammākammanto pahoti, sammākammantassa sammāājīvo pahoti, sammāājīvassa sammāvāyāmo pahoti, sammāvāyāmassa sammāsati pahoti, sammāsatissa sammāsamādhi pahoti, sammāsamādhissa sammāñāṇaṁ pahoti, sammāñāṇassa sammāvimutti pahoti. Iti kho, bhikkhave, aṭṭhaṅgasamannāgato sekkho, dasaṅgasamannāgato Arahā hoti. Tatrapi sammāñāṇena aneke pāpakā akusalā dhammā vigatā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti..”

  • Thus the Noble Path starts with Sammā Diṭṭhi and gets to Sammā Samādhi, at which point one is said to have completed eight steps and is still a sekkha (in training): aṭṭhaṅgasamannāgato sekkho.

Như vậy, Thánh Đạo bắt đầu bằng Sammā Diṭṭhi và tiến đến Sammā Samādhi; tại thời điểm này, người ấy được xem là đã hoàn thành tám chi phần và vẫn còn là sekkha (người đang tu học): aṭṭhaṅgasamannāgato sekkho.

  • Then one fully comprehends the real nature with Sammā Ñāna and attains full release or Sammā Vimutti (Arahantship). Now, one has completed all ten steps and is no longer in training (dasaṅgasamannāgato Arahā hoti).

Sau đó, nhờ Sammā Ñāṇa, người ấy thấu triệt trọn vẹn thực tánh và chứng đạt sự giải thoát hoàn toàn hay Sammā Vimutti (quả vị Arahant). Lúc này, người ấy đã hoàn thành đủ mười chi phần và không còn là người đang tu học nữa (dasaṅgasamannāgato Arahā hoti).

  1. Every one of us has attained anāriya jhāna in many births during our deep past. Thus attaining a jhāna is insignificant compared to attaining a magga phala.

Mỗi chúng ta đều đã từng đạt anāriya jhāna trong rất nhiều đời sống ở quá khứ xa xưa. Do đó, việc đạt jhāna là không đáng kể khi so với việc chứng đắc magga phala.

  • It is also clear that even a Sotāpanna Anugāmi is a million-fold better than one with the ability to get into jhāna, or even abhiññā powers, including the ability to travel through the air, create things by mind power, etc.

Cũng rõ ràng rằng ngay cả một Sotāpanna Anugāmi cũng cao quý hơn gấp triệu lần so với người chỉ có khả năng nhập jhāna, hay thậm chí có các năng lực abhiññā như bay trên không, tạo ra sự vật bằng tâm lực, v.v.

  • Attaining jhānā can sometimes become a hindrance since many people get attached to jhāna and stop making an effort towards magga phala, which is sad.

Việc đạt jhāna đôi khi lại trở thành chướng ngại, vì nhiều người bị dính mắc vào jhāna và ngừng nỗ lực hướng đến magga phala, điều này thật đáng tiếc.

  1. It takes time to cultivate jhāna, especially for those who have not cultivated them in recent past lives. People who have high wisdom (paññā) may attain magga phala (even Arahanthood) within a very short time, and they are called paññāvimutti Arahants or “wisdom-liberated.” Bahiya Daruchiriya, who attained Arahantship upon listening to a single verse by the Buddha is a good example; see, “WebLink: suttacentral: Bahiya Sutta (Udāna 1.10).”

Việc tu tập jhāna cần thời gian, đặc biệt đối với những ai chưa từng tu tập chúng trong các đời gần đây. Những người có trí tuệ (paññā) cao có thể chứng đắc magga phala (thậm chí quả vị Arahant) trong thời gian rất ngắn; họ được gọi là các bậc Arahant paññāvimutti hay “giải thoát bằng trí tuệ”. Bahiya Daruchiriya, người chứng quả vị Arahant chỉ sau khi nghe một bài kệ duy nhất từ Đức Phật, là một ví dụ điển hình; xem “WebLink: suttacentral: Bahiya Sutta (Udāna 1.10)”.

Kinh Susima, còn được gọi là “WebLink: suttacentral: Susimaparibbājaka Sutta (Saṁyutta Nikāya 12.70)”, đề cập đến một nhóm các vị Arahant thuộc loại paññāvimutti.

  • In that sutta, the Buddha explained to Susima that there are Arahants without any supernormal (iddhi) powers, because they were paññāvimutti Arahants. Once attaining Arahanthood, they have no desire to cultivate iddhi (abhiññā) powers since they have seen the anicca nature of those powers.

Trong sutta ấy, Đức Phật giải thích với Susima rằng có những vị Arahant không có bất kỳ năng lực siêu thường (iddhi) nào, vì họ là các bậc Arahant paññāvimutti. Một khi đã chứng quả vị Arahant, họ không còn mong muốn tu tập các năng lực iddhi (abhiññā), vì đã thấy rõ bản chất anicca của những năng lực đó.

  1. In some exceptional cases, one may simultaneously gain abhiñña powers together with the Arahanthood, within a very short time.

Trong một số trường hợp đặc biệt, một người có thể đồng thời đạt được các năng lực abhiññā cùng với quả vị Arahant trong một thời gian rất ngắn.

  • Many got to magga phala without ever getting to a jhāna. Alavaka Yaksa, Upatissa, Kolita, Aṅgulimāla, minister Santati, and many others attained various stages of Nibbāna by just listening to a single desanā. The account of Santati can be found at: “WebLink: tipitaka.net: Dhammapada Verse 142.”

Nhiều người đã chứng đắc magga phala mà chưa từng đạt jhāna. Alavaka Yaksa, Upatissa, Kolita, Aṅgulimāla, đại thần Santati và nhiều vị khác đã chứng các tầng bậc khác nhau của Nibbāna chỉ bằng cách lắng nghe một bài desanā duy nhất. Câu chuyện về Santati có thể tìm thấy tại: “WebLink: tipitaka.net: Dhammapada Verse 142.”

  • Another prominent example in the Tipiṭaka is the story about the Cūḷapanthaka Thero. After trying hard for months, he almost disrobed because he could not even memorize a single verse. But with Buddha’s help, he was able to attain Arahanthood in a day and simultaneously achieved abhiññā powers as well: “WebLink: suttacentral.net: Cūḷapanthaka.”

Một ví dụ nổi bật khác trong Tipiṭaka là câu chuyện về Trưởng lão Cūḷapanthaka. Sau nhiều tháng nỗ lực, ngài gần như đã hoàn tục vì không thể ghi nhớ nổi dù chỉ một bài kệ. Tuy nhiên, với sự trợ giúp của Đức Phật, ngài đã chứng đắc quả vị Arahant chỉ trong một ngày và đồng thời đạt được các năng lực abhiññā: “WebLink: suttacentral.net: Cūḷapanthaka.”

  1. Some argue that WebLink: suttacentral: Sacca Vibhaṅga Sutta (MN 141) states that Sammā Samādhi is attained ONLY WHEN one attains the first four jhānā. This is not correct. All one needs to do is get to the vicinity of ANY of those four jhānā (thus one could get to the upacāra samādhi for the first jhāna, for example), and attain magga phala from there.

Một số người cho rằng WebLink: suttacentral: Sacca Vibhaṅga Sutta (MN 141) dạy rằng Sammā Samādhi CHỈ đạt được KHI một người chứng đắc bốn jhāna đầu tiên. Điều này không đúng. Điều cần thiết chỉ là đạt đến vùng cận kề của BẤT KỲ jhāna nào trong bốn jhāna đó (ví dụ, có thể đạt upacāra samādhi của jhāna thứ nhất), rồi từ đó chứng đắc magga phala.

  • Here is the relevant verse from the above sutta: “..Katamo cāvuso, sammāsamādhi? Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati … pe … tatiyaṁ jhānaṁ … pe … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāsamādhi’…”

Dưới đây là đoạn kinh liên quan trong bài kinh trên: “..Katamo cāvuso, sammāsamādhi? Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati … pe … tatiyaṁ jhānaṁ … pe … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāsamādhi’

  • The key is “upasampajja viharati,” which means one stays close to any one of jhāna (“upa” means close or in the vicinity), which means one can either get to that jhāna or can get to upacāra samādhi for that jhāna. This is why it is not labelled as “Sammā Jhāna” but “Sammā Samādhi.”

Điểm then chốt là cụm từ “upasampajja viharati”, có nghĩa là an trú ở gần một jhāna nào đó (“upa” nghĩa là gần hay cận kề). Điều này có nghĩa là hành giả hoặc có thể chứng jhāna ấy, hoặc có thể đạt upacāra samādhi của jhāna đó. Vì vậy, thuật ngữ được dùng không phải là “Sammā Jhāna” mà là “Sammā Samādhi”.

  • The fact that it is unnecessary to cultivate jhāna to attain Arahanthood becomes apparent when you analyze how 89 types of citta become 121 citta, as explained below.

Thực tế rằng không cần phải tu tập jhāna để chứng quả vị Arahant sẽ trở nên rõ ràng khi phân tích cách 89 loại citta trở thành 121 citta, như được giải thích dưới đây.

  1. The 89 (or 121) citta existing in the 31 realms are discussed in “The 89 (121) Types of Citta.”

Tám mươi chín (hoặc 121) citta tồn tại trong 31 cõi được trình bày trong “The 89 (121) Types of Citta.”

  • There are 54 citta that could arise mainly in the kāmāvacara realms; 15 and 12 cittās respectively mainly arise in the rūpāvacara and arūpāvacara The total so far is 81 citta.

Có 54 citta chủ yếu sinh khởi trong các cõi kāmāvacara; lần lượt có 15 và 12 citta chủ yếu sinh khởi trong các cõi rūpāvacara và arūpāvacara. Tổng cộng đến đây là 81 citta.

  • Without going through any jhāna at all, there are 8 cittās associated with attaining the four stages of Nibbāna (4 magga citta and 4 phala citta). Then the total number of citta is 81 + 8 = 89.

Không cần trải qua bất kỳ jhāna nào, có 8 citta liên quan đến việc chứng đắc bốn tầng của Nibbāna (4 magga citta và 4 phala citta). Khi đó, tổng số citta là 81 + 8 = 89.

  • Now, one can attain each magga phala from the five rūpāvacara jhāna (these can be Ariya or anāriya jhāna.) For example, the Arahanthood can be reached from the vicinity of each of those five jhāna. Thus in this case, the total number of citta becomes 81 + 40 = 121.

Giờ đây, mỗi magga phala đều có thể được chứng đắc từ năm rūpāvacara jhāna (có thể là Ariya hoặc anāriya jhāna). Ví dụ, quả vị Arahant có thể đạt được từ vùng cận kề của từng jhāna trong năm jhāna đó. Do vậy, trong trường hợp này, tổng số citta trở thành 81 + 40 = 121.

  • It is to be noted that the five jhāna in the terminology of Abhidhamma are the same as the four jhāna in the terminology of the suttā; the first jhāna [vitakka and vicāra] in sutta terminology is split into two in Abhidhamma.

Cần lưu ý rằng năm jhāna theo thuật ngữ Abhidhamma tương đương với bốn jhāna theo thuật ngữ của các sutta; tầng jhāna thứ nhất [có vitakka và vicāra] trong thuật ngữ sutta được chia thành hai trong Abhidhamma.

  1. In Abhidhamma, the above explanation becomes even more clear when one looks at the citta vīthi to attain a magga phala):

Trong Abhidhamma, sự giải thích trên trở nên rõ ràng hơn nữa khi xét đến lộ trình tâm (citta vīthi) để chứng đắc một magga phala):

B B B B B “BC BU MD P U A G M P P” B B B B B…..

where, B = bhavaṅga, BC (bhavaṅga calana), BU (bhavaṅga upaccheda), MD = mind door, P = parikamma, U = upacāra, A = anuloma, G = gotrabhu (change of lineage), M = magga citta, P = phala citta. [Here, “anu” means “through the understanding of Tilakkhaṇa,” “lo” means “craving for worldly things,” and “ma” means “removal,” and thus anuloma” means “removal of craving for worldly things to some extent via the comprehension of Tilakkhaṇa.”]

Trong đó: B = bhavaṅga; BC (bhavaṅga calana); BU (bhavaṅga upaccheda); MD = cửa tâm; P = parikamma; U = upacāra; A = anuloma; G = gotrabhu (chuyển tánh); M = magga citta; P = phala citta. [Ở đây, “anu” nghĩa là “thông qua sự hiểu biết về Tilakkhaṇa”, “lo” nghĩa là “tham ái đối với các pháp thế gian”, “ma” nghĩa là “loại bỏ”; do đó anuloma” có nghĩa là “loại bỏ ở một mức độ nào đó sự tham ái đối với các pháp thế gian thông qua sự thấu hiểu Tilakkhaṇa”.]

  • So, there is no jhāna citta preceding the magga or phala citta in the citta vīthi for a magga phala. Once one gets to the upacāra samādhi, it goes through anuloma and gotrabhu (change of lineage) to the magga and phala citta. This is why upacāra samādhi (which is Sammā Samādhi) is enough to attain even the Arahanthood.

Do đó, trong lộ trình tâm để chứng magga phala, không hề có jhāna citta nào đứng trước magga hay phala citta. Khi đạt đến upacāra samādhi, lộ trình tâm sẽ đi qua anuloma và gotrabhu (chuyển tánh) để đến magga và phala citta. Đây là lý do vì sao upacāra samādhi (chính là Sammā Samādhi) là đủ để chứng đắc ngay cả Arahanthood.

  1. On the other hand, a citta vīthi to attain a jhāna:

Ngược lại, lộ trình tâm để chứng đắc một jhāna là:

B B B B B “BC BU MD P U A G J” B B B B B…..

where, J = jhāna citta.

trong đó, J = jhāna citta.

  • Note that upacāra citta for jhāna differs from upacāra citta for magga phala, even though the same symbol represents them. Here, upacāra means “close,” either to the jhāna or to magga phala, which are two different attainments. As we discussed earlier, jhāna are associated with “this world” and magga phala are associated with Nibbāna.

Lưu ý rằng upacāra citta đối với jhāna khác với upacāra citta đối với magga phala, mặc dù cùng được ký hiệu bằng một biểu tượng. Ở đây, upacāra có nghĩa là “cận kề”, hoặc là cận kề jhāna, hoặc là cận kề magga phala — hai sự chứng đắc hoàn toàn khác nhau. Như đã bàn trước đó, jhāna gắn liền với “thế gian này”, còn magga phala gắn liền với Nibbāna.

  • Gotrabhu (change of lineage) citta induces either a magga phala or a jhāna, which are two very different changes: jhāna is just a change of lineage to one of the 31 realms, whereas magga phala is to be dissociated from the 31 realms.

Citta gotrabhu (chuyển tánh) có thể dẫn đến magga phala hoặc jhāna, là hai sự chuyển đổi hoàn toàn khác nhau: jhāna chỉ là sự chuyển tánh sang một trong 31 cõi, trong khi magga phala là sự thoát ly khỏi 31 cõi ấy.

  • For a discussion on citta vīthi, see “Citta Vīthi – Processing of Sense Inputs.”

Để tìm hiểu thêm về citta vīthi, xem “Citta Vīthi – Processing of Sense Inputs”.

  1. There is another piece of strong evidence from the Tipiṭaka that one does not need to attain even the first Ariya jhāna to attain the Sotāpanna We all know that Ven. Moggallāna (who was Kolita before becoming a bhikkhu), attained the Sotāpanna stage upon hearing a single verse uttered by Ven. Assaji.

Có thêm một bằng chứng mạnh mẽ khác từ Tipiṭaka cho thấy rằng người ta không cần phải chứng đắc dù chỉ tầng Ariya jhāna thứ nhất để đạt đến tầng Sotāpanna. Chúng ta đều biết rằng Trưởng lão Moggallāna (trước khi xuất gia tên là Kolita) đã chứng đắc Sotāpanna chỉ sau khi nghe một bài kệ do Trưởng lão Assaji thuyết giảng.

  • Then Kolita (and Upatissa) went to see the Buddha and were ordained. It took them a week to two weeks to attain Arahanthood. The WebLink: suttacentral: Moggallāna Saṁyutta in the Saṁyutta Nikāya has nine suttā that describe step-by-step how Ven. Moggallāna attained Ariya jhānā in sequence, starting with the first Ariya jhāna. They both had attained the Sotāpanna stage the day they met Ven. Assaji. This is conclusive evidence that one does not need to attain any Ariya jhāna before the Sotāpanna stage.

Sau đó Kolita (và Upatissa) đến yết kiến Đức Phật và được xuất gia. Chỉ mất khoảng từ một đến hai tuần, các ngài đã chứng đắc quả vị Arahant. WebLink: suttacentral: Moggallāna Saṁyutta trong Saṁyutta Nikāya gồm chín suttā mô tả từng bước cách Trưởng lão Moggallāna chứng đắc các Ariya jhānā theo thứ tự, bắt đầu từ Ariya jhāna thứ nhất. Cả hai vị đều đã chứng Sotāpanna ngay trong ngày gặp Trưởng lão Assaji. Đây là bằng chứng xác quyết rằng không cần chứng đắc bất kỳ Ariya jhāna nào trước khi đạt đến tầng Sotāpanna.

  • In particular, the very first sutta there describes how the Buddha came to him by iddhi bala and encouraged him to cultivate the first Ariya jhāna (WebLink: suttacentral: Paṭhamajhāna Pañhā Sutta; SN 40.1): “..Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iddhiyā upasaṅkamitvā etadavoca: ‘moggallāna, moggallāna. Mā, brāhmaṇa, paṭhamaṁ jhānaṁ pamādo, paṭhame jhāne cittaṁ saṇṭhapehi, paṭhame jhāne cittaṁ ekodiṁ karohi, paṭhame jhāne cittaṁ samādahā’ti..” OR “..the Buddha came to me by iddhi bala and told me: Moggallāna, Moggallāna, Brahmana, do not become delayed, cultivate the first jhāna…”

Đặc biệt, sutta đầu tiên mô tả việc Đức Phật đã đến với ngài bằng iddhi bala và khuyến khích ngài tu tập Ariya jhāna thứ nhất (WebLink: suttacentral: Paṭhamajhāna Pañhā Sutta; SN 40.1): “..Rồi này hiền giả, Thế Tôn dùng iddhi đến với tôi và nói rằng: ‘Moggallāna, Moggallāna. Này Bà-la-môn, chớ có giải đãi đối với tầng jhāna thứ nhất; hãy an trú tâm trong tầng jhāna thứ nhất, hãy làm cho tâm nhất hướng trong tầng jhāna thứ nhất, hãy nhiếp phục tâm trong tầng jhāna thứ nhất’..” TỨC LÀ: “..Đức Phật đã đến với tôi bằng iddhi bala và dạy rằng: Moggallāna, Moggallāna, này Brahma, đừng trì hoãn, hãy tu tập tầng jhāna thứ nhất…”

  • The subsequent suttā in the Moggallāna Saṁyutta describe how the Buddha instructed him through each successive rūpāvacara and arūpāvacara jhānā, where Ven. Moggallāna developed all iddhi bala and became second only to the Buddha in supernormal powers; see, “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna).”

Các suttā tiếp theo trong Moggallāna Saṁyutta mô tả cách Đức Phật hướng dẫn ngài tuần tự đi qua các rūpāvacara và arūpāvacara jhānā, tại đó Trưởng lão Moggallāna phát triển đầy đủ iddhi bala và trở thành vị chỉ đứng sau Đức Phật về các năng lực siêu thường; xem “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna)”.

  1. Therefore, one could get to the higher stages of Nibbāna via two paths.

Do đó, người ta có thể đạt đến các tầng cao hơn của Nibbāna thông qua hai con đường.

  • One could cultivate jhānā and attain successively higher jhānā by comprehending the anicca nature of those jhānā (as we mentioned above, they still belong to this world), and REMOVING successive jhāna

Một là tu tập jhānā và lần lượt đạt đến các jhāna cao hơn bằng cách thấu hiểu bản chất anicca của chính các jhāna ấy (như đã nói ở trên, chúng vẫn thuộc về thế gian này), và ĐOẠN TRỪ dần các yếu tố của jhāna.

  • I will write more about this in the future, but the point is that those jhānic states are still subject to both the saṅkhāra dukkha and the vipariṇāma dukkha, even though temporarily exempt from dukkha dukkha.

Tôi sẽ viết thêm về điều này trong tương lai, nhưng điểm cốt lõi là các trạng thái jhānic ấy vẫn chịu sự chi phối của saṅkhāra dukkha và vipariṇāma dukkha, dù tạm thời không chịu dukkha dukkha.

  • The second path does not require jhāna; Sammā Samādhi is enough. For those with higher levels of wisdom (paññā), higher stages of Nibbāna can be arrived at without going through jhāna.

Con đường thứ hai không đòi hỏi jhāna; Sammā Samādhi là đủ. Đối với những người có mức độ trí tuệ (paññā) cao, các tầng cao của Nibbāna có thể đạt được mà không cần trải qua jhāna.

  1. The second path is discussed in the WebLink: suttacentral: Kimatthiya Sutta (Aṅguttara Nikāya 11.1). Here one can start with comprehending dukkha, which leads to Nibbāna via the following steps: saddhā, pīti, passadhi, sukha, samādhi, yathābhūtananadassana, nibbida, virāga, and to vimutti; see, “WebLink: suttacentral: Upanisa Sutta (Saṁyutta Nikāya 12.23).”

Con đường thứ hai được trình bày trong WebLink: suttacentral: Kimatthiya Sutta (Aṅguttara Nikāya 11.1). Ở đây, hành giả có thể bắt đầu bằng việc thấu hiểu dukkha, từ đó dẫn đến Nibbāna qua các bước sau: saddhā, pīti, passadhi, sukha, samādhi, yathābhūtananadassana, nibbida, virāga, và cuối cùng là vimutti; xem “WebLink: suttacentral: Upanisa Sutta (Saṁyutta Nikāya 12.23)”.

  • When one starts with lokuttara Sammā Diṭṭhi and follows the ariyakānta sīla (Sammā Vācā, Sammā Kammanta, Sammā Ājīva), one will automatically get to Sammā Vāyāma, Sammā Sati and Sammā Samādhi (these three path factors constitute Samādhi). By the way, Sammā Diṭṭhi and Sammā Saṅkappa constitute paññā. So, the sequence is paññā, sīla, samādhi.

Khi một người khởi sự với lokuttara Sammā Diṭṭhi và thực hành ariyakānta sīla (Sammā Vācā, Sammā Kammanta, Sammā Ājīva), thì người ấy sẽ tự nhiên đạt đến Sammā Vāyāma, Sammā Sati và Sammā Samādhi (ba chi phần này hợp thành Samādhi). Nhân tiện, Sammā Diṭṭhi và Sammā Saṅkappa hợp thành paññā. Vì vậy, trình tự là paññā, sīla, samādhi.

  • That Sammā Samādhi is all one needs to get to Sammā Ñāṇa (ultimate wisdom) and Sammā Vimutti (ultimate release) and thus to attain the Arahanthood; fulfilling all ten factors lead to the Arahanthood (“dasahangehi samannagato”).

Chính Sammā Samādhi là điều duy nhất cần thiết để đạt đến Sammā Ñāṇa (trí tuệ tối hậu) và Sammā Vimutti (sự giải thoát tối hậu), và do đó chứng đắc quả vị Arahant; khi đầy đủ cả mười chi phần thì sẽ dẫn đến quả vị Arahant (“dasahangehi samannagato”).

  1. One time a bhikkhuni asked Ven. Ānanda: “..‘yāyaṁ, bhante ānanda, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato, vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati. Ayaṁ, bhante ānanda, samādhi kiṁphalo vutto bhagavatā’ti?,” OR

bhante ānanda, I have this samādhi which is stable, without defilements, contented, joyful, and without agitation. What did the Blessed One call this samādhi?”

Một lần nọ, một vị bhikkhunī hỏi Trưởng lão Ānanda: “..‘yāyaṁ, bhante ānanda, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato, vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati. Ayaṁ, bhante ānanda, samādhi kiṁphalo vutto bhagavatā’ti?’” TỨC LÀ:

“Bạch ngài Ānanda, con có một loại samādhi ổn định, không cấu nhiễm, mãn nguyện, hỷ lạc và không dao động. Đức Thế Tôn gọi samādhi này là gì?”

Ven. Ānanda replied: “..‘yāyaṁ, bhagini, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato, vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati. Ayaṁ, bhagini, samādhi aññāphalo vutto bhagavatā’ti. Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetī”ti,” OR,

“Yes, bhikkhnuni, there is such a samādhi. The Blessed One called it Arahant phala samādhi which is without any defilements.”

Trưởng lão Ānanda đáp: “..‘yāyaṁ, bhagini, samādhi na cābhinato na cāpanato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato, vimuttattā ṭhito, ṭhitattā santusito, santusitattā no paritassati. Ayaṁ, bhagini, samādhi aññāphalo vutto bhagavatā’ti. Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetī”ti,” TỨC LÀ

“Đúng vậy, này bhikkhunī, có một loại samādhi như thế. Đức Thế Tôn gọi đó là samādhi của quả vị Arahant, không còn bất kỳ cấu nhiễm nào.”

Điều này được ghi lại trong WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (Aṅguttara Nikāya 9.37). Vị bhikkvhunī ấy chính là một bậc Arahant mà bản thân còn không tự nhận ra!

  • That samādhi is tadāyatana or Nibbāna; see, “Nibbāna “Exists”, but Not in This World.” [tadāyatana: tadayatana (n) [ta+ayatana] That…the-foundation-about, (a) Nibbāna. (b) Arahantship. (c) First jhāna. (f) Fourth jhāna. (g) Space-perception jhāna. (h) Spiritual-perception jhāna. (i) Akiññā. See “WebLink: suttacentral: Paṭhamanibbānapaṭisaṁyuttasutta (KN Ud 8.1)”; “Atthi, bhikkhave, tadāyatanaṁ, yattha neva pathavī, na āpo, na tejo, na vāyo, na ākāsānañcāyatanaṁ, na viññāṇañcāyatanaṁ, na ākiñcaññāyatanaṁ, na nevasaññānāsaññāyatanaṁ, nāyaṁ loko, na paraloko, na ubho candimasūriyā.” OR “There is, bhikkhū, nibbāna where there is no earth, no water, no fire, no wind; no dimension of infinite space, no dimension of infinite consciousness, no dimension of nothingness, no dimension of neither perception nor non-perception; no this world, no other world, no moon or sun.” and “Ānandasutta (AN 9.37)”; “Evaṁsaññīpi kho, āvuso, tadāyatanaṁ no paṭisaṁvedetīti.” OR “One who doesn’t experience nibbāna perceives in this way.”]

Samādhi ấy chính là tadāyatana hay Nibbāna; xem “Nibbāna “Exists”, but Not in This World.” Tadāyatana (danh từ) [ta+ayatana] được giải thích là: (a) Nibbāna, (b) quả vị Arahant, (c) tầng jhāna thứ nhất, (f) tầng jhāna thứ tư, (g) không vô biên xứ, (h) thức vô biên xứ, (i) vô sở hữu xứ. Xem “WebLink: suttacentral: Paṭhamanibbānapaṭisaṁyuttasutta (KN Ud 8.1)”: ““Atthi, bhikkhave, tadāyatanaṁ, yattha neva pathavī, na āpo, na tejo, na vāyo, na ākāsānañcāyatanaṁ, na viññāṇañcāyatanaṁ, na ākiñcaññāyatanaṁ, na nevasaññānāsaññāyatanaṁ, nāyaṁ loko, na paraloko, na ubho candimasūriyā.” TỨC LÀ “Có một cảnh giới, này các bhikkhū, nơi đó không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có không vô biên xứ, không có thức vô biên xứ, không có vô sở hữu xứ, không có phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có thế giới này, không có thế giới khác, không có mặt trăng hay mặt trời.”” Và “Ānandasutta (AN 9.37)”: “Người không trực chứng nibbāna thì nhận thức theo cách như vậy.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *