October 12, 2017; revised February 9, 2018; June 8, 2018; June 17, 2022; August 17, 2022; rewritten November 16, 2022; revised January 31, 2023
Ngày 12/10/2017; chỉnh sửa ngày 09/02/2018; ngày 08/06/2018; ngày 17/06/2022; ngày 17/08/2022; viết lại ngày 16/11/2022; chỉnh sửa ngày 31/01/2023
Here we will discuss three critical suttā from the Tipiṭaka to resolve controversial arguments about mundane (anāriya) and supramundane (Ariya) jhāna.
Ở đây chúng ta sẽ bàn về ba bài sutta then chốt trong Tipiṭaka nhằm làm sáng tỏ những tranh luận xoay quanh jhāna thế gian (anāriya) và jhāna siêu thế (Ariya).
- The post, “Tapussa Sutta (AN 9.41)– Akuppā Cetovimutti” clearly explains the difference between Ariya and anāriya jhāna.
Bài viết “Tapussa Sutta (AN 9.41) – Akuppā Cetovimutti” giải thích rõ ràng sự khác biệt giữa jhāna Ariya và anāriya.
- It is interesting to note that some suttā do not specifically label jhāna as Ariya or anāriya. One has to read a given sutta carefully to figure out which jhāna are discussed, but the conclusion always is that anāriya jhāna are worthless by themselves unless used as a platform to attain magga phala; see, “Samādhi, Jhāna, Magga Phala – Introduction.”
Điều đáng chú ý là một số sutta không nêu rõ jhāna được nói đến là Ariya hay anāriya. Người đọc cần xem xét kỹ nội dung của từng sutta để xác định loại jhāna đang được đề cập; tuy nhiên, kết luận nhất quán là anāriya jhāna tự thân không có giá trị, trừ khi được sử dụng làm nền tảng để chứng đắc magga phala; xem “Samādhi, Jhāna, Magga Phala – Introduction.”
- The “Paṭhama Mettā Sutta” also discusses the critical differences between Ariya and anāriya. It shows that a Sotāpanna can cultivate anāriya jhāna (i.e., without removing kāma rāga) and be born in lower Brahma However, unlike those with anāriya jhāna without magga phala, that person will not return to kāma loka.
“Paṭhama Mettā Sutta” cũng bàn đến những khác biệt then chốt giữa Ariya và anāriya. Bài kinh này cho thấy rằng một bậc Sotāpanna vẫn có thể tu tập anāriya jhāna (tức là chưa đoạn trừ kāma rāga) và tái sinh vào các cõi Brahma thấp. Tuy nhiên, khác với những người chỉ có anāriya jhāna mà không có magga phala, vị ấy sẽ không còn trở lại kāma loka.
- Only four jhāna (five according to Abhidhamma analysis) are discussed in the Tipiṭaka. Today, many English texts incorrectly label the “higher arūpāvacara samāpatti” as the fifth through the eighth jhāna. In the Tipiṭaka, they are labeled as ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana, and nevasaññānāsaññāyatana samāpatti and NOT jhānic
Chỉ có bốn jhāna (năm theo phân tích của Abhidhamma) được bàn đến trong Tipiṭaka. Ngày nay, nhiều tài liệu tiếng Anh gán nhãn sai các “arūpāvacara samāpatti cao hơn” là jhāna thứ năm đến thứ tám. Trong Tipiṭaka, chúng được gọi là ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana và nevasaññānāsaññāyatana samāpatti, chứ KHÔNG phải là các trạng thái jhāna.
- The main characteristics and purposes of Ariya (supermundane) jhāna are described in detail in the “WebLink: suttacentral: Jhāna Sutta (Aṅguttara Nikāya 9.36).” The English translation (WebLink: suttacentral: Mental Absorption) at that site is not good, so I will translate most of the sutta However, the Sinhala Translation (WebLink: suttacentral: ඣානනිස්සයන සූත් රය (AN 9.36)) is much better; of course, anicca and anatta are mistranslated there too.
Các đặc điểm và mục đích chính của Ariya jhāna (siêu thế) được trình bày chi tiết trong “WebLink: suttacentral: Jhāna Sutta (Aṅguttara Nikāya 9.36).” Bản dịch tiếng Anh (WebLink: suttacentral: Mental Absorption) ở đó không tốt, vì vậy tôi sẽ dịch phần lớn bài sutta tại đây. Tuy nhiên, bản dịch Sinhala (WebLink: suttacentral: ඣානනිස්සයන සූත් රය (AN 9.36)) tốt hơn nhiều; dĩ nhiên, anicca và anatta cũng bị dịch sai ở đó.
- I will use critical Pāli terms without translating since anyone reading the post will likely understand them. I think that would make it easier to read.
Tôi sẽ giữ nguyên các thuật ngữ Pāli then chốt, không dịch, vì người đọc bài này có khả năng hiểu được; như vậy sẽ giúp việc đọc dễ dàng hơn.
- Now, I will translate the sutta, and the numbers below correspond to the paragraphs in the Pāli version: “WebLink: suttacentral: Jhāna Sutta (Aṅguttara Nikāya 9.36).”
Sau đây tôi sẽ dịch bài sutta, và các số bên dưới tương ứng với các đoạn trong bản Pāli: “WebLink: suttacentral: Jhāna Sutta (Aṅguttara Nikāya 9.36).”
#1. Bhikkhus, I will state the removal of āsava (mental fermentations) via the first jhāna, second jhāna, third jhāna, fourth jhāna, ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana, nevasaññānāsaññāyatana, saññāvedayitanirodha (the last four are the arūpavacara samāpatti states). Also, I have minimized wording to keep the paragraph short, just giving the meaning. [āsava: mental effluent, pollutant, or fermentation (lit: influxes), ‘cankers’, taints, corruptions, intoxicant biases. There is a list of four: the canker of (wrong) views (diṭṭhāsava), of sense-desire (kāmāsava), of (desiring eternal) existence (bhavāsava), and of ignorance (avijjāsava).]
#1. Này các bhikkhu, Ta sẽ trình bày sự đoạn trừ āsava (các lậu hoặc) thông qua tầng jhāna thứ nhất, tầng jhāna thứ hai, tầng jhāna thứ ba, tầng jhāna thứ tư, ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana, nevasaññānāsaññāyatana và saññāvedayitanirodha (bốn trạng thái sau thuộc arūpavacara samāpatti). Tôi đã lược bớt câu chữ để đoạn văn gọn, chỉ nêu ý chính. [āsava: các lậu hoặc, dòng chảy ô nhiễm của tâm; gồm bốn loại: lậu hoặc về tà kiến (diṭṭhāsava), lậu hoặc về dục (kāmāsava), lậu hoặc về hữu (bhavāsava), và lậu hoặc về vô minh (avijjāsava).]
- Thus the primary purpose of jhānic states is to do insight meditation and remove āsava, not to enjoy that jhānic “pleasure” or relief. Nibbāna is attained via the removal of āsava: “The Way to Nibbāna – Removal of Āsavā.”
Như vậy, mục đích chính của các trạng thái jhāna là để tuệ quán và đoạn trừ āsava, chứ không phải để hưởng thụ “lạc” hay sự nhẹ nhõm của jhāna. Nibbāna được chứng đạt thông qua việc đoạn trừ āsava: “The Way to Nibbāna – Removal of Āsavā.”
- There is a lot of important information in the next paragraph.
Đoạn tiếp theo chứa rất nhiều thông tin quan trọng.
#2. Bhikkhus, I declare the removal of āsava (mental fermentations) via the first jhāna. On account of what do I say that? A bhikkhu abstaining from sense pleasures (vivicceva kāmehi), abstaining from akusala, arrives in the vicinity of the first jhāna (upasampajja viharati). He thus contemplates the anicca nature (aniccato), dukkha nature (dukkhato), disease-ridden nature (rogato), cancer-like nature (gandato), arrow-like nature (sallato), painful (aghato), danger-ridden (ābādhato), alien (parato), subject to destruction (palokato), empty (suññato), not-fruitful and leading to helplessness (anatto) OF rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa (rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhārāgataṁ viññāṇagataṁ). He turns his mind away from those phenomena and, having done so, inclines his mind to Nibbāna: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti. [“It is peaceful, it is serene, the expelling of all saṅkhāra, breaking of bonds, removing greed and hate; Nibbāna.”] Thus he gets rid of āsava. Suppose he does not complete the removal of āsava. In that case, he will remove the first five saṁyojana and thus be born opapātika (in Brahma loka) and attain parinibbāna there. He will not return to this world (“No ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā”).
#2. Này các bhikkhu, Ta tuyên bố sự đoạn trừ āsava thông qua tầng jhāna thứ nhất. Vì sao Ta nói như vậy? Một bhikkhu ly dục (vivicceva kāmehi), ly akusala, đạt đến vùng cận kề của tầng jhāna thứ nhất (upasampajja viharati). Vị ấy quán chiếu bản chất anicca, dukkha, tính bệnh hoạn (rogato), tính ung nhọt (gandato), như mũi tên (sallato), đau đớn (aghato), đầy nguy hiểm (ābādhato), xa lạ (parato), hoại diệt (palokato), trống rỗng (suññato), không có tự ngã, dẫn đến bất lực (anatto) CỦA rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa (rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhārāgataṁ viññāṇagataṁ). Vị ấy quay lưng với các pháp đó và hướng tâm đến Nibbāna: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti.‘Đây là an tịnh, đây là cao thượng: sự lắng dịu của mọi saṅkhāra, sự xả bỏ mọi chấp thủ, sự đoạn tận tham ái, ly tham, diệt tận, Nibbāna.’ Nhờ vậy, vị ấy đoạn trừ āsava. Nếu chưa hoàn toàn đoạn trừ āsava, vị ấy sẽ đoạn năm saṁyojana hạ phần, tái sinh opapātika (vào Brahma loka) và chứng parinibbāna tại đó, không còn trở lại thế gian này.
- Thus one cannot attain Ariya jhāna without comprehending the anicca, dukkha, and anatta nature of the pañcakkhandha.
Do đó, không thể chứng đắc Ariya jhāna nếu không thấu hiểu bản chất anicca, dukkha và anatta của pañcakkhandha.
- The standard verse, “..(paṭhamaṁ) jhānaṁ upasampajja viharati..” is commonly translated as, “..enters and remains in the (first) jhāna…” However, “upasampajja viharati” (“upa” + “saŋ” + “pajja”) means “abiding in the vicinity of clarifying and removing ‘saŋ’ ”; of course ‘saŋ’ are lobha, dosa, moha or āsava. The prefix “upa” means “near or close.” For example, “upasampadā” (“upa” + “saŋ” + “padā”) means a bhikkhu has advanced and is getting close to “sorting out ‘saŋ’ ” and thus to magga phala.
Cụm quen thuộc “..(paṭhamaṁ) jhānaṁ upasampajja viharati..” thường được dịch là “chứng và an trú trong tầng jhāna (thứ nhất)…”. Tuy nhiên, “upasampajja viharati” (upa + saŋ + pajja) có nghĩa là “an trú ở vùng cận kề của việc làm sáng tỏ và đoạn trừ ‘saŋ’”; trong đó ‘saŋ’ chính là lobha, dosa, moha hay āsava. Tiếp đầu ngữ “upa” có nghĩa là “gần” hay “cận kề”. Ví dụ, “upasampadā” (upa + saŋ + padā) có nghĩa là một bhikkhu đã tiến lên và đang đến gần việc “giải quyết ‘saŋ’”, và do đó tiến gần đến magga phala.
- Now, let us recapture the three critical steps in the above paragraph: First, one gets to the jhāna by contemplating a long list of faults (ādīnava) of the five aggregates rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa that make up one’s world; see, “The Five Aggregates (Pañcakkhandha).” [ādīnava: bad consequences (suffering), difficult and dangerous situation (trouble), fault (inadvertent mistakes), danger and disaster (distress)]
Giờ đây, hãy tóm lược lại ba bước then chốt trong đoạn trên. Thứ nhất, người ta đạt đến jhāna bằng cách quán chiếu một danh sách dài các lỗi lầm, hiểm họa (ādīnava) của năm uẩn rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa vốn cấu thành thế giới của mỗi người; xem “The Five Aggregates (Pañcakkhandha).” Ādīnava ở đây có nghĩa là các hậu quả xấu, khổ đau, tình trạng nguy hiểm, sai lầm, tai họa và khốn đốn.
- Once one gets to the vicinity of the first jhāna, one can intensify it and be fully absorbed in it by contemplating the relief that is already seen: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti. This is the extra effort involved in cultivating the jhāna versus paññāvimutti [It is peaceful, it is serene, the expelling of all saṅkhāra, breaking of bonds, removing greed and hate; Nibbāna.]
Khi đã đến vùng cận kề của tầng jhāna thứ nhất, người ta có thể làm cho nó mạnh hơn và an trú hoàn toàn trong đó bằng cách quán chiếu sự an ổn đã được thấy: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’. Đây chính là phần nỗ lực bổ sung cần có khi tu tập jhāna, so với con đường paññāvimutti. [Ý nghĩa là: đây là an tịnh, đây là thù thắng — sự lắng dịu của mọi saṅkhāra, sự xả bỏ mọi chấp thủ, sự đoạn tận tham ái, ly tham, diệt tận, Nibbāna.]
- Thirdly, one can get to the higher jhāna by again contemplating the faults (ādīnava) of the five aggregates.
Thứ ba, người ta có thể đạt đến các jhāna cao hơn bằng cách tiếp tục quán chiếu các lỗi lầm, hiểm họa (ādīnava) của năm uẩn.
#3. “Bhikkhus, suppose an archer or archer’s apprentice practice on a straw man or mound of clay. After a while, he could shoot long distances, fire accurate shots in rapid succession, and pierce great masses; in the same way, a bhikkhu abstaining from sensuality, abstaining from akusala, arrives in the vicinity (upasampajja) of the first jhāna.”
#3. “Này các bhikkhu, ví như một cung thủ hay học trò tập bắn vào hình nộm bằng rơm hay mô đất sét. Sau một thời gian, người ấy có thể bắn xa, bắn chính xác liên tiếp, và xuyên thủng những khối lớn; cũng vậy, một bhikkhu ly dục, ly akusala, đạt đến vùng cận kề (upasampajja) của tầng jhāna thứ nhất.”
- The rest is essentially the same as in #2 above from that point onward about how āsava are removed by contemplating those faults (ādīnava) of the five aggregates, to the following confirmation statement at the end of the paragraph to emphasize the following: “Bhikkhus, I surely declare removal of āsava (mental fermentations) via the first jhāna.”
Phần còn lại về cơ bản giống như đoạn #2 ở trên, mô tả cách đoạn trừ āsava thông qua việc quán chiếu các lỗi lầm (ādīnava) của năm uẩn, và kết thúc bằng lời xác quyết nhằm nhấn mạnh: “Này các bhikkhu, Ta chắc chắn tuyên bố sự đoạn trừ āsava thông qua tầng jhāna thứ nhất.”
#4. This paragraph repeats the same paragraph of #2 above, for the second, third, and fourth jhāna. It is interesting that even at the fourth jhāna, one could only be guaranteed to become an Anāgāmī. However, as mentioned in #2, one could attain Arahanthood even from the first jhāna if all āsava are removed. That holds for any jhāna through the fourth.
#4. Đoạn này lặp lại nội dung của đoạn #2 cho tầng jhāna thứ hai, thứ ba và thứ tư. Điều đáng chú ý là ngay cả ở tầng jhāna thứ tư, người ta cũng chỉ được bảo đảm trở thành Anāgāmī. Tuy nhiên, như đã nêu ở đoạn #2, người ta vẫn có thể chứng quả vị Arahant ngay từ tầng jhāna thứ nhất nếu toàn bộ āsava đã được đoạn trừ. Điều này đúng với bất kỳ jhāna nào cho đến tầng jhāna thứ tư.
#5. The same verse as #3 is repeated for the second, third, and fourth jhāna, with the paragraph ending, “..Bhikkhus, I surely declare the removal of āsava (mental fermentations) via the fourth jhāna.”
#5. Câu kệ giống như ở đoạn #3 được lặp lại cho tầng jhāna thứ hai, ba và bốn , và đoạn kết thúc bằng: “Này các bhikkhu, Ta chắc chắn tuyên bố sự đoạn trừ āsava thông qua bốn tầng jhāna.”
#6, #7. The paragraphs in #2 and #3 for the first jhāna are now repeated for the first arūpāvacara samāpatti: ākāsānañcāyatana.
#6, #7. Các đoạn #2 và #3 dành cho tầng jhāna thứ nhất nay được lặp lại cho arūpāvacara samāpatti thứ nhất: ākāsānañcāyatana.
#8, #9. The paragraphs in #2 and #3 for the first jhāna are now repeated for the second and third arūpāvacara samāpatti: viññāṇañcāyatana and ākiñcaññāyatana. Again, it is interesting that even at such higher arūpāvacara jhānā, one could only be guaranteed to become an Anāgāmī.
#8, #9. Các đoạn #2 và #3 của tầng jhāna thứ nhất tiếp tục được lặp lại cho arūpāvacara samāpatti thứ hai và thứ ba: viññāṇañcāyatana và ākiñcaññāyatana. Một lần nữa, điều đáng chú ý là ngay cả ở các tầng arūpāvacara cao như vậy, người ta cũng chỉ được bảo đảm trở thành Anāgāmī.
#10. “As for the two saññāsamāpatti āyatana – nevasaññā nā saññāyatana samāpatti and saññāvedayitanirodho – they remove āsava and will lead to the faultless state of Nibbāna.”
#10. “Còn đối với hai saññāsamāpatti āyatana — nevasaññā nā saññāyatana samāpatti và saññāvedayitanirodho — thì chúng đoạn trừ āsava và dẫn đến trạng thái không còn lỗi lầm của Nibbāna.”
- Thus if one gets to the highest arūpāvacara Ariya samāpatti, one will attain the Arahantship, and also will be able to get to nirodha samāpatti (saññāvedayitanirodho).
Như vậy, nếu đạt đến arūpāvacara Ariya samāpatti cao nhất, người ấy sẽ chứng quả vị Arahant, và cũng có thể đạt nirodha samāpatti (saññāvedayitanirodho).
- That is, in essence, the complete sutta, which provides many key insights that have been hidden surprisingly. I almost fell off my chair when I first read it. I am unsure how and why modern translators failed to understand the importance of this sutta.
Trên đây, về bản chất, là toàn bộ nội dung của sutta, vốn cung cấp rất nhiều tuệ kiến then chốt nhưng lại bị che khuất một cách đáng ngạc nhiên. Khi lần đầu đọc sutta này, tôi gần như bật khỏi ghế. Tôi không rõ vì sao và bằng cách nào mà các dịch giả hiện đại lại không nhận ra tầm quan trọng của sutta này.
- Then I started reading more suttā and realized that these critical pieces are in many other suttā. See, for example, “WebLink: suttacentral: Cūḷa Vvedalla Sutta (MN 44)” AND “WebLink: suttacentral: Kāyagatāsati Sutta (MN 119).”
Sau đó, tôi bắt đầu đọc thêm nhiều suttā khác và nhận ra rằng những điểm then chốt này còn xuất hiện trong rất nhiều bài kinh khác. Ví dụ, xem “WebLink: suttacentral: Cūḷa Vvedalla Sutta (MN 44)” và “WebLink: suttacentral: Kāyagatāsati Sutta (MN 119).”
- We can learn a lot of critical aspects of Ariya jhāna from this critical sutta. Let us begin with the fact that one gets to the vicinity (upasampajja) of the first jhāna by contemplating the faults (ādīnava) of pañcakkhandha (rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa); once getting there, one further removes āsava by the same process.
Chúng ta có thể học được rất nhiều khía cạnh then chốt của Ariya jhāna từ bài sutta quan trọng này. Trước hết, cần thấy rằng người ta đạt đến vùng cận kề (upasampajja) của tầng jhāna thứ nhất bằng cách quán chiếu các lỗi lầm, hiểm họa (ādīnava) của pañcakkhandha (rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa); khi đã đạt đến đó, người ta tiếp tục đoạn trừ āsava cũng bằng chính tiến trình ấy.
- Thus, one gets to jhāna with insight meditation (Vipassanā) on the unsuitability (faults of) kāmāvacara states, and then once getting to jhāna, starts doing Vipassanā on the unsuitability of any jhānic state to transcend that state.
Như vậy, người ta đạt đến jhāna nhờ tuệ quán (Vipassanā) về tính không thích hợp (các lỗi lầm) của các trạng thái kāmāvacara; rồi khi đã đạt đến jhāna, lại tiếp tục thực hành Vipassanā để quán chiếu tính không thích hợp của chính trạng thái jhāna đó, nhằm vượt qua nó.
- There is a long list of such faults (ādīnava) (from #1): anicca nature (aniccato), dukkha nature (dukkhato), disease-ridden nature (rogato), cancer-like nature (gandato), arrow-like nature (sallato), painful (aghato), danger-ridden (ābādhato), alien (parato), subject to destruction (palokato), an empty (suññato), not-fruitful and leading to helplessness (anatto).
Có một danh sách dài các lỗi lầm, hiểm họa (ādīnava) như vậy (từ mục #1): bản chất anicca, bản chất dukkha, tính bệnh hoạn (rogato), tính ung nhọt (gandato), như mũi tên (sallato), đau đớn (aghato), đầy nguy hiểm (ābādhato), xa lạ (parato), hoại diệt (palokato), trống rỗng (suññato), không mang lại kết quả chân thật và dẫn đến bất lực (anatto).
- Therefore, the main goal at any given Ariya jhāna is to contemplate all those faults (ādīnava) of that state — and move to the next higher state. If a Noble Person goes through the four rūpāvacara jhānic states, all arūpāvacara samāpatti up to the neva saññā nā saññā and attains Nibbāna, they are said to have attained akuppā cetovimutti. See “Nirodha Samāpatti, Phala Samāpatti, Jhāna, and Jhāna Samāpatti.”
Do đó, mục tiêu chính tại bất kỳ Ariya jhāna nào là quán chiếu đầy đủ tất cả các lỗi lầm (ādīnava) của trạng thái ấy — và tiến lên trạng thái cao hơn. Nếu một bậc Thánh lần lượt đi qua bốn trạng thái rūpāvacara jhāna, tất cả các arūpāvacara samāpatti cho đến neva saññā nā saññā và chứng Nibbāna, thì vị ấy được nói là đã chứng akuppā cetovimutti. Xem “Nirodha Samāpatti, Phala Samāpatti, Jhāna, and Jhāna Samāpatti.”
- Of course, one could remove all āsava and attain Nibbāna from any lower jhāna.
Dĩ nhiên, người ta cũng có thể đoạn trừ toàn bộ āsava và chứng Nibbāna ngay từ bất kỳ tầng jhāna thấp hơn nào.
- If one attains Nibbāna from a lower jhānic state (below the highest arūpāvacara samāpatti), one is said to attain paññāvimutti.
Nếu chứng Nibbāna từ một trạng thái jhāna thấp hơn (chưa đến arūpāvacara samāpatti cao nhất), thì được gọi là chứng paññāvimutti.
- While the word “jhāna” has come to everyday use, a better word is “dhyāna” (ඣාන in Pāli and දැවීම in Sinhala, meaning “burning”).
Mặc dù từ “jhāna” đã trở nên quen dùng trong đời sống thường ngày, nhưng từ chính xác hơn là “dhyāna” (ඣාන trong Pāli và දැවීම trong Sinhala, mang nghĩa là “đốt cháy”).
- We will stick with the word “jhāna” instead of “dhyana” since it is commonly used. It is just helpful to know where the meaning comes from.
Chúng ta vẫn sẽ dùng từ “jhāna” thay vì “dhyana” vì nó đã quen thuộc; điều hữu ích ở đây chỉ là hiểu được nguồn gốc ý nghĩa của thuật ngữ này.
- One can think clearly in any jhāna. Even intermittent vitakka/vicāra (“wheeling around” with stray thoughts) will be absent after the second jhāna, i.e., one is in the avitakka/avicāra (free of vitakka/vicāra) mode after the second jhāna; I will discuss jhānaṅga or jhāna factors in a future post.
Trong bất kỳ jhāna nào, tâm cũng có thể suy xét rõ ràng. Ngay cả vitakka/vicāra gián đoạn (sự “xoay vòng” của các ý nghĩ vẩn vơ) cũng sẽ không còn sau tầng jhāna thứ hai; tức là sau tầng jhāna thứ hai, tâm ở trạng thái avitakka/avicāra (không còn vitakka/vicāra). Tôi sẽ bàn về jhānaṅga hay các yếu tố của jhāna trong một bài viết sau.
- This is why Ariya jhāna is helpful in insight (Vipassanā) meditation. The mind becomes calm when more and more saṅkhāra are removed as one proceeds to higher jhāna (and samāpatti) states.
Đây là lý do vì sao Ariya jhāna rất hữu ích cho tuệ quán (Vipassanā). Khi tiến lên các trạng thái jhāna (và samāpatti) cao hơn, ngày càng nhiều saṅkhāra được đoạn trừ, và tâm trở nên ngày càng an tịnh.
- Even though the relief experienced in Ariya jhāna is the only “enjoyment” recommended by the Buddha, that is not the primary purpose of Ariya jhāna. That is because if one gets attached to a jhāna, one cannot move up to the higher one. In any case, it is mainly those who get to anāriya jhāna who get attached to them (however, it is possible to attain any stage of magga phala even with anāriya jhāna or even without any jhāna). If one has seen the anicca nature, one will not get attached to a jhāna.
Mặc dù sự an lạc trải nghiệm trong Ariya jhāna là loại “hưởng thụ” duy nhất được Đức Phật khuyến khích, nhưng đó không phải là mục đích chính của Ariya jhāna. Bởi vì nếu dính mắc vào một jhāna, thì không thể tiến lên tầng jhāna cao hơn. Trên thực tế, chính những người đạt anāriya jhāna mới thường bị dính mắc vào chúng (tuy vậy, vẫn có thể chứng bất kỳ tầng magga phala nào ngay cả khi chỉ có anāriya jhāna, hoặc thậm chí không có jhāna nào). Khi đã thấy rõ bản chất anicca, người ta sẽ không còn dính mắc vào jhāna.
- In that context, in a previous post, it was discussed that any jhānic state is a mental state corresponding to “this world”; see “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna).”
Trong bối cảnh đó, ở một bài viết trước đã bàn rằng bất kỳ trạng thái jhāna nào cũng là một trạng thái tâm thuộc về “thế gian này”; xem “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna).”
- Pañcanīvaraṇa are also completely removed at the first Ariya jhāna. From the WebLink: suttacentral: Mahāvedalla Sutta (MN 43): “.. Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannāssa bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti...”
Pañcanīvaraṇa cũng được đoạn trừ hoàn toàn ngay tại Ariya jhāna thứ nhất. Theo WebLink: suttacentral: Mahāvedalla Sutta (MN 43): “.. Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannāssa bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti...”
- Many suttā clearly state such conditions for the first supramundane jhāna.
Nhiều suttā đã nêu rõ các điều kiện như vậy đối với jhāna siêu thế thứ nhất.
- In contrast, neither the five saṁyojana nor the pañcanīvaraṇa is removed in any mundane jhāna. The reasons are apparent: none of the kilesa (klesha/defilements) can be removed by taking a neutral object as the ārammaṇa.
Ngược lại, trong bất kỳ jhāna thế gian nào, cả năm saṁyojana lẫn pañcanīvaraṇa đều không được đoạn trừ. Lý do rất rõ ràng: không một kilesa nào có thể bị đoạn trừ khi lấy một đối tượng trung tính làm ārammaṇa.
- This is why the Buddha told Ven. Saddhā: “..“Ājānīyajhāyitaṁ kho, saddhā, jhāya; mā khaḷuṅkajhāyitaṁ..”, OR “Saddhā, cultivate the ajānīya (thoroughbred horse) jhāna, not the khalunka (mule) jhāna”: WebLink: suttacentral: Saddhā Sutta (Aṅguttara Nikāya 11.9).
Chính vì vậy mà Đức Phật đã dạy Trưởng lão Saddhā: “Hỡi Saddhā, hãy tu tập ajānīya jhāna (jhāna của tuấn mã), chớ tu tập khalunka jhāna (jhāna của con la)”; xem WebLink: suttacentral: Saddhā Sutta (Aṅguttara Nikāya 11.9).
- In the WebLink: suttacentral: Sutta Central translation, khalunka is a colt (a young horse). But the correct translation is a mule. As described in the sutta, a mule is lazy and useless compared to a thoroughbred horse.
Trong bản dịch trên WebLink: suttacentral: Sutta Central translation, khalunka được dịch là ngựa con (colt). Tuy nhiên, cách dịch đúng là con la. Như được mô tả trong bài sutta, con la lười biếng và vô dụng so với một con tuấn mã.
- As described in the sutta, one who cultivates mundane jhāna takes worldly objects (kasiṇa, breath) as ārammaṇa, and even though they can attain jhāna, they will not have the respect of the devas who can see the ārammaṇa.
Như được mô tả trong sutta, người tu tập jhāna thế gian lấy các đối tượng thế gian (kasiṇa, hơi thở) làm ārammaṇa; dù có thể chứng jhāna, họ cũng không được các deva kính trọng, vì các deva có thể thấy rõ ārammaṇa ấy.
- On the other hand, devas cannot see the ārammaṇa (Nibbāna) of those who have cultivated Ariya jhāna, and they pay respect to him from a distance.
Ngược lại, các deva không thể thấy ārammaṇa (Nibbāna) của những người tu tập Ariya jhāna, và vì vậy họ kính lễ vị ấy từ xa.
- Therefore, there is a HUGE difference in HOW one arrives at a given jhāna.
Do đó, có một sự khác biệt RẤT LỚN trong CÁCH mà một người đạt đến một jhāna nhất định.
- One using the anāriya path gets to jhānā by focusing one’s mind on a mundane object, i.e., an object belonging to this world (for example, one’s breath or a kasiṇa object) and/or by contemplating mundane moral thoughts (benevolent, kind, etc.); we will discuss this in the next post. [See “Nirodha Samāpatti, Phala Samāpatti, Jhāna, and Jhāna Samāpatti” #9 on What Is a Jhāna?]
Người theo con đường anāriya đạt jhāna bằng cách tập trung tâm vào một đối tượng thế gian, tức là một đối tượng thuộc về thế giới này (ví dụ như hơi thở hoặc một đối tượng kasiṇa) và/hoặc bằng cách quán chiếu các ý nghĩ đạo đức thế gian (từ ái, thiện lành, v.v.); nội dung này sẽ được bàn trong bài viết tiếp theo.[Xem “Nirodha Samāpatti, Phala Samāpatti, Jhāna, and Jhāna Samāpatti” mục #9 về Jhāna là gì?]
- On the other hand, one on the Noble Path reaches a jhāna by contemplating Nibbāna, i.e., the anicca, dukkha, and anatta nature of this world of 31 realms.
Ngược lại, người đi trên Thánh Đạo đạt jhāna bằng cách quán chiếu Nibbāna, tức là quán bản chất anicca, dukkha và anatta của thế giới gồm 31 cõi.
- However, jhāna sukha is the only sukha recommended by the Buddha since sensory pleasures will bind one to the kāma loka. It is said that some paññāvimutta Arahants cultivate jhāna after attaining Arahanthood.
Tuy nhiên, jhāna sukha là loại sukha duy nhất được Đức Phật khuyến khích, vì các lạc thú giác quan sẽ trói buộc chúng sinh vào kāma loka. Người ta nói rằng một số bậc Arahant thuộc loại paññāvimutta vẫn tu tập jhāna sau khi đã chứng quả vị Arahant.
- Also see the previous post where it is discussed how Ven. Moggallāna cultivated the first jhāna after attaining the Sotāpanna stage: “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna).”
Cũng nên xem bài viết trước, trong đó bàn về việc Trưởng lão Moggallāna đã tu tập tầng jhāna thứ nhất như thế nào sau khi chứng tầng Sotāpanna: “Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna).”
- One who can get fully absorbed in the first Ariya jhāna will be born in the Suddhāvāsa realms of the rūpa loka, and will not come back to the kāma loka, i.e., one is an Anāgāmī, as clearly stated in the Jhāna Sutta and several other suttā.
Người nào có thể hoàn toàn an trú trong sơ Ariya jhāna sẽ tái sinh vào các cõi Suddhāvāsa thuộc rūpa loka và sẽ không còn trở lại kāma loka; tức là người ấy là một bậc Anāgāmī, như đã được nêu rõ trong Jhāna Sutta và nhiều suttā khác.
- On the other hand, one who cultivates mundane first jhāna will be born in the first rūpāvacara Brahma realm in the next birth, but in later rebirths could even be born in the apāyā (since kāma rāga was only suppressed, not removed).
Ngược lại, người tu tập tầng jhāna thế gian thứ nhất sẽ tái sinh vào cõi Brahma rūpāvacara thứ nhất trong đời sau; nhưng trong các lần tái sinh về sau, người ấy thậm chí vẫn có thể sinh vào các cõi apāyā (vì kāma rāga chỉ bị đè nén chứ chưa được đoạn trừ).
- One can get into mundane (anāriya) jhāna via breath or kasiṇa meditation, and one could do Vipassanā from mundane jhānic
Người ta có thể đạt jhāna thế gian (anāriya) thông qua thiền hơi thở hoặc thiền kasiṇa, và cũng có thể thực hành Vipassanā từ các trạng thái jhāna thế gian.
- But the problem is that people get addicted to those states and cannot see their anicca
Tuy nhiên, vấn đề là nhiều người bị nghiện các trạng thái ấy và không còn thấy được bản chất anicca của chúng.
- In addition to the above suttā (and more that I found) on Ariya jhāna, I found other suttā that discussed anāriya jhāna. In none of these suttā was a specific label saying Ariya jhāna or anāriya jhāna. However, one can see which is which when reading text.
Ngoài các suttā nói về Ariya jhāna nêu trên (và nhiều bài khác mà tôi tìm được), tôi còn thấy các suttā bàn về anāriya jhāna. Trong các suttā này, không hề có nhãn ghi rõ là Ariya jhāna hay anāriya jhāna. Tuy nhiên, khi đọc kỹ nội dung, người ta có thể phân biệt được đâu là loại nào.
- In the following reference, it is clearly stated that kāma rāga is only suppressed (vikkhambhanato) in all rūpāvacara and arūpāvacara jhāna. On the other hand, it states that kāma rāga is removed (samucchedato) in stages via magga phala.
Trong tài liệu dẫn dưới đây, có nêu rõ rằng kāma rāga chỉ bị đè nén (vikkhambhanato) trong tất cả các rūpāvacara và arūpāvacara jhāna. Ngược lại, kāma rāga được đoạn trừ (samucchedato) theo từng giai đoạn thông qua magga phala.
- The difference between vikkhambhana pahāna and samuccheda pahāna is discussed in, “Suffering in This Life – Role of Mental Impurities.”
Sự khác biệt giữa vikkhambhana pahāna và samuccheda pahāna được bàn trong bài “Suffering in This Life – Role of Mental Impurities.”
The following are the two relevant passages from the Khuddaka Nikāya, Mahāniddesa, Aṭṭhakavagga:
Sau đây là hai đoạn kinh liên quan trong Khuddaka Nikāya, Mahāniddesa, Aṭṭhakavagga:
WebLink: suttacentral: 1. Kāmasuttaniddesa (Mnd 1). There is no English translation there, but the Sinhala translation is given: WebLink: suttacentral: කාම සූත් ර නිර්දෙශය (Mnd 1).
WebLink: suttacentral: 1. Kāmasuttaniddesa (Mnd 1). Hiện không có bản dịch tiếng Anh, nhưng có bản dịch Sinhala: WebLink: suttacentral: කාම සූත් ර නිර්දෙශය (Mnd 1).
Paṭhamaṁ jhānaṁ bhāventopi vikkhambhanato kāme parivajjeti … pe … dutiyaṁ jhānaṁ bhāventopi … tatiyaṁ jhānaṁ bhāventopi … catutthaṁ jhānaṁ bhāventopi … ākāsānañcāyatanasamāpattiṁ bhāventopi … viññāṇañcāyatanasamāpattiṁ bhāventopi … ākiñcaññāyatanasamāpattiṁ bhāventopi … nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṁ bhāventopi vikkhambhanato kāme parivajjeti. Evaṁ vikkhambhanato kāme parivajjeti.
- Translated: “kāma” is suppressed (vikkhambhanato) in the first jhāna, … up to nevasaññānāsaññāyatana (the highest arūpāvacara samāpatti). As we saw above, kāma is removed even before getting to the first Ariya jhāna. Thus, only anāriya (mundane) jhāna are meant here.
Dịch: “kāma” chỉ bị đè nén (vikkhambhanato) trong tầng jhāna thứ nhất cho đến nevasaññānāsaññāyatana (tức arūpāvacara samāpatti cao nhất). Như đã thấy ở trên, kāma đã được đoạn trừ ngay cả trước khi đạt đến Ariya jhāna thứ nhất. Vì vậy, đoạn này chỉ đang nói đến jhāna thế gian (anāriya).
- See “WebLink: suttacentral: Tapussa Sutta (AN 9.41)” for another example.
Xem “WebLink: suttacentral: Tapussa Sutta (AN 9.41)” để có thêm một ví dụ khác.
Kathaṁ samucchedato kāme parivajjeti? Sotāpattimaggaṁ bhāventopi apāyagamanīye kāme samucchedato parivajjeti, sakadāgāmimaggaṁ bhāventopi oḷārike kāme samucchedato parivajjeti, anāgāmimaggaṁ bhāventopi anusahagate kāme samucchedato parivajjeti, arahattamaggaṁ bhāventopi sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ asesaṁ nissesaṁ samucchedato kāme parivajjeti. Evaṁ samucchedato kāme parivajjetīti—yo kāme parivajjeti.
- Translated: “kāma” is removed (samucchedato) in stages via the Sotāpanna and Sakadāgāmī stages and is removed at the Anāgāmī stage; it is removed without a trace at the Arahant
Dịch: “kāma” được đoạn trừ (samucchedato) theo từng giai đoạn qua các tầng Sotāpanna và Sakadāgāmī, và được đoạn trừ ở tầng Anāgāmī; đến tầng Arahant thì kāma được đoạn trừ hoàn toàn, không còn dấu vết.
- The following sutta clearly states the difference between Ariya and anāriya jhānā.
Sutta sau đây nêu rõ sự khác biệt giữa Ariya và anāriya jhāna.
WebLink: suttacentral: Paṭhamanānākaraṇa Sutta (AN 4.123): “Idha, bhikkhave, ekacco puggalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So tadassādeti, taṁ nikāmeti, tena ca vittiṁ āpajjati. Tattha ṭhito tadadhimutto tabbahula-vihārī aparihīno kālaṁ kurumāno brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Brahmakāyikānaṁ, bhikkhave, devānaṁ kappo āyuppamāṇaṁ. Tattha puthujjano yāvatāyukaṁ ṭhatvā yāvatakaṁ tesaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ taṁ sabbaṁ khepetvā nirayampi gacchati tiracchānayonimpi gacchati pettivisayampi gacchati. Bhagavato pana sāvako tattha yāvatāyukaṁ ṭhatvā yāvatakaṁ tesaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ taṁ sabbaṁ khepetvā tasmiṁyeva bhave parinibbāyati. Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso ayaṁ adhippayāso idaṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanena, yadidaṁ gatiyā upapattiyā sati.”
WebLink: suttacentral: Paṭhamanānākaraṇa Sutta (AN 4.123): “Idha, bhikkhave, ekacco puggalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So tadassādeti, taṁ nikāmeti, tena ca vittiṁ āpajjati. Tattha ṭhito tadadhimutto tabbahula-vihārī aparihīno kālaṁ kurumāno brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Brahmakāyikānaṁ, bhikkhave, devānaṁ kappo āyuppamāṇaṁ. Tattha puthujjano yāvatāyukaṁ ṭhatvā yāvatakaṁ tesaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ taṁ sabbaṁ khepetvā nirayampi gacchati tiracchānayonimpi gacchati pettivisayampi gacchati. Bhagavato pana sāvako tattha yāvatāyukaṁ ṭhatvā yāvatakaṁ tesaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ taṁ sabbaṁ khepetvā tasmiṁyeva bhave parinibbāyati. Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso ayaṁ adhippayāso idaṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanena, yadidaṁ gatiyā upapattiyā sati.”
Translated: “There is the case where an individual, withdrawn from sensuality (kāma), withdrawn from akusala, enters & remains in the first jhāna: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation. He savors that, longs for that, and finds satisfaction through that. Staying there—fixed on that, dwelling there often, not losing the jhāna—then when he dies, he is born with the devas of Brahma’s retinue. The devas of Brahma’s retinue, monks, have a life span of an eon. A run-of-the-mill person, having stayed there, having used up all the life-span of those devas, goes to hell, to the animal realm, or the state of the hungry ghosts. But a disciple of the Blessed One, having stayed there, having used up all the life-span of those devas, attains Parinibbāna. This, monks, is the difference, this the distinction, this the distinguishing factor, between a Noble disciple and a normal person who had not heard the Noble Truths (assutavatā puthujjanena), in regards to the gati and birth.”
Dịch: “Có trường hợp một người, ly dục (kāma), ly akusala, chứng và an trú trong tầng jhāna thứ nhất: hỷ và lạc do viễn ly sinh, có tầm và tứ. Người ấy thưởng thức trạng thái ấy, ưa thích nó, và lấy đó làm chỗ thỏa mãn. An trú ở đó—chuyên chú vào đó, thường xuyên sống với nó, không đánh mất jhāna—khi mạng chung thì sinh vào hàng deva thuộc chúng Phạm thiên. Này các bikkhu, thọ mạng của các devas thuộc Brahma là một kiếp. Kẻ phàm phu, sau khi an trú ở đó và sống hết thọ mạng của các deva ấy, sẽ rơi vào địa ngục, súc sinh hoặc ngạ quỷ. Nhưng đệ tử của Đức Thế Tôn, sau khi an trú ở đó và sống hết thọ mạng của các deva ấy, sẽ chứng Parinibbāna. Này các bikkhu, đây chính là sự khác biệt, là điểm phân biệt, là yếu tố phân định giữa bậc Thánh đệ tử và người phàm chưa từng nghe các Thánh Đế (assutavatā puthujjanena), xét về gati và sự tái sinh.”
- When one attains the first Ariya jhāna, one has become an Anāgāmī. He/she will be born in that Brahma realm and attain Parinibbāna there, as stated in the above sutta.
Khi một người chứng đắc Ariya jhāna thứ nhất, người ấy đã trở thành Anāgāmī. Vị ấy sẽ tái sinh vào cõi Brahma đó và chứng Parinibbāna tại đó, như được nêu trong sutta trên.
- In other words, kāma rāga must be REMOVED entirely to get to the first Ariya jhāna. It is only temporarily suppressed (vikkhambhana pahāna) for the anāriya jhāna.
Nói cách khác, kāma rāga phải được ĐOẠN TRỪ hoàn toàn để đạt đến Ariya jhāna thứ nhất. Đối với anāriya jhāna, kāma rāga chỉ bị đè nén tạm thời (vikkhambhana pahāna).
- A Sotāpanna who gets to the first anāriya jhāna has not removed kāma rāga. But he/she will not come back to the kāma loka (will get the Anāgāmi phala moment in the Brahma loka and attain Nibbāna there). So, he/she is still an Anāgāmī (“na” + “āgami” or not coming back).
Một bậc Sotāpanna đạt đến anāriya jhāna thứ nhất vẫn chưa đoạn trừ kāma rāga. Tuy nhiên, vị ấy sẽ không còn trở lại kāma loka (sẽ chứng khoảnh khắc Anāgāmī quả tại cõi Brahma và chứng Nibbāna tại đó). Do vậy, vị ấy vẫn là Anāgāmī (“na” + “āgami”, nghĩa là không trở lại).
- Even some followers of Waharaka Thero in Sri Lanka do not seem to understand this point. However, Waharaka Thero has explained this in the following short desanā (in Sinhala): “WebLink: Ariya and Anāriya Jhāna (Audio).”
Ngay cả một số đệ tử của Waharaka Thero tại Sri Lanka dường như cũng chưa hiểu rõ điểm này. Tuy nhiên, Waharaka Thero đã giải thích rõ trong bài desanā ngắn sau (bằng tiếng Sinhala): “WebLink: Ariya and Anāriya Jhāna (Audio).”
