Revised July 18, 2021; July 21, 2021; January 1, 2025
Sửa ngày 18/07/2021; 21/07/2021; 01/01/2025
- These are included in the 37 Factors of Enlightenment; see, “37 Factors of Enlightenment”.
Những yếu tố này nằm trong 37 Yếu tố Giác ngộ; xem “37 Factors of Enlightenment”.
- “Indriya” means leader. When cultivated an indriya becomes more powerful or “Bala”.
“Indriya” nghĩa là “chủ đạo”. Khi được tu tập, một indriya trở nên mạnh mẽ hơn và trở thành “Bala”.
- The five mental faculties (Pañca Indriya) are saddhā (faith), viriya (effort), sati (mindfulness), samādhi (concentration), and paññā (wisdom), and there are five corresponding powers (Pañca Bala).
Năm căn tâm (Pañca Indriya) gồm saddhā (niềm tin), viriya (tinh tấn), sati (chánh niệm), samādhi (định), và paññā (tuệ), và có năm năng lực tương ứng gọi là Pañca Bala.
- Those two sets of five factors are critical in following the Noble Eightfold Path.
Hai nhóm năm yếu tố này giữ vai trò thiết yếu trong việc thực hành theo Bát Thánh Đạo.
- The Pañca Indriya are the “mental” leaders helping with comprehending Dhamma.
Pañca Indriya là những “chủ đạo” về mặt tâm giúp việc hiểu thấu Dhamma.
- On the other hand, eyes, ears, nose, tongue, body, and mind are the six sensory faculties (indriya). They are a different type of “indriya.” They are leaders in providing access to seeing, hearing, smelling, tasting, and touching. See “How Do Sense Faculties Become Internal Āyatana?”
Mặt khác, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là sáu căn cảm giác (indriya). Đây là một loại “indriya” khác. Chúng đóng vai trò chủ đạo trong việc giúp ta thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm. Xem bài “How Do Sense Faculties Become Internal Āyatana?”.
- Let us first discuss the five faculties.
Trước hết, hãy cùng bàn về năm căn này.
- Saddhā is foremost; without faith (saddhā), one does not have the conviction to follow the Path. However, faith has to be based on wisdom (paññā), i.e., one’s faith is built upon seeing the truth of Buddha Dhamma, at least partially.
Saddhā là quan trọng nhất; không có saddhā (niềm tin), một người sẽ không có sự xác tín để đi theo Đạo lộ. Tuy nhiên, niềm tin phải dựa trên paññā (trí tuệ), tức là niềm tin được xây dựng dựa trên việc thấy được chân lý của Dhamma của Đức Phật, ít nhất ở một mức độ nào đó.
- Saddhā comes from “sath” or truth and “dhā” meaning “dhāranaya” or “grasp”. Thus one will have saddhā when one grasps the true nature of this world (tilakkhaṇa) at least to some extent.
Saddhā bắt nguồn từ “sath” nghĩa là sự thật và “dhā” nghĩa là “nắm giữ” hay “hiểu thấu”. Vì vậy, một người sẽ có saddhā khi họ hiểu được bản chất thật của thế giới này (tilakkhaṇa) dù chỉ ở mức độ nào đó.
- Blind faith hinders progress since one will be following the wrong path. Furthermore, blind faith will not last long, since it is on a shaky foundation. Saddhā of a Sotāpanna is unshakable and will never be lost or even reduced.
Niềm tin mù quáng cản trở sự tiến bộ, vì người ta có thể đi sai đường. Hơn nữa, niềm tin mù quáng thường không kéo dài, vì nó dựa trên nền tảng không vững chắc. Saddhā của một vị Sotāpanna là không thể lay chuyển và không bao giờ mất đi hay suy giảm.
Thus we can see the saddhā and paññā need to progress together.
Do đó, ta thấy rằng saddhā và paññā cần được phát triển song hành.
- When saddhā and paññā are developed to a certain extent (before the Sotāpanna stage), one realizes the fruitlessness and the dangers of the sansāric Thus one is motivated to make an effort (viriya).
Khi saddhā và paññā được phát triển đến một mức độ nhất định (trước tầng Sotāpanna), một người nhận ra sự vô ích và hiểm nguy của hành trình sansāra. Từ đó người ấy được thúc đẩy để nỗ lực (viriya).
Furthermore, one realizes that one needs to be mindful of one’s actions, and thus sati (mindfulness) starts to build. One realizes that one has to act with yoniso manasikāra.
Hơn nữa, người ấy thấy rằng cần phải tỉnh giác trong các hành động của mình, và do đó sati (chánh niệm) bắt đầu được hình thành. Người ấy cũng nhận ra rằng mình cần hành động với yoniso manasikāra.
At the same time, one realizes that when the mind is not calm, one can make bad decisions; thus one starts working on calming the mind and to attain a level of concentration (samādhi). Concentration is not really a good translation for samādhi; one does not need to force concentration; rather samādhi comes about when one takes precautions to not to get into “bad situations”; see, “What is Samādhi? – Three Kinds of Mindfulness”.
Đồng thời, một người thấy rằng khi tâm không an tịnh, họ có thể đưa ra các quyết định sai lầm; vì vậy họ bắt đầu làm việc để làm lắng dịu tâm và đạt đến một mức độ samādhi. “Định (Sự tập trung)” không phải là bản dịch thật sự chuẩn cho samādhi; ta không cần cưỡng ép sự tập trung. Samādhi sinh khởi khi ta cẩn trọng và tránh rơi vào những “tình huống xấu”; xem “What is Samādhi? – Three Kinds of Mindfulness”.
- Different people have the five faculties developed to different degrees (developed in this life AND also carried from previous lives), and normally one could stand out. The Buddha has shown the following way to identify the predominance of different faculties in a person.
Mỗi người có năm căn được phát triển ở những mức độ khác nhau (phát triển trong đời này VÀ mang theo từ các đời trước), và thông thường sẽ có một căn nổi trội hơn. Đức Phật đã chỉ dạy cách nhận biết căn nào chiếm ưu thế nơi một người.
- If someone has a relatively more developed saddhā, that person is likely to be peaceful and helpful to others with a kind heart. He/she will have no trouble following the first precept of not harming others.
Nếu ai đó có saddhā phát triển hơn, người ấy thường hiền hòa và sẵn lòng giúp đỡ người khác với một tấm lòng nhân ái. Họ sẽ dễ dàng giữ giới thứ nhất — không làm hại sinh linh.
- Then, some people can easily bear hardships and be determined; they have a developed viriya (effort) indriya. They can easily keep the second precept (not taking what is not given), and be satisfied with what they earn through hard work.
Một số người khác có thể chịu đựng gian khó và có ý chí mạnh mẽ; họ có indriya viriya (tinh tấn) phát triển. Họ dễ dàng giữ giới thứ hai (không lấy của không cho) và biết hài lòng với những gì đạt được bằng lao động chân chính.
- Those who do not aggressively pursue sense fulfillment have less kāmacchanda and are unlikely to have any problems with the third precept. They are likely to have a developed mindfulness (sati) faculty.
Những người không mãnh liệt chạy theo sự thỏa mãn các giác quan thì ít kāmacchanda hơn và ít gặp khó khăn với giới thứ ba. Họ thường có căn chánh niệm (sati) phát triển.
- When the samādhi indriya is strong, that person is likely to be quiet and does not like to engage in idle chatter; thus keeping the fourth precept on the right speech will be easy.
Khi indriya samādhi mạnh, người ấy thường trầm tĩnh và không thích những lời nói vô ích; vì vậy họ dễ giữ giới thứ tư về chánh ngữ.
- Someone with paññā (wisdom) can comprehend anicca, dukkha, and anatta easily and thus realize the fruitlessness and dangers of the sansāric This person can keep the fifth hardest precept in controlling the mind; see “The Five Precepts – What the Buddha Meant by Them”.
Người có paññā (trí tuệ) có thể dễ dàng hiểu rõ anicca, dukkha và anatta, từ đó thấy được sự vô ích và hiểm nguy của hành trình sansāra. Người này có thể giữ giới thứ năm — giới khó giữ nhất — trong việc kiểm soát tâm; xem “The Five Precepts – What the Buddha Meant by Them”.
- Once one identifies a strong faculty, one should try to exploit that to move forward; the other faculties always pitch in to help, so they will grow too. It is important to cultivate all five faculties until they become powers (Bala), but one needs to exploit the predominant one.
Khi đã nhận ra căn mạnh của mình, ta nên tận dụng nó để tiến bộ; các căn còn lại sẽ tự hỗ trợ và cùng phát triển. Điều quan trọng là tu dưỡng cả năm căn cho đến khi chúng trở thành năm lực (Bala), nhưng trước tiên ta cần khai thác căn trội nhất.
- If someone tells a child, “this is not your actual Mom; she is somewhere else,” the child will not only refuse to believe that but will run to the mother and give a hug just to show how confident he is. In the same way, saddhā based on paññā can only strengthen one’s resolve.
Nếu ai đó bảo một đứa trẻ rằng: “Đây không phải mẹ con; mẹ con ở nơi khác,” đứa trẻ không chỉ từ chối tin mà còn chạy đến ôm mẹ để bày tỏ niềm tin chắc chắn của mình. Tương tự như vậy, saddhā dựa trên paññā chỉ làm tăng thêm sự kiên định của một người.
- For example, when one does not have saddhā, an outside influence can influence one to change course. But if saddhā, built on paññā, is strong, no matter how strong the influence, one’s faith will not be shaken.
Ví dụ, khi một người không có saddhā, tác động từ bên ngoài có thể khiến người ấy đổi hướng. Nhưng nếu saddhā được xây dựng trên paññā và đủ mạnh, dù ảnh hưởng từ bên ngoài có mạnh đến đâu, niềm tin của người ấy cũng không lay chuyển.
- The Buddha gave a simile to understand how indriya can become Bala to overcome difficulties: When a river runs into an obstacle like a large boulder, it splits and goes around it, and merges together after the obstacle. But the indriya needs to be strong enough to do that.
Đức Phật đưa ra một ví dụ để giúp hiểu cách indriya có thể trở thành Bala để vượt qua khó khăn: Khi một dòng sông gặp chướng ngại như một tảng đá lớn, dòng nước sẽ tách ra, chảy vòng qua và hợp lại sau chướng ngại. Nhưng indriya cần đủ mạnh mới làm được điều đó.
- When indriya (faculties) are strengthened, they become Bala (powers).
Khi các indriya (căn) được củng cố, chúng trở thành Bala (lực).
- When the faculties are being cultivated, it is essential to balance them, while utilizing the predominant faculty’s power.
Khi các căn được tu dưỡng, điều cốt yếu là phải giữ chúng cân bằng, đồng thời tận dụng sức mạnh của căn nổi trội.
- Some people have paññā and may say, “it is useless to take precepts or chant ‘Tisaraṇa’ or chant/listen to suttā; it is better to learn Dhamma.” But those activities do help to open the mind to Dhamma; see, “Buddhist Chanting.”
Có người có paññā và có thể nói rằng: “Giữ giới hay tụng ‘Tisaraṇa’ hay tụng/nghe suttā đều vô ích; học Dhamma mới quan trọng.” Nhưng những hoạt động ấy thực sự giúp tâm mở ra với Dhamma; xem bài “Buddhist Chanting”.
- On the other hand, just reciting those verses is not enough. To recite them with understanding, one needs to learn Dhamma and cultivate paññā.
Mặt khác, chỉ đọc tụng các bài kệ ấy thì không đủ. Để tụng với sự hiểu biết, người ta cần học Dhamma và tu tập paññā.
- Normally, saddhā and paññā go together and need to be balanced. Similarly, viriya (effort) and samādhi (concentration) must be balanced. For example, too much effort can be a drawback for samādhi, when doing formal meditation. As the Buddha told Sona, the musician, the strings on a violin need to be just right—not too tight and not too loose.
Thông thường, saddhā và paññā đi đôi với nhau và cần được cân bằng. Tương tự, viriya (tinh tấn) và samādhi (định) cũng phải được cân bằng. Ví dụ, khi hành thiền chính thức, quá nỗ lực có thể cản trở samādhi. Như Đức Phật đã dạy Sona, người nhạc sĩ: dây đàn violin phải vừa phải — không quá căng cũng không quá chùng.
- Sati (mindfulness) must lead and always be there.
Sati (chánh niệm) phải dẫn đầu và luôn hiện diện.
- Sati can be compared to the steering wheel of a car; saddhā and paññā can be compared to one set of wheels, and viriya and samādhi can be compared to the other set of wheels. The wheels must be in balance and the steering wheel must be kept at the correct position all the time for the car to go forward. If the wheels are not balanced, the car will go in circles; if the steering wheel is not managed, the vehicle will go off the road.
Sati có thể ví như tay lái của một chiếc xe; saddhā và paññā giống như một cặp bánh xe, còn viriya và samādhi là cặp còn lại. Các bánh xe phải cân bằng và tay lái phải được giữ đúng hướng thì xe mới đi tới. Nếu bánh xe không cân bằng, xe sẽ chạy vòng tròn; nếu tay lái không được điều khiển, xe sẽ lao khỏi đường.
- These five (saddhā, viriya, sati, samādhi, paññā) are cetasika (mental factors). They help define one’s character (gati) for the better, and these five are important ones to “take in” or “āna” in ānāpāna sati.
Năm yếu tố này (saddhā, viriya, sati, samādhi, paññā) đều là các cetasika (tâm sở). Chúng giúp định hình gati (tính cách) theo chiều hướng tốt hơn, và năm yếu tố này là những yếu tố quan trọng cần được “thu nhận vào” hay “āna” trong ānāpāna sati.
- The five faculties exercise control in their respective domains: saddhā in the domain of adhimokkha (decision or resolve), viriya in paggaha (exertion), sati in upaṭṭhāna (awareness), samādhi in avikkhepa (non-distraction), and paññā in dassana (view or vision). When they become Bala (powers), they become unshakable by their opposites – indecision, laziness, negligence, agitation, and delusion or ignorance. [upaṭṭhāna : [nt.] waiting on; looking after; service; understanding.]
Năm căn này kiểm soát những lĩnh vực riêng của chúng: saddhā trong phạm vi adhimokkha (quyết định hay quyết tâm), viriya trong paggaha (nỗ lực), sati trong upaṭṭhāna (chánh niệm), samādhi trong avikkhepa (không tán loạn), và paññā trong dassana (thấy biết). Khi chúng trở thành Bala (năm lực), chúng không thể bị lay chuyển bởi các yếu tố đối nghịch: do dự, lười biếng, buông lung, xao động và si mê hay vô minh. [upaṭṭhāna: chăm sóc; hỗ trợ; phục vụ; hiểu biết.]
- It is important to realize the value of citta pasāda (joy) and adhimokkha (resolve) that results from saddhā based on true understanding: adhimokkha is an intermediate step in Kusala-mūla Paṭicca Samuppāda on the way to Nibbāna, see, “Kusala-Mūla Paṭicca Samuppāda.”
Điều quan trọng là phải nhận ra giá trị của citta pasāda (hoan hỷ) và adhimokkha (quyết tâm) sinh khởi từ saddhā dựa trên sự hiểu biết chân thật: adhimokkha là một bước trung gian trong Kusala-mūla Paṭicca Samuppāda trên con đường đến Nibbāna; xem “Kusala-Mūla Paṭicca Samuppāda”.
- Also, citta pasāda and adhimokkha that arise in doing meritorious acts with joy in the heart are key to optimizing the merits; see, “A Simple Way to Enhance Merits (Kusala) and Avoid Demerits (Akusala),” and “Javana of a Citta – The Root of Mental Power.”
Ngoài ra, citta pasāda và adhimokkha sinh khởi khi làm các việc thiện với tâm hoan hỷ là then chốt để tăng trưởng công đức; xem “A Simple Way to Enhance Merits (Kusala) and Avoid Demerits (Akusala)” và “Javana of a Citta – The Root of Mental Power”.
- The five indriya become five Bala and are well balanced only for an Arahant. By cultivating them and trying to keep them balanced, we can reap many benefits even before reaching that ultimate goal.
Năm indriya chỉ trở thành năm Bala một cách hoàn thiện ở nơi một vị Arahant. Bằng cách tu dưỡng và cố gắng giữ chúng cân bằng, chúng ta có thể đạt được nhiều lợi ích ngay cả trước khi đạt đến mục tiêu tối hậu ấy.
- Even for an Arahant, there are some leftover “imperfections” even though they are not defilements; these are some “hard-to-get-rid-of” quirks in personal behavior. For example, there is this story about a very young Arahant who had the habit of jumping over puddles instead of going around them; he had been born a monkey for many lives recently and had carried that habit to this life.
Ngay cả một vị Arahant vẫn còn đôi chút “khuyết điểm” dù chúng không phải là ô nhiễm; chúng chỉ là những thói quen khó bỏ trong hành vi. Ví dụ, có câu chuyện về một vị Arahant trẻ tuổi vẫn giữ thói quen nhảy qua các vũng nước thay vì đi vòng; vì trong nhiều đời gần đây, ngài từng sinh làm khỉ và mang theo thói quen ấy sang đời này.
- Only a Sammā Sambuddha (like Buddha Gotama) is perfect in every aspect. This is why he is called “Tathāgata” (“tatha” for “what should be” or the “real nature”; pronounced “thathāgatha”).
Chỉ một vị Sammā Sambuddha (như Đức Phật Gotama) mới hoàn hảo trong mọi phương diện. Đó là lý do ngài được gọi là “Tathāgata” (“tatha” nghĩa là “điều nên là” hay “bản chất thật”; đọc là “thathāgatha”).
