Our Mental Body – Gandhabba / Thân Tâm Của Chúng Ta – Gandhabba

December 26, 2016; revised February 1, 2020; July 14, 2022

Ngày 26/12/2016; chỉnh sửa ngày 01/02/2020; ngày 14/07/2022

Introduction

Giới thiệu

  1. Grasping the message of the Buddha requires two essential ingredients. (i) It is easier done with a mind that has fewer defilements (kilesa or keles or klesha), and (ii) One needs to go beyond learning mundane interpretations of crucial concepts.

Nắm bắt được thông điệp của Đức Phật đòi hỏi hai yếu tố thiết yếu. (i) Điều này dễ thực hiện hơn khi tâm có ít nhiễm ô (kilesa hay keles hay klesha), và (ii) cần vượt qua việc chỉ học các cách hiểu mang tính thế gian đối với những khái niệm then chốt.

  • If those two conditions are satisfied, grasping deeper Dhamma concepts will not be a difficult task. If one can comprehend — not merely to memorize — the key concepts, it becomes easy to avoid getting the “viparīta saññā” or the “incorrect impression” of a given concept. [viparīta : [adj.] reversed; changed; wrong.]

Nếu hai điều kiện đó được đáp ứng, việc nắm bắt các khái niệm Dhamma sâu hơn sẽ không còn khó khăn. Nếu có thể hiểu — chứ không chỉ ghi nhớ — các khái niệm cốt lõi, thì sẽ dễ tránh được “viparīta saññā”, tức là “ấn tượng sai lệch” về một khái niệm. [viparīta : [tính từ] đảo ngược; thay đổi; sai.]

  • This process gradually leads to the comprehension of “anicca saññā” which is the key to the Sotāpanna stage of Nibbāna.

Tiến trình này dần dần dẫn đến sự thấu hiểu “anicca saññā”, vốn là chìa khóa để đạt tầng Sotāpanna của Nibbāna.

  • In this post, we will start a discussion that will lead to a better explanation of “saññā” (which is one of the five aggregates) generally translated as “perception.”

Trong bài viết này, chúng ta sẽ bắt đầu một cuộc thảo luận nhằm dẫn đến cách giải thích rõ ràng hơn về “saññā” (một trong năm uẩn), thường được dịch là “nhận thức”.

Mental Body Is Primary and Physical Body Is Secondary

Thân Tâm Là Chính Yếu, Thân Vật Lý Là Thứ Yếu

  1. We will discuss how we grasp a given concept using any one of many human languages that are in use today.

Chúng ta sẽ bàn về cách con người nắm bắt một khái niệm bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trong số nhiều ngôn ngữ hiện đang được sử dụng.

  • It is essential to understand that the mental body (manomaya kāya or gandhabba) is primary — initiating all our thoughts, speech, and actions. The physical body that we value so much is secondary.

Điều cốt yếu cần hiểu là thân tâm (manomaya kāya hay gandhabba) là yếu tố chính — khởi phát mọi tư duy, lời nói và hành động của chúng ta. Thân vật lý mà ta thường coi trọng thực ra chỉ là thứ yếu.

  • While our brains help us grasp what is expressed in a given language (and we have to learn a given language), a gandhabba can understand that message directly — without using a brain or eyes, ears, etc. that are associated with the physical body. The gandhabba — when outside the physical body — can see and hear without using eyes and ears, and grasp what is expressed by thoughts of other beings directly (where allowed by their kammic potential).

Trong khi bộ não giúp chúng ta hiểu những gì được diễn đạt bằng một ngôn ngữ cụ thể (và chúng ta phải học ngôn ngữ đó), thì một gandhabba có thể hiểu trực tiếp thông điệp ấy — không cần dùng đến não, hay mắt, tai… vốn gắn liền với thân vật lý. Gandhabba — khi ở ngoài thân vật lý — có thể thấy và nghe mà không cần mắt tai, và có thể trực tiếp nắm bắt những gì được biểu đạt qua tư tưởng của các chúng sinh khác (trong phạm vi được cho phép bởi tiềm năng kamma của mình).

  • Gandhabbā — and most living beings — communicate among themselves via “saññā.” No “spoken language” is involved since they cannot “talk” like we do. See, “Ghost 1990 Movie – Good Depiction of Gandhabba Concept.”

Gandhabbā — cũng như hầu hết các chúng sinh — giao tiếp với nhau thông qua “saññā”. Không có “ngôn ngữ nói” nào được sử dụng vì họ không thể “nói chuyện” như chúng ta. Xem “Ghost 1990 Movie – Good Depiction of Gandhabba Concept.”

  • That is somewhat similar to how we experience dreams. We do not use our ears to hear in our dreams. We “perceive” what others say in our dreams. That is the closest analogy to how a gandhabba hears when outside a physical body. Seeing is the same way. In dreams, we don’t use our eyes to see; our eyes remain closed when we dream. Both hearing and seeing are done just with the sota and cakkhu pasāda rūpa and the mind.

Điều này phần nào tương tự với cách chúng ta trải nghiệm giấc mơ. Trong mơ, chúng ta không dùng tai để nghe. Chúng ta “nhận biết” điều người khác nói trong mơ. Đây là phép so sánh gần nhất để hiểu cách một gandhabba nghe khi ở ngoài thân vật lý. Việc thấy cũng tương tự như vậy. Trong mơ, chúng ta không dùng mắt để thấy; mắt vẫn nhắm khi ta mơ. Cả nghe và thấy đều được thực hiện chỉ với sota và cakkhu pasāda rūpa cùng với tâm.

Why Do We Highly-Value Our Physical Bodies?

Vì Sao Chúng Ta Rất Coi Trọng Thân Vật Lý?

Of course, until a Buddha comes to this world and explains the existence of a mental body, we would not be even aware of that distinction. Even today, scientists believe that the physical body is all we have and that our thoughts arise in the inert brain!

Dĩ nhiên, nếu không có một vị Phật xuất hiện trong thế gian và giải thích về sự tồn tại của thân tâm, thì chúng ta thậm chí cũng không nhận ra sự phân biệt đó. Ngay cả ngày nay, các nhà khoa học vẫn tin rằng thân vật lý là tất cả những gì chúng ta có, và rằng tư duy sinh khởi từ bộ não vô tri.

  1. We highly value our physical bodies because we enjoy sense pleasures associated with smells, tastes, and body touches.

Chúng ta rất coi trọng thân vật lý vì chúng ta hưởng thụ các dục lạc giác quan liên quan đến mùi, vị và sự xúc chạm của thân.

  • However, to experience those three types of sensory contact, our mental bodies need to be trapped inside physical bodies. We pay the price for those sense enjoyments because those physical bodies are subject to rapid and unexpected decay and have relatively short lifetimes around 100 years.

Tuy nhiên, để trải nghiệm ba loại xúc chạm giác quan đó, thân tâm phải bị “giam giữ” bên trong thân vật lý. Chúng ta phải trả giá cho những hưởng thụ giác quan ấy vì thân vật lý dễ bị hoại diệt nhanh chóng và bất ngờ, với tuổi thọ tương đối ngắn, khoảng 100 năm.

  • Furthermore, when the mental body is enclosed or trapped inside a physical body, it loses the ability to see external objects directly, hear external sounds, and recall dhammā (memories/concepts). All six sensory inputs now need to be processed by the brain and converted to a form (“saññā”) that can be grasped by the trapped mental body (gandhabba). For a more in-depth analysis, see “Brain – Interface between Mind and Body.”

Hơn nữa, khi thân tâm bị bao bọc hay giam giữ trong thân vật lý, nó mất khả năng trực tiếp thấy các đối tượng bên ngoài, nghe các âm thanh bên ngoài, và ghi nhớ dhammā (ký ức/khái niệm). Cả sáu loại dữ liệu giác quan giờ đây đều phải được xử lý qua bộ não và chuyển thành một dạng (“saññā”) để thân tâm bị giam giữ (gandhabba) có thể nắm bắt. Phân tích chi tiết hơn, xem “Brain – Interface between Mind and Body.”

  • The sense of smell, taste, or body touch is unavailable to beings in the higher 20 (Brahma) realms. Those Brahmā have mental bodies (with just a trace of matter) like our gandhabbā. Just like those Brahmā, the gandhabbā cannot sense smell, taste, or body touches, but can “directly see, hear, and grasp concepts” without the aid of a brain when outside a physical body.

Khứu giác, vị giác và xúc chạm thân không có ở các chúng sinh thuộc 20 cõi cao (Brahma). Các Brahmā ấy có thân tâm (chỉ còn một dấu vết rất nhỏ của vật chất) giống như gandhabbā của chúng ta. Cũng như các Brahmā đó, gandhabbā không thể cảm nhận mùi, vị hay xúc chạm thân, nhưng có thể “trực tiếp thấy, nghe và nắm bắt các khái niệm” mà không cần đến bộ não khi ở ngoài thân vật lý.

  • Please contemplate and grasp what is meant by those statements before proceeding further.

Xin hãy quán chiếu và nắm bắt ý nghĩa của những điều trên trước khi tiếp tục.

The “Mental Body” Lives Much Longer!

“Thân Tâm” Sống Lâu Hơn Rất Nhiều!

  1. Another critical factor is the difference between the lifetime of a physical body and that of a mental body (gandhabba).

Một yếu tố then chốt khác là sự khác biệt giữa tuổi thọ của thân vật lý và tuổi thọ của thân tâm (gandhabba).

  • A human gandhabba born at the cuti-paṭisandhi moment can live for hundreds to thousands of years. Within a given “human bhava,” there can be many repeated births as a human with a human body; see “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein.”

Một gandhabba của loài người được sinh ra tại thời điểm cuti-paṭisandhi có thể sống hàng trăm đến hàng nghìn năm. Trong một “bhava loài người” nhất định, có thể có nhiều lần sinh lặp lại làm người với các thân người khác nhau; xem “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein.”

  • When a physical body dies (and if more kammic energy for the human bhava remains), that gandhabba comes out of the dead body and waits for a suitable womb to re-enter and make a new human body. This process can happen many times during a given human bhava. Each time a different physical body is acquired by the gandhabba, as discussed below.

Khi một thân vật lý chết đi (và nếu vẫn còn năng lực kamma cho bhava loài người), gandhabba đó sẽ rời khỏi thân xác và chờ một bào thai thích hợp để tái nhập, tạo nên một thân người mới. Quá trình này có thể xảy ra nhiều lần trong cùng một bhava loài người. Mỗi lần như vậy, gandhabba lại có một thân vật lý khác, như sẽ được bàn ở phần sau.

  • Therefore, it makes more sense to focus on the well-being of the mental body (gandhabba) than on the short-lived physical body.

Do đó, việc chú trọng đến sự an ổn của thân tâm (gandhabba) có ý nghĩa hơn nhiều so với việc chỉ chăm lo cho thân vật lý ngắn ngủi.

Some Exceptions To The Above Rules

Một Số Ngoại Lệ Đối Với Các Quy Luật Trên

  1. There are a few exceptions to the above process.

Có một vài ngoại lệ đối với tiến trình được mô tả ở trên.

  • If one commits a ānantariya pāpa kamma (killing a parent, for example), then gandhabba that comes out of a dead physical body “cannot survive.” Because of that strong kamma vipāka, it undergoes a cuti-paṭisandhi moment and will be instantaneously born in an apāya suitable for that strong kamma.

Nếu một người tạo ānantariya pāpa kamma (ví dụ như giết cha hay mẹ), thì gandhabba thoát ra khỏi thân vật lý đã chết sẽ “không thể tồn tại”. Do kamma vipāka cực mạnh đó, gandhabba sẽ trải qua một khoảnh khắc cuti-paṭisandhi và ngay lập tức tái sinh vào một apāya tương ứng với nghiệp mạnh ấy.

  • If one develops Ariya or anāriya jhāna, it also becomes a “good” ānantariya kamma. One will be born in a Brahma realm (corresponding to the highest jhānic state attained) by skipping the remaining human births. However, those who get to brahma realms via anāriya jhānā will return to human or lower realms. Any Ariya (starting with a Sotāpanna) who attains Ariya jhānā will never come back to kāma loka. Of course, a Sotāpanna (Sakadāgāmī) without Ariya jhānā will be reborn in human (deva) realms.

Nếu một người tu tập jhāna theo con đường Ariya hoặc anāriya, điều đó cũng trở thành một ānantariya kamma “thiện”. Người ấy sẽ được sinh vào một cõi Brahma (tương ứng với trạng thái jhāna cao nhất đã đạt), bỏ qua các lần sinh làm người còn lại. Tuy nhiên, những ai sinh lên cõi Brahma nhờ anāriya jhānā sẽ quay trở lại cõi người hoặc các cõi thấp hơn. Bất kỳ vị Ariya nào (bắt đầu từ Sotāpanna) đạt được Ariya jhānā sẽ không bao giờ trở lại kāma loka. Dĩ nhiên, một vị Sotāpanna (hay Sakadāgāmī) không có Ariya jhānā vẫn sẽ tái sinh trong các cõi người (deva).

  • That is also why an Arahant is not reborn, even if there is kammic energy left over for the human bhava. The gandhabba that comes out “cannot bear” the mindset of an Arahant, and will instantaneously undergo a cuti-paṭisandhi Still, since an Arahant will not grasp a new bhava, they will not be reborn.

Đó cũng là lý do vì sao một bậc Arahant không còn tái sinh, ngay cả khi vẫn còn năng lực kamma dư cho bhava loài người. Gandhabba thoát ra “không thể chịu đựng” được trạng thái tâm của một bậc Arahant, nên sẽ tức thời trải qua khoảnh khắc cuti-paṭisandhi. Tuy nhiên, vì một bậc Arahant không còn nắm giữ một bhava mới, nên sẽ không còn tái sinh.

  • Those above cases — where the human bhava prematurely terminates — are similar to the burning of a heater coil used in an immersion heater, when the heated coil comes out of the water. The heater coil can “bear” the heat as long as it is in the water. But once out of the water, the heater coil will quickly burn out. The physical human body can “bear” any of those states (ānantariya kamma) discussed above. That is why a person who killed their mother will not be born in an apāya immediately; only when the gandhabba comes out of the body will it be burnt, and new birth in an apāya will start.

Những trường hợp trên — nơi bhava loài người chấm dứt sớm — giống như cuộn dây đốt của bình nước nóng bị cháy khi được kéo ra khỏi nước. Cuộn dây có thể “chịu được” nhiệt khi còn ở trong nước, nhưng khi ra khỏi nước thì sẽ nhanh chóng cháy hỏng. Thân vật lý của con người có thể “chịu đựng” bất kỳ trạng thái nào (ānantariya kamma) đã nói ở trên. Vì vậy, người giết mẹ sẽ không lập tức sinh vào apāya; chỉ khi gandhabba rời khỏi thân thì mới bị “đốt cháy”, và sự tái sinh mới trong apāya mới bắt đầu.

Why Are Most People Not Aware of The Gandhabba Concept?

Vì Sao Đa Số Con Người Không Nhận Thức Được Khái Niệm Gandhabba?

  1. Even though there is no discussion about the gandhabba in Buddhaghosa’s Visuddhimagga, it is a critical concept in Buddha Dhamma. The Buddha compared a gandhabba coming out of a physical body to a sword coming out of its sheath. The gandhabba is sometimes called a Tirokuddha in Suttā.

Mặc dù trong Visuddhimagga của Buddhaghosa không có bàn đến gandhabba, đây vẫn là một khái niệm then chốt trong Dhamma của Đức Phật. Đức Phật ví việc gandhabba rời khỏi thân vật lý như thanh gươm rút ra khỏi vỏ. Gandhabba đôi khi còn được gọi là Tirokuddha trong các Suttā.

  • People with abhiññā powers can move the gandhabba out of the physical body at will.

Những người có abhiññā có thể chủ động đưa gandhabba ra khỏi thân vật lý theo ý muốn.

  • Some people had cultivated abhiññā powers in recent previous births and can do it at will even though they have less control over the mental body. One can float to the ceiling and watch one’s physical body lying on the bed, for example. Furthermore, during heart operations, the gandhabba can come out and view the process from above, and provide details about it later. See. “Out-of-Body Experience (OBE) and Manomaya Kāya.”

Một số người đã tu tập abhiññā trong các đời gần đây nên có thể làm điều đó theo ý muốn, dù sự kiểm soát thân tâm còn hạn chế. Ví dụ, người ấy có thể “bay” lên trần nhà và nhìn thấy thân vật lý của mình nằm trên giường. Hơn nữa, trong các ca phẫu thuật tim, gandhabba có thể rời khỏi thân và quan sát quá trình từ phía trên, rồi sau đó kể lại chi tiết. Xem “Out-of-Body Experience (OBE) and Manomaya Kāya.”

  1. The gandhabba has only a trace of matter even hard to imagine. It is our mental body or manomaya kāya.

Gandhabba chỉ có một dấu vết vật chất rất nhỏ, khó mà hình dung được. Đó chính là thân tâm hay manomaya kāya của chúng ta.

  • To give an analogy: A barely seen dust particle may have millions of atoms. The “material stuff” in a gandhabba is million-fold smaller than an atom! The gandhabba is more like an “energy field.”

Lấy một ví dụ: một hạt bụi rất khó thấy có thể chứa hàng triệu nguyên tử. “Vật chất” trong một gandhabba còn nhỏ hơn nguyên tử hàng triệu lần! Gandhabba giống như một “trường năng lượng” hơn là một vật thể.

  • This mental body is like a fine mesh spread throughout the physical body with the seat of the mind (hadaya vatthu) overlapping the physical heart.

Thân tâm này giống như một mạng lưới cực mịn lan khắp thân vật lý, với trụ sở của tâm (hadaya vatthu) chồng lên vùng tim vật lý.

  • If that mental body comes out of the physical body, the physical body becomes as inert as a piece of wood (as a dead body is).

Nếu thân tâm rời khỏi thân vật lý, thì thân vật lý trở nên trơ lì như một khúc gỗ (giống như một xác chết).

How Can a “Mental Body” Control a Heavy Physical Body?

Làm Thế Nào Một “Thân Tâm” Có Thể Điều Khiển Một Thân Vật Lý Nặng Nề?

  1. Let us start by addressing some fundamental objections to the mental body’s control of the physical body. First, how can a “mental body” move a heavy physical body?

Hãy bắt đầu bằng việc giải đáp một số thắc mắc căn bản về khả năng thân tâm điều khiển thân vật lý. Trước hết, làm sao một “thân tâm” có thể di chuyển một thân vật lý nặng nề?

  • A good analogy is to compare it to how a human operator controls a heavy military tank from the inside of that enclosed tank. There, the human operator plays the role of the gandhabba.

Một ví dụ thích hợp là so sánh với cách một người điều khiển điều khiển một chiếc xe tăng quân sự nặng nề từ bên trong khoang kín của nó. Ở đó, người điều khiển đóng vai trò giống như gandhabba.

  • The human operator, of course, does not have enough energy to move the tank. He merely controls the direction of the movement by instructing the on-board computer. The power to move the tank comes from the fuel stored in the military tank.

Người điều khiển, dĩ nhiên, không có đủ năng lượng để tự mình làm cho xe tăng di chuyển. Ông ta chỉ điều khiển hướng chuyển động bằng cách ra lệnh cho máy tính trên xe. Năng lượng để xe tăng di chuyển đến từ nhiên liệu được chứa trong chính chiếc xe tăng đó.

  • In the same way, the mental body (gandhabba) instructs the brain to generate required bodily movements or speech. Here, the brain plays the role of the computer in the military tank analogy. The small amount of energy needed for the gandhabba comes from the kammic power that led to human bhava. The energy required for bodily movements (including speech) comes from our food.

Tương tự như vậy, thân tâm (gandhabba) ra lệnh cho bộ não tạo ra các chuyển động thân hay lời nói cần thiết. Ở đây, bộ não đóng vai trò giống như máy tính trong ví dụ xe tăng quân sự. Lượng năng lượng nhỏ cần cho gandhabba đến từ năng lực kamma đã dẫn đến bhava làm người. Năng lượng cần cho các vận động của thân (kể cả lời nói) đến từ thức ăn của chúng ta.

Details of The “Operator Analogy”

Chi tiết về “Phép So Sánh Người Điều Khiển”

  1. In the above analogy, the operator is totally shielded from the external world. He can monitor the outside environment only via the audio and video equipment mounted on the tank. The video cameras, for example, can feed videos to an on-board computer, which analyzes and displays it on a monitor for the operator to see.

Trong phép so sánh trên, người điều khiển hoàn toàn bị cách ly khỏi thế giới bên ngoài. Ông ta chỉ có thể theo dõi môi trường bên ngoài thông qua các thiết bị âm thanh và hình ảnh được gắn trên xe tăng. Ví dụ, các camera sẽ truyền hình ảnh về máy tính trên xe, máy tính này phân tích và hiển thị lên màn hình để người điều khiển quan sát.

  • In the same way, our physical eyes send a picture to our brain, which analyzes them, and converts them to a form (“saññā”) that can be “seen” — or comprehended — by the gandhabba So, our brain is the computer that conveys the information to the gandhabba that is really trapped inside the solid physical body; see, “Brain – Interface between Mind and Body.”

Tương tự, mắt vật lý của chúng ta gửi hình ảnh đến bộ não; bộ não phân tích và chuyển đổi chúng thành một dạng (“saññā”) để gandhabba bên trong có thể “thấy” — hay hiểu được. Do đó, bộ não chính là máy tính truyền thông tin đến gandhabba, vốn thực sự bị giam giữ bên trong thân vật lý rắn chắc; xem “Brain – Interface between Mind and Body.”

  • The gandhabba accesses the other four sensory inputs the same way, with the help of the ears, tongue, nose, and the body.

Gandhabba tiếp nhận bốn dữ liệu giác quan còn lại cũng theo cách tương tự, với sự trợ giúp của tai, lưỡi, mũi và thân.

  • Our memories, plans, etc. (all mental) are also “out there” (in the mano loka) but, of course, cannot be seen. They are collectively called “dhamma”; see, “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.”

Các ký ức, kế hoạch, v.v. của chúng ta (đều thuộc về tâm) cũng “ở đó” (trong mano loka) nhưng dĩ nhiên không thể thấy được. Chúng được gọi chung là “dhamma”; xem “What are Dhamma? – A Deeper Analysis.”

  • Gandhabba accesses those with the help of the mana indriya in the brain, which is the sixth sense input (like eyes for seeing, ears for hearing, etc.), and has not been identified by science yet.

Gandhabba tiếp cận những dhamma đó với sự trợ giúp của mana indriya trong bộ não, tức là căn thứ sáu (giống như mắt để thấy, tai để nghe, v.v.), và cho đến nay vẫn chưa được khoa học xác định.

  • The mano loka co-exists with the rūpa loka (material world); see, “Our Two Worlds: Material and Mental.”

Mano loka đồng thời tồn tại cùng với rūpa loka (thế giới vật chất); xem “Our Two Worlds: Material and Mental.”

How Does A Gandhabba Hear When Outside a Physical Body?

Gandhabba Nghe Bằng Cách Nào Khi Ở Ngoài Thân Vật Lý?

  1. Another possible question is: “How does the gandhabba see and hear when outside the human body?”

Một câu hỏi khác có thể đặt ra là: “Gandhabba thấy và nghe bằng cách nào khi ở ngoài thân người?”

  • It is only in the human (and animal) realms that beings communicate via speech (and bodily gestures). In other realms, living beings communicate directly via saññā, one of the five aggregates (pañcakkhandha). While not all living beings can communicate with all other (it depends on each realm), where it is possible, communications take place via saññā generated in one’s thoughts.

Chỉ trong cõi người (và cõi động vật) thì các chúng sinh mới giao tiếp bằng lời nói (và cử chỉ thân). Ở các cõi khác, các chúng sinh giao tiếp trực tiếp qua saññā, một trong năm uẩn (pañcakkhandha). Mặc dù không phải tất cả chúng sinh đều có thể giao tiếp với nhau (điều này tùy thuộc vào từng cõi), nhưng khi có thể, sự giao tiếp diễn ra thông qua saññā được tạo ra trong tư tưởng.

  • This experience is similar to one’s experience with dreams. In a dream, we do not “hear” what others say in the same way when we hear speech normally. In a dream, we perceive what they are saying.

Trải nghiệm này tương tự như trải nghiệm trong giấc mơ. Trong mơ, chúng ta không “nghe” người khác nói theo cách như khi nghe lời nói bình thường. Trong mơ, chúng ta nhận biết điều họ đang nói.

  • That is how those with abhiññā powers (even a few of us with gati from previous lives where they had such abhiññā skills in recent lives) can communicate with beings in other realms.

Đó là cách những người có abhiññā (thậm chí một số ít người trong chúng ta có gati từ các đời trước, khi họ từng có những năng lực abhiññā như vậy trong các đời gần đây) có thể giao tiếp với các chúng sinh ở những cõi khác.

Why Do People Have Different Physical Bodies in Successive Human Lives?

Vì Sao Con Người Có Thân Vật Lý Khác Nhau Trong Các Đời Làm Người Liên Tiếp?

  1. It is the “same” gandhabba that is born with human bodies in successive human lives. Then another question may arise, “Why do people look different in successive rebirths?” That is because the physical body in each human birth (within the same human bhava) arises with contributions from the parents for that life.

Chính “cùng một” gandhabba được sinh ra với các thân người trong những đời làm người liên tiếp. Khi đó, một câu hỏi khác có thể nảy sinh: “Vì sao con người trông khác nhau qua các lần tái sinh?” Đó là vì thân vật lý trong mỗi lần sinh làm người (trong cùng một bhava làm người) được hình thành với sự đóng góp từ cha mẹ của đời sống đó.

  • Even though the gandhabba brings in his/her gati (habits), āsava (cravings), kilesa (mental impurities), etc. from the previous life, the physical body for each birth has significant contributions from the new parents.

Mặc dù gandhabba mang theo gati (thói quen), āsava (tham ái), kilesa (cấu uế tâm), v.v. từ đời trước, nhưng thân vật lý của mỗi lần sinh có những đóng góp quan trọng từ cha mẹ mới.

  • Therefore, the DNA of the physical bodies of two successive lives could be different due to this reason. The building of a new physical body is described in the post, “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception.”

Vì vậy, DNA của thân vật lý ở hai đời liên tiếp có thể khác nhau do lý do này. Quá trình hình thành một thân vật lý mới được mô tả trong bài “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception.”

  • Even then, a gandhabba needs to match the gati of the parents.

Dẫu vậy, gandhabba vẫn cần tương hợp với gati của cha mẹ.

One Can Travel to Deva or Brahma Realms With the Manomaya Kāya

Người Ta Có Thể Đi Đến Các Cõi Deva Hoặc Brahma Bằng Manomaya Kāya

  1. Another interesting piece of information comes from how the Buddha (and others with iddhi bala) traveled to deva or Brahma loka with the manomaya kāya. Here the physical body is left behind (the physical body does not die in this case, and is kept alive by the rūpa jīvitindriya). Upon returning, the manomaya kāya can re-enter the physical body.

Một thông tin thú vị khác liên quan đến cách Đức Phật (và những người có iddhi bala) đi đến các cõi deva hay Brahma loka bằng manomaya kāya. Trong trường hợp này, thân vật lý được để lại phía sau (thân không chết và được duy trì sự sống bởi rūpa jīvitindriya). Khi trở về, manomaya kāya có thể tái nhập vào thân vật lý.

  • Those who attain the fourth jhāna can develop iddhi powers can separate the manomaya kāya from the physical body. Then they can travel far with that manomaya kāya. Just as a sword comes out of its sheath, those with iddhi powers can pull the manomaya kāya out of the physical body.

Những ai đạt được tầng jhāna thứ tư có thể phát triển năng lực iddhi và tách manomaya kāya ra khỏi thân vật lý. Khi đó, họ có thể đi rất xa bằng manomaya kāya. Cũng như thanh gươm rút khỏi vỏ, những người có iddhi có thể đưa manomaya kāya ra khỏi thân vật lý.

  • Suttā state that the Buddha visited deva or Brahma lokas “within the time that takes a bent arm to be straightened.”

Các Suttā cho biết Đức Phật đã viếng thăm các cõi deva hay Brahma “nhanh như thời gian duỗi thẳng một cánh tay đang co.”

  • It is also possible for some of those with iddhi powers to travel with their physical bodies. That involves a different mechanism that is not relevant to this discussion.

Một số người có iddhi cũng có thể di chuyển cùng với thân vật lý. Điều đó liên quan đến một cơ chế khác, không liên quan đến thảo luận này.

Connection to “Astral Travel”

Mối liên hệ với “Du hành Bằng thể vía”

  1. Even today, some ordinary people can dissociate their mental body from the physical body and “astral travel.” That manomaya kāya can then go to distant places within short times (this is what is called astral travel in the present day; see the Wikipedia article, “WebLink: WIKI: Astral projection.”

Ngay cả ngày nay, một số người bình thường vẫn có thể tách thân tâm khỏi thân vật lý và “du hành bằng thể vía”. Manomaya kāya khi đó có thể đi đến những nơi xa trong thời gian ngắn (điều này ngày nay được gọi là du hành bằng thể vía; xem bài Wikipedia “WebLink: WIKI: Astral projection”).

  • A gandhabba is the same as an “astral body” that is described in such accounts; see, for example, “Journeys Out of the Body: The Classic Work on Out-of-Body Experience,” by Robert Monroe (1992). There are two sequels to that book, as well as books by others. Accounts in at least some of those books are consistent with the above mechanism.

Gandhabba chính là “thể vía” được mô tả trong các tường thuật như vậy; ví dụ, xem quyển “Journeys Out of the Body: The Classic Work on Out-of-Body Experience” của Robert Monroe (1992). Cuốn sách này có hai phần tiếp theo, cũng như các tác phẩm của những tác giả khác. Ít nhất một số ghi nhận trong các sách đó phù hợp với cơ chế đã nêu ở trên.

  • Also, the gandhabba can come out of the physical body under stressful conditions, particularly during heart operations. Many such accounts by a cardiologist have been documented in the book, “Consciousness Beyond Life,” by Pim van Lommel (2010).

Ngoài ra, gandhabba có thể rời khỏi thân vật lý trong các tình huống căng thẳng, đặc biệt là trong các ca phẫu thuật tim. Nhiều trường hợp như vậy do một bác sĩ tim mạch ghi nhận đã được trình bày trong cuốn “Consciousness Beyond Life” của Pim van Lommel (2010).

Explanation of the “Time Gap” Between Two Successive Human Births

Giải Thích “Khoảng Thời Gian Gián Đoạn” Giữa Hai Lần Sinh Làm Người Liên Tiếp

  1. Many rebirth account features can be explained by the correct interpretation where the manomaya kāya (gandhabba) inherits many successive (but time separated) physical bodies.

Nhiều đặc điểm trong các câu chuyện tái sinh có thể được giải thích bằng cách hiểu đúng rằng manomaya kāya (gandhabba) tiếp nhận nhiều thân vật lý liên tiếp (nhưng cách nhau về thời gian).

  • In rebirth stories, there is always a “time gap” between successive human births (jāti). That time gap can be several years or at least few years. In between those successive lives, that lifestream lives as a gandhabba, without a physical body.

Trong các câu chuyện tái sinh, luôn có một “khoảng thời gian gián đoạn” giữa các lần sinh làm người (jāti) liên tiếp. Khoảng thời gian đó có thể là vài năm hoặc ít nhất là vài năm. Trong thời gian giữa các đời ấy, dòng sinh mệnh tồn tại dưới dạng gandhabba, không có thân vật lý.

  • In most rebirth stories, the previous human life was terminated unexpectedly, like in an accident or a killing. Therefore, the kammic energy for the human bhava had not been exhausted. And the gandhabba just came out of the dead body and waited for another womb to enter.

Trong đa số các câu chuyện tái sinh, đời làm người trước đó chấm dứt đột ngột, như do tai nạn hay bị sát hại. Vì vậy, năng lực kamma cho bhava loài người chưa bị tiêu hết. Do đó, gandhabba chỉ rời khỏi thân xác đã chết và chờ một bào thai khác để nhập vào.

  • The Buddha told Vacchagotta that the gandhabba survives that intervening time by using taṇhā as āhāra. Some gandhabbā can “inhale” aroma from plants, fruits, etc., too.

Đức Phật đã nói với Vacchagotta rằng gandhabba tồn tại trong khoảng thời gian trung gian đó bằng cách dùng taṇhā làm āhāra. Một số gandhabbā còn có thể “hít” hương thơm từ cây cỏ, trái cây, v.v. nữa.

Further Information

Thông tin Bổ sung

  1. If one has been following — and trying to “live” the moral life recommended in the previous posts in the “Living Dhamma” section — it would be easier to follow the upcoming posts as we will be diving deeper.

Nếu đã theo dõi — và cố gắng “sống” đời sống đạo đức được khuyến nghị trong các bài trước thuộc mục “Living Dhamma” — thì việc theo dõi các bài sắp tới sẽ dễ dàng hơn, vì chúng ta sẽ đi sâu hơn nữa.

  • One aspect of realizing the anicca nature is to see the futility of expecting a “future happy life” by trying to make one’s physical body the “main focus.”

Một khía cạnh của việc nhận ra bản chất anicca là thấy được sự vô ích của việc kỳ vọng một “đời sống hạnh phúc trong tương lai” bằng cách lấy thân vật lý làm “trọng tâm”.

  • It is essential to keep one’s body in good condition by eating well and engaging in a good exercise program. It is ALSO important to realize that this body will only last about 100 years. On the other hand, the mental body or the gandhabba can last many hundreds of years.

Điều thiết yếu là giữ cho thân thể ở trạng thái tốt bằng cách ăn uống điều độ và có chương trình luyện tập phù hợp. Đồng thời, CŨNG cần nhận ra rằng thân này chỉ tồn tại khoảng 100 năm. Ngược lại, thân tâm hay gandhabba có thể tồn tại hàng trăm năm.

  • Thus one should try to improve the condition of the mental body (gandhabba) by cultivating good gati and getting rid of bad gati.

Vì vậy, ta nên cải thiện tình trạng của thân tâm (gandhabba) bằng cách nuôi dưỡng gati tốt và loại bỏ gati xấu.

  • A detailed analysis of life, in general, is in the “Origin of Life” section.

Phân tích chi tiết về đời sống nói chung có trong mục “Origin of Life”.

Next, “Saññā – What It Really Means.”

Tiếp theo, “Saññā – Ý nghĩa thực sự của nó”.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *