Icca, Nicca, Anicca – Important Connections / Cca, Nicca, Anicca – Những Kết Nối Quan Trọng

June 2, 2020; revised June 3, 2020; August 25, 2022

Ngày 02/06/2020; sửa ngày 03/06/2020; ngày 25/08/2022

Icca, Nicca, Anicca

Icca, Nicca, Anicca

  1. We will discuss the critical relationships among icca, nicca, and anicca. That will help us understand the true meaning of anicca.

Chúng ta sẽ thảo luận những mối liên hệ then chốt giữa icca, nicca và anicca. Điều đó sẽ giúp hiểu rõ ý nghĩa thật sự của anicca.

  • The pronunciations of those in that order:

Cách phát âm của các từ đó theo thứ tự:

WebLink: mp3: Icca, Nicca, and Anicca

  • It is important to note that the Pāli words in the Tipiṭaka are NOT written how they are pronounced. See ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1” and ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 2.”

Điều quan trọng cần lưu ý là các từ Pāli trong Tipiṭaka KHÔNG được viết theo cách chúng được phát âm. Xem ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1” và ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 2.”

  • Very briefly, the meanings are as follows. Icca means desire. If we believe that it is possible to fulfill that desire and be happy, that is the perception of nicca. The opposite of nicca is anicca.

Tóm tắt ngắn gọn: icca nghĩa là ham muốn. Nếu ta tin rằng có thể thỏa mãn ham muốn đó và trở nên hạnh phúc, đó là nhận thức nicca. Ngược lại của nicca là anicca.

  • Buddha taught us that our world is of anicca That means we will never be content with “any existence in this world.” We may be able to fulfill some expectations in this life, but all that will have to be given up at death. Then we start all over in new birth.

Đức Phật dạy rằng thế giới của chúng ta mang bản chất anicca. Điều đó nghĩa là ta sẽ không bao giờ thật sự mãn nguyện với “bất kỳ sự tồn tại nào trong thế giới này.” Ta có thể thỏa mãn một số mong cầu trong đời này, nhưng tất cả đều phải buông bỏ lúc chết. Rồi ta lại bắt đầu tất cả trong một lần tái sinh mới.

  • We note that the word “icca” plays a key role in Paṭicca Samuppāda. The word “Paṭicca” comes from “paṭi” + “icca.” Future existences in the rebirth process have origins in “attaching to worldly pleasures with desire (icca).” See, “Paṭicca Samuppāda – ‘Paṭi+ichcha’ + ‘Sama+uppāda’.”

Ta lưu ý rằng từ “icca” giữ vai trò quan trọng trong Paṭicca Samuppāda. Từ “Paṭicca” đến từ “paṭi” + “icca.” Sự tồn tại tương lai trong vòng tái sinh bắt nguồn từ “bám víu vào các khoái lạc thế tục bằng sự ham muốn (icca).” Xem, “Paṭicca Samuppāda – ‘Paṭi+ichcha’ + ‘Sama+uppāda’.”

Icca and Anicca Sometimes Written as Iccha and Aniccha

Icca và Anicca Đôi Khi Được Viết Thành Iccha và Aniccha

  1. The word “iccha” with the emphasis on the last syllable indicates “strong icca” or “strong desire.” In the same way, “aniccha” with the emphasis on the last syllable, emphasizes the “anicca

Từ “iccha” với trọng âm ở âm cuối biểu thị “icca mạnh” hay “ham muốn mạnh.” Tương tự, “aniccha” với trọng âm ở âm cuối nhấn mạnh “bản chất anicca.”

  • In the Sinhala language, the words icca, anicca, and iccha, aniccha are written as ඉච්ච, අනිච්ච, and ඉච්ඡ, අනිච්ඡ.

Trong tiếng Sinhala, các từ icca, anicca và iccha, aniccha được viết là ඉච්ච, අනිච්චඉච්ඡ, අනිච්ඡ.

  • In the Tipiṭaka, mostly iccha, nicca, and anicca Note that iccha is normally used in Pāli as “icchā.” Thus, the “strong version” is used only with iccha. But there are a few exceptions. We saw one such exception in “icca” in #1; another for “aniccha” in #14 below.

Trong Tipiṭaka, phần lớn là dạng iccha, nicca và anicca. Lưu ý rằng iccha thường xuất hiện trong Pāli dưới dạng “icchā.” Vì vậy, dạng “mạnh” chỉ dùng với iccha. Tuy nhiên, có một vài ngoại lệ. Ta đã thấy một ngoại lệ với “icca” ở mục #1; và một ngoại lệ khác với “aniccha” ở mục #14 bên dưới.

  • The five words icca, anicca, iccha, icchā, and aniccha are pronounced:

Năm từ icca, anicca, iccha, icchā và aniccha được phát âm như sau:

WebLink: mp3: Icca, Anicca, Iccha, Icchā, Aniccha

Icchā and Taṇhā Closely Related

Icchā và Taṇhā Có Mối Quan Hệ Mật Thiết

  1. The “WebLink: suttacentral: Kalahavivādasuttaniddesa (Mnd 11)” of the mahāniddesa of the Tipiṭaka states, “Icchā vuccati taṇhā” (see section SC88) or “Icchā means taṇhā.” That is because icchā leads to taṇhā.

WebLink: suttacentral: Kalahavivādasuttaniddesa (Mnd 11)” trong phần mahāniddesa của Tipiṭaka ghi rằng “Icchā vuccati taṇhā” (xem mục SC88) nghĩa là “Icchā có nghĩa là taṇhā.” Đó là vì icchā dẫn đến taṇhā.

  • When we attach (taṇhā) to something due to our liking for it (icchā), we tend to keep it close in our minds (upādāna.) Paṭicca Samuppāda describes how that leads to future suffering. See, “Icchā (Cravings) Lead to Upādāna and to Eventual Suffering.”

Khi ta bám víu (taṇhā) vào một đối tượng do ta thích nó (icchā), ta có xu hướng giữ nó chặt trong tâm (upādāna). Paṭicca Samuppāda mô tả cách điều đó dẫn đến khổ trong tương lai. Xem, “Icchā (Cravings) Lead to Upādāna and to Eventual Suffering.”

  • The use of many Pāli terms could be confusing to some. It may be helpful to print the relevant posts mentioned and refer to them as needed.

Việc dùng nhiều thuật ngữ Pāli có thể gây khó hiểu cho một số người. Sẽ hữu ích nếu in các bài viết liên quan được nhắc đến và tham khảo khi cần.

What Do We Desire (Icchā)?

Chúng Ta Khao Khát Điều Gì (Icchā)?

  1. Our desires belong to two categories. First, we want a healthy and robust body (stay young forever!.) We would also like anything we own or related to us to be similarly long-lasting and not subject to unexpected calamities.

Những ham muốn của chúng ta thuộc hai nhóm. Thứ nhất, ta muốn có một thân thể khỏe mạnh, vững chãi (mãi mãi trẻ trung!). Ta cũng muốn mọi thứ ta sở hữu hoặc liên quan đến ta đều bền lâu như vậy và không gặp tai họa bất ngờ.

  • We have that perception that such desires (icchā) for “stability of long-lasting happiness” can be achieved. That perception is nicca.

Ta có nhận thức rằng các ham muốn (icchā) về “sự ổn định của hạnh phúc lâu dài” có thể đạt được. Nhận thức đó gọi là nicca.

  • With that perception of a “nicca nature,” we work hard to acquire “things” that we perceive to provide sensory pleasures.

Với nhận thức về một “bản chất nicca” như vậy, ta cố gắng nỗ lực để đạt được những “thứ” mà ta cho rằng đem lại khoái lạc giác quan.

  • While doing our best to achieve such pleasures, knowingly or unknowingly, we engage in activities that lead to future births filled with suffering.

Khi nỗ lực để đạt những khoái lạc ấy, dù biết hay không, ta tham gia vào các hành vi dẫn đến những lần tái sinh đầy khổ đau trong tương lai.

Icchā – A Root Cause of Suffering

Icchā – Một Căn Gốc Của Khổ Đau

  1. The Buddha’s described the Noble Truth on Suffering in his first discourse, “WebLink: suttacentral: Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11).”

Đức Phật đã trình bày Sự thật Cao quý về Khổ trong bài giảng đầu tiên, “WebLink: suttacentral: Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11).”

  • The complete verse in that sutta is as follows. “Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhaṁ ariya saccaṁjātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṁ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ—saṁkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.” [saṅkhittena means through overthrown by defilements, khitta : [pp. of khipati] thrown; overthrown; casted away; upset.]

Toàn bộ đoạn sutta như sau: “Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhaṁ ariya saccaṁjātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṁ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ—saṁkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.” [saṅkhittena nghĩa là “bị khuấy động bởi nhiễm ô”; khitta [quá khứ phân từ của khipati]: bị ném, bị khuấy động, bị quăng bỏ, bị xáo trộn.]

  • I have discussed the description in plain bold in the post, “Essence of Buddhism – In the First Sutta.”

Tôi đã thảo luận phần mô tả in đậm này trong bài “Essence of Buddhism – In the First Sutta.”

  • We discussed the verse, “Saṁkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā” in recent posts in “The Five Aggregates (Pañcakkhandha).” As explained there, the Buddha succinctly attributed future suffering to “upādāna” for the five aggregates (pañcakkhandhā.) We learned that “upādāna” means “keeping close in one’s mind.” [saṅkhittena means through overthrown by defilements, khitta : [pp. of khipati] thrown; overthrown; casted away; upset.]

Chúng ta đã bàn câu “Saṁkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā” trong loạt bài gần đây về “The Five Aggregates (Pañcakkhandha).” Như đã giải thích, Đức Phật tóm lược rằng khổ trong tương lai phát sinh từ “upādāna” đối với năm uẩn (pañcakkhandhā). Ta đã học rằng “upādāna” nghĩa là “giữ chặt trong tâm.” [saṅkhittena nghĩa là “bị khuấy động bởi nhiễm ô”; khitta [quá khứ phân từ của khipati]: bị ném, bị khuấy động, bị quăng bỏ, bị xáo trộn.]

  • Here, we will discuss how that “upādāna” relates to “icchā,” simply translated as “desire.” Then we will discuss the connection to anicca, which is often INCORRECTLY translated as “impermanence.” That connection is in, “appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ.”

Ở đây, chúng ta sẽ bàn về cách “upādāna” liên hệ với “icchā,” được dịch đơn giản là “ham muốn.” Sau đó, ta sẽ bàn về mối liên hệ với anicca, vốn thường bị dịch SAI thành “vô thường.” Mối liên hệ này nằm trong câu: “appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ.”

  • Let us discuss that verse in two steps.

Hãy cùng phân tích câu ấy theo hai phần.

Appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho

Appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho

  1. That means: “having to associate with things that one does not like is suffering, and having to separate from those one likes is suffering.”

Điều đó có nghĩa là: “phải tiếp xúc với những điều mình không ưa là khổ, và phải xa lìa những gì mình yêu thích là khổ.”

  • One WOULD LIKE to keep a young person’s body (say, 15 to 25 years of age), without getting old or sick, and never die. But we will NEVER get it.

Ai cũng MUỐN giữ mãi thân thể thời thanh xuân (khoảng 15 đến 25 tuổi), không già, không bệnh, không chết. Nhưng điều đó KHÔNG BAO GIỜ đạt được.

  • Even with human birth, we have to suffer when we get old, when getting sick, and finally when dying. There is no way to dissociate from those things that we do not like.

Cho dù sinh làm người, ta vẫn phải chịu khổ khi già, khi bệnh và cuối cùng là khi chết. Không có cách nào tách rời khỏi những điều ta không thích ấy.

  • We have no choice but to associate with those three things we do not like highlighted above.

Ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải đối diện với ba điều không mong muốn đó.

  • Worst of all, we will have rebirths in realms we do not like. That will happen until we comprehend anicca

Điều tệ nhất là ta sẽ tái sinh trong những cõi mà ta không mong muốn. Điều đó sẽ tiếp diễn cho đến khi ta thấu hiểu bản chất anicca.

Yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ – Most Important Verse

Yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ – Câu Kinh Quan Trọng Nhất

  1. Yampiccam nalabhati tampi dukkhaṁ” captures the essence of anicca nature how it leads to suffering. It provides the key to understanding the Buddha’s message and led to the attaining the Sotāpanna stage by the five ascetics.

“Yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ” diễn tả tinh yếu của bản chất anicca và cách nó dẫn đến khổ. Câu này cung cấp chìa khóa để hiểu thông điệp của Đức Phật và chính nhờ đó mà năm vị tu khổ hạnh đạt tầng Sotāpanna.

  • Yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ” is a shortened version of the verse “Yam pi icchāṁ na labhati tam pi dukkhaṁ.”

“Yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ” là dạng rút gọn của câu “Yam pi icchāṁ na labhati tam pi dukkhaṁ.”

  • Yam pi icchāṁ” means “whatever is liked or craved ” “Na labhati” means “not getting.” “tam pi dukkhaṁ” means “that leads to suffering.”

“Yam pi icchāṁ” nghĩa là “bất cứ điều gì được thích hay khao khát.” “Na labhati” nghĩa là “không đạt được.” “tam pi dukkhaṁ” nghĩa là “điều đó dẫn đến khổ.”

  • Therefore, that verse simply says: “If one does not get what one craves or likes, that leads to suffering.”

Vì vậy, câu này đơn giản có nghĩa: “Nếu không đạt được điều mình ham muốn hay yêu thích, điều đó dẫn đến khổ.”

  1. That is a more general statement and applies in any situation. What we discussed in #6 above is summarized in the short verse, “yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ.”

Đây là một khẳng định mang tính tổng quát và đúng trong mọi hoàn cảnh. Điều đã thảo luận ở mục #6 được tóm lược trong câu ngắn “yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ.”

  • We can see that in our daily lives. We like to hang out with people we love, and it is stressful to be with people we do not like.

Ta có thể thấy điều này trong đời sống hằng ngày. Ta thích ở gần người mình thương, và cảm thấy căng thẳng khi phải ở cùng người mình không thích.

  • The more one craves something, the more suffering one will endure in the end. We tend to do immoral deeds to “get what we crave.” But kammic energies we generate in such wicked deeds lead to rebirths that we do not like.

Càng khao khát một điều gì đó, cuối cùng ta càng phải chịu nhiều khổ đau. Ta có xu hướng làm những hành vi bất thiện để “đạt được điều mình ham muốn.” Nhưng năng lượng kamma tạo ra từ những hành động bất thiện ấy lại dẫn đến những lần tái sinh mà ta không mong muốn.

  • Thus, we end up with two types of suffering. Our expectations are not fulfilled (whatever happiness gained is temporary.) Furthermore, we end up getting unfortunate rebirths.

Như vậy, ta phải chịu hai loại khổ: những mong cầu không được thỏa mãn (mọi hạnh phúc đạt được đều tạm thời), và ta còn rơi vào những lần tái sinh bất hạnh.

Icchā Keeps One Bound to “This World”

Icchā Trói Buộc Chúng Sinh Trong “Thế Giới Này”

  1. There are many suttā in the Tipiṭaka that discuss icchā. The “WebLink: suttacentral: Icchā Sutta (SN 1.69)” summarizes the importance of icchā. One time, a deva came to the Buddha and asked:

Có nhiều bài kinh trong Tipiṭaka nói về icchā. “WebLink: suttacentral: Icchā Sutta (SN 1.69)” tóm lược tầm quan trọng của icchā. Một lần, một vị deva đến gặp Đức Phật và hỏi:

Nassau bajjhatī loko,

kissa vinayāya muccati;

Kissassu vippahānena,

sabbaṁ chindati bandhanan” ti.

 

The Buddha replied:

Đức Phật trả lời:

Icchāya bajjhatī loko,
icchāvinayāya muccati;
Icchāya vippahānena,
sabbaṁ chindati bandhanan” ti
.

“By what is the world bound?

“Thế gian bị trói buộc bởi điều gì?
By the removal of what one is freed?

Từ bỏ điều gì thì được giải thoát?
What is it that one must abandon

Vì điều gì mà phải đoạn trừ

To cut off all bondage?”

Để chấm dứt mọi ràng buộc?”

 

 

“By cravings, one is bound to the world;
“Bởi khao khátchúng sinh bị trói buộc vào thế gian;

By the removal of desire one is freed;
Nhờ đoạn trừ ham muốn mà được giải thoát;

Craving is what one must give up
Điều phải từ bỏ chính là sự khao khát,
To cut off all bondage.”
Để cắt đứt mọi ràng buộc.”

Our Actions Based on Iccha (Taṇhā) Lead to Suffering

Hành Động Dựa Trên Icchā (Taṇhā) Dẫn Đến Khổ

  1. Paṭicca Samuppāda process describes how our actions based on icchā (taṇhā) lead to future births and suffering. We have discussed that in detail in two main sections. See, “Paṭicca Samuppāda” and “Paṭicca Samuppāda – Not ‘Self’ or ‘No-Self’.”

Tiến trình Paṭicca Samuppāda mô tả cách các hành động dựa trên icchā (taṇhā) dẫn đến những lần tái sinh tương lai và khổ đau. Chúng ta đã thảo luận chi tiết điều đó trong hai phần chính: “Paṭicca Samuppāda” và “Paṭicca Samuppāda – Not ‘Self’ or ‘No-Self’.”

  • In brief, the Buddha pointed out that our perception of a “nicca nature” where we can fulfill our desires is an illusion.

Tóm lại, Đức Phật chỉ rõ rằng nhận thức của chúng ta về một “bản chất nicca” nơi ta có thể thỏa mãn mọi ham muốn chỉ là ảo tưởng.

  • No matter how much we strive, attaining long-lasting happiness in the rebirth process is impossible. If one believes that there is no rebirth process, one may not worry about such suffering beyond the present life.

Dù chúng ta có cố gắng bao nhiêu, việc đạt được hạnh phúc lâu dài trong vòng luân hồi là điều không thể. Nếu ai tin rằng không có quá trình tái sinh, người ấy có thể sẽ không bận tâm đến những khổ đau vượt khỏi đời hiện tại.

  • That is why one first needs to get rid of the ten types of wrong views (micchā diṭṭhi) before trying to comprehend that our perception of nicca nature is incorrect.

Đó là lý do đầu tiên cần đoạn trừ mười loại tà kiến (micchā diṭṭhi) trước khi có thể hiểu rằng nhận thức về bản chất nicca của ta là sai.

  • Thus, the reality of this world is not “nicca” but the opposite. That is anicca.

Vì vậy, bản chất thật của thế giới này không phải là “nicca” mà ngược lại. Đó là anicca.

Inability to Fulfill Iccā/Icchā Means Anicca/Aniccha Nature

Không Thể Thỏa Mãn Iccā/Icchā Chính Là Bản Chất Anicca/Aniccha

  1. The inability to get what one desires is the opposite of “icca” or “na icca” or “anicca.” That is the same way that “na āgāmi” becomes “Anāgāmi” (“na āgāmi” means “not coming back”; but in the context of Anāgāmi, it means “not coming back to kāma loka or the lowest 11 realms.” Both these are examples of Pāli sandhi rules (connecting two words).

Không thể đạt được điều mình ham muốn là điều đối lập với “icca,” hay “na icca,” tức “anicca.” Đây giống như cách “na āgāmi” trở thành “Anāgāmi” (“na āgāmi” nghĩa là “không trở lại/bất lai”; nhưng trong ngữ cảnh Anāgāmi, nó nghĩa là “không trở lại kāma loka, tức 11 cõi thấp nhất”). Cả hai đều là ví dụ của luật sandhi trong Pāli (quy tắc nối từ).

  • In some suttā, like the “Girimānanda Sutta (AN 10.60),” we see the word aniccha, as we will discuss below. As mentioned above, icchā is a strong version of icca, and the words niccha and aniccha are the corresponding “strong versions” of nicca and anicca.

Trong một số suttā, như “Girimānanda Sutta (AN 10.60),” ta thấy từ aniccha, như sẽ bàn bên dưới. Như đã đề cập, icchā là dạng mạnh của icca, và niccha cùng aniccha là các dạng “mạnh hơn” tương ứng của nicca và anicca.

  • Other than in such specific cases, we will stick to the words nicca and anicca.

Ngoài những trường hợp đặc biệt như vậy, ta sẽ dùng nicca và anicca.

  • The intrinsic nature of this world is “anicca,”e., we will never get what we crave for, and thus in the end (at least at death), we will leave all this behind and suffer, that is dukkha.

Bản chất nội tại của thế giới này là “anicca,” nghĩa là ta sẽ không bao giờ đạt được thứ mình khao khát, và cuối cùng (ít nhất là khi chết), ta phải bỏ lại tất cả và chịu khổ — đó chính là dukkha.

Impermanence Is a Significant Part of Anicca

Vô Thường Chỉ Là Một Phần Quan Trọng Trong Anicca

  1. Anicca does NOT mean just “impermanence” is clear in the definition of anicca in many suttā. For example, the “WebLink: suttacentral: Anicca Sutta (SN 22.12)” states: “rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccaṁ.”

Anicca KHÔNG CHỈ có nghĩa “vô thường,” điều này được thấy rõ trong nhiều định nghĩa kinh điển. Ví dụ, “WebLink: suttacentral: Anicca Sutta (SN 22.12)” ghi: “rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccaṁ.”

Bản dịch tiếng Anh tại SuttaCentral WebLink: suttacentral: 12. Impermanence” là: “sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường.”

  • Is it not evident that especially the mental qualities (vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa) are impermanent? They change even moment-to-moment. That is a BAD translation. Of course, the other translation at SuttaCentral and in many other texts is the same.

Lẽ nào không rõ ràng rằng các tâm hành (vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa) vốn vô thường? Chúng thay đổi từng sát-na. Bản dịch như vậy là SAI. Và phần lớn các bản dịch khác tại SuttaCentral hay nhiều sách khác cũng tương tự.

  • The correct translation is that all five entities are of anicca nature, i.e., they cannot be maintained to one’s expectations.

Bản dịch đúng phải là: cả năm pháp đều mang bản chất anicca, tức không thể duy trì theo ý muốn của ta.

  • No single word in English can express the meaning of anicca. Impermanence is just one aspect of anicca

Không một từ tiếng Anh nào có thể diễn đạt trọn ý nghĩa anicca. Vô thường chỉ là một khía cạnh của anicca.

  • The Pāli words for permanence and impermanence are dhuva and addhuva. For example, the “WebLink: suttacentral: Vepullapabbata Sutta (SN 15.20)” says, “Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṁ addhuvā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṁ anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā” meaning, “saṅkhārā” are anicca and impermanent (addhuvā), they should not be taken in (“na” + “assāsikā”). By the way, this also shows that “assāsa” does NOT mean “breathing in.” For details, see, “Is Ānāpānasati Breath Meditation?

Các từ Pāli cho “thường” và “vô thường” là dhuva và addhuva. Ví dụ, “WebLink: suttacentral: Vepullapabbata Sutta (SN 15.20)” có đoạn: “Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṁ addhuvā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṁ anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā,” nghĩa là “saṅkhārā” mang bản chất anicca và vô thường (addhuvā), và không nên “nắm giữ” (“na” + “assāsikā”). Nhân đây, điều này cũng cho thấy “assāsa” KHÔNG có nghĩa là “hít vào.” Xem chi tiết trong bài “Is Ānāpānasati Breath Meditation?

Girimānanda SuttaAnicca Nature of Saṅkhāra

Girimānanda Sutta – Bản Chất Anicca của Saṅkhāra

  1. In the “WebLink: suttacentral: Girimānanda Sutta (AN 10.60)” the Buddha described the perception of anicca nature to Ven. Ānanda as follows. “Katamā ca Ānanda, anicca saññā? Idha Ānanda, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘rūpaṁ aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccan’ti. Iti imesu pañcasu upādānakkhandhesu aniccānupassī viharati. Ayaṁ vuccatānanda, aniccasaññā.”

Trong “WebLink: suttacentral: Girimānanda Sutta (AN 10.60),” Đức Phật mô tả cách quán niệm về bản chất anicca cho Tôn giả Ānanda như sau: “Katamā ca Ānanda, anicca saññā? Idha Ānanda, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘rūpaṁ aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccan’ti. Iti imesu pañcasu upādānakkhandhesu aniccānupassī viharati. Ayaṁ vuccatānanda, aniccasaññā.”

  • The parts highlighted in bold say that all five entities “rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa are all aniccā” and that “one lives contemplating the anicca nature of the ‘five clinging aggregates’ (pañca upādānakkhandha.)

Phần được nhấn mạnh nói rằng cả năm pháp “rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa đều aniccā” và rằng “hành giả sống trong sự quán sát bản chất anicca của ‘năm uẩn thủ’ (pañca upādānakkhandha).”

  • The first part is the same as that we discussed above. The second part is even more clear. As we know, pañca upādānakkhandha is all mental. See, “Pañca Upādānakkhandhā – Introduction.”

Phần đầu giống với những gì ta đã bàn trước đó. Phần thứ hai thậm chí còn rõ ràng hơn. Như ta biết, pañca upādānakkhandha hoàn toàn là các pháp tâm. Xem bài “Pañca Upādānakkhandhā – Introduction.”

  • There is nothing “permanent” there anyway. The Buddha meant to contemplate the “fruitlessness of clinging to one’s memories or to future expectations.”

Ở đó vốn chẳng có gì “thường hằng.” Ý Đức Phật là hãy quán thấy “sự vô ích của việc bám chấp vào ký ức hay các mong đợi trong tương lai.”

  1. In a subsequent verse in the sutta, the Buddha clarifies that “unfruitfulness” in vivid detail: “Katamā ca Ānanda, sabbasaṅkhāresu anicchā saññā? Idhānanda, bhikkhu sabba saṅkhāresu aṭṭīyati harāyati jigucchati. Ayaṁ vuccati ca Ānanda, sabba saṅkhāresu anicchā saññā.” [aṭṭi : wounds. yati : [aor. of yatati] exerted oneself; strived. (m.), a monk. aṭṭīyati : wounds inflicted by oneself. harāyati : [deno. from hiri] is ashamed, depressed or vexed; worries. jigucchati : shuns; loathes; is disgusted at.]

Ở đoạn kế tiếp của sutta, Đức Phật giải thích “tính vô ích” ấy một cách rõ ràng: “Katamā ca Ānanda, sabbasaṅkhāresu anicchā saññā? Idhānanda, bhikkhu sabba saṅkhāresu aṭṭīyati harāyati jigucchati. Ayaṁ vuccati ca Ānanda, sabba saṅkhāresu anicchā saññā.” [aṭṭi: vết thương; yati: nỗ lực; aṭṭīyati: tự làm mình mệt mỏi/đau đớn; harāyati: hổ thẹn, buồn bực; jigucchati: ghê tởm, tránh xa.]

  • The first highlighted part in bold says, “all saṅkhāra make one tired at the end, just like a dog does not get any nutrition by chewing on a bone but only gets tired (aṭṭīyati.) One should be ashamed (harāyati) of engaging in such fruitless endeavors. One should reject them like feces and urine (jigucchati.) Note that the word ‘iccha’ is in ‘jigucchati’ which comes from ‘ji’ + ‘gu’ + ‘iccha’ or ‘liking urine and feces.’”

Phần được nhấn mạnh đầu tiên nói rằng “tất cả saṅkhāra cuối cùng đều làm ta kiệt sức, giống như con chó gặm xương nhưng chẳng được dinh dưỡng mà chỉ mệt mỏi (aṭṭīyati). Hành giả nên hổ thẹn (harāyati) khi đuổi theo những điều vô ích như vậy. Hành giả nên tránh xa chúng như tránh phân và nước tiểu (jigucchati).” Lưu ý: từ “iccha” có trong “jigucchati” — xuất phát từ “ji” + “gu” + “iccha,” nghĩa là “ưa thích những thứ như phân và nước tiểu.”

  • I have discussed that verse in detail in “Anicca – The Incessant Distress (‘Pīḷana’).” Other meanings of anicca are discussed in “Anicca, Dukkha, Anatta.”

Tôi đã thảo luận chi tiết câu kinh này trong bài “Anicca – The Incessant Distress (‘Pīḷana’).” Các ý nghĩa khác của anicca được bàn trong “Anicca, Dukkha, Anatta.”

  • Therefore, the word anicca has a much deeper and more expansive meaning than just “impermanence.” The cause of anicca is related to impermanence, but anicca means a perception that needs to be cultivated. The above verse provides further aspects associated with the key idea of the “inability to maintain anything to one’s satisfaction.”

Vì vậy, từ anicca có ý nghĩa sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều so với “vô thường.” Nguyên nhân của anicca có liên hệ đến vô thường, nhưng anicca là một tri kiến cần được tu tập. Đoạn kinh trên cho thấy thêm nhiều khía cạnh gắn với ý chính: “không thể giữ bất kỳ pháp nào theo ý muốn của mình.”

  • Impermanence is not directly connected to any of the three meanings of anicca in that verse.

Vô thường không liên hệ trực tiếp với bất kỳ trong ba ý nghĩa của anicca trong đoạn kinh ấy.

  • At the end of the verse, we see the word anicchā used to emphasize anicca

Cuối đoạn kinh, ta thấy từ anicchā được dùng để nhấn mạnh bản chất anicca.

Grasping of Anicca Removes Micchā Diṭṭhi

Thấu Triệt Anicca Giúp Đoạn Trừ Micchā Diṭṭhi

  1. Grasping of anicca characteristic of nature requires getting rid of ALL of one’s wrong views.

That is clearly stated in the “WebLink: suttacentral: Micchaditthipahana Sutta (SN 35.165)”: “Cakkhuṁ kho, bhikkhu, aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati. Rūpe aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati. Cakkhuviññāṇaṁ aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati. Cakkhusamphassaṁ aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati … pe … yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi aniccato jānato passato micchādiṭṭhi pahīyati. Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato micchā diṭṭhi pahīyati” ti.

Thấu triệt đặc tính anicca của các pháp đòi hỏi phải đoạn trừ TẤT CẢ tà kiến.

Điều này được nêu rõ trong “WebLink: suttacentral: Micchaditthipahana Sutta (SN 35.165)”: “Cakkhuṁ kho, bhikkhu, aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati. Rūpe aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati. Cakkhuviññāṇaṁ aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati. Cakkhusamphassaṁ aniccato jānato passato micchā diṭṭhi pahīyati … pe … yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi aniccato jānato passato micchādiṭṭhi pahīyati. Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato micchā diṭṭhi pahīyati” ti”.

We can make two critical deductions from this verse.

Ta có thể rút ra hai kết luận quan trọng từ đoạn kinh này.

  • First, whereas only five entities are listed in #12, this verse enumerates many more related entities, and they all have the anicca nature. Anything and everything in this world have an anicca nature.

Thứ nhất, trong khi #12 chỉ liệt kê năm pháp, thì đoạn kinh này nêu thêm nhiều pháp liên hệ khác, và tất cả đều mang bản chất anicca. Mọi hiện tượng trong thế gian đều mang bản chất anicca.

  1. Then, the second part of the verse says the following. If one comprehends the anicca nature of all those entities, one has removed micchā diṭṭhi. The first level of micchā diṭṭhi to be removed is the ten types of micchā diṭṭhi.

Phần hai của đoạn kinh dạy rằng: nếu hành giả thấu hiểu bản chất anicca của tất cả các pháp ấy, người ấy đã đoạn trừ micchā diṭṭhi. Mức đầu tiên của micchā diṭṭhi cần đoạn trừ là mười loại micchā diṭṭhi.

  • Ten types of micchā diṭṭhi include not believing in the rebirth process. See, “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.” Therefore, IF anicca means impermanence, THEN one would have removed all wrong views IF one has understood that everything in this world is impermanent.

Mười loại micchā diṭṭhi bao gồm cả việc không tin vào tái sinh. Xem “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.” Do đó, NẾU anicca chỉ có nghĩa “vô thường,” THÌ chỉ cần hiểu rằng mọi pháp trong đời là vô thường, hành giả đã đoạn trừ toàn bộ tà kiến — điều này rõ ràng không hợp lý.

  • As discussed in the previous post, any scientist knows that nothing in this world is permanent. See “Five Aggregates and Tilakkhaṇa – Introduction.”

Như đã thảo luận trong bài trước, bất kỳ nhà khoa học nào cũng biết rằng không có gì trong thế giới này là thường hằng. Xem “Five Aggregates and Tilakkhaṇa – Introduction.”

  • By that definition of anicca, those scientists SHOULD NOT have any of the ten types of micchā diṭṭhi. That is a contradiction since most scientists do not believe in rebirth.

Theo cách định nghĩa anicca như thế, các nhà khoa học ấy LẼ RA KHÔNG có bất kỳ một loại micchā diṭṭhi nào. Nhưng điều đó mâu thuẫn với thực tế là đa số họ không tin vào tái sinh.

Summary

Tóm Lược

  1. Future suffering cannot be stopped until one’s cravings for worldly things (icchā, taṇhā, upādāna) are lost.

Khổ đau trong tương lai không thể chấm dứt cho đến khi các sự khao khát đối với các pháp thế tục (icchā, taṇhā, upādāna) bị đoạn trừ.

  • Those cravings cannot be removed from one’s mind until one realizes the futility and danger (future suffering) associated with such cravings.

Những khao khát đó không thể bị loại bỏ khỏi tâm cho đến khi ta thấy được sự vô ích và nguy hiểm (khổ đau trong tương lai) gắn liền với chúng.

  • Those cravings may be TEMPORARILY suppressed by engaging in the mundane “breath meditation.”

Những khao khát ấy có thể được đè nén TẠM THỜI bằng cách thực hành “thiền hơi thở” theo nghĩa thế tục.

  • However, by understanding the true anicca nature, one can realize the futility and danger (future suffering) associated with such cravings. A deeper analysis of, “Icchā (Cravings) Lead to Upādāna and to Eventual Suffering.”

Tuy nhiên, bằng cách hiểu đúng bản chất anicca, ta có thể thấy được sự vô ích và nguy hiểm (khổ đau tương lai) gắn với các khao khát ấy. Xem phân tích sâu hơn tại “Icchā (Cravings) Lead to Upādāna and to Eventual Suffering.”

  • That is why comprehending the anicca nature is a REQUIREMENT for attaining Nibbāna. Furthermore, anicca is closely related to dukkha and anatta, as we will see in future posts.

Đó là lý do việc thấu hiểu bản chất anicca là ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT để chứng đắc Nibbāna. Hơn nữa, anicca liên quan mật thiết đến dukkha và anatta, như sẽ thấy ở các bài sau.

  • As always, anyone is welcome to correct me (with evidence from the Tipiṭaka.)

Như thường lệ, bất cứ ai cũng được hoan nghênh góp ý (kèm bằng chứng từ Tipiṭaka).

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *