Four Types of Births in Buddhism / Bốn Loại Sinh Trong Phật giáo

July 30, 2022 (revised #11, #12 same day); revised #3, #9 on Aug. 1, 2022; revised September 5, 2024

Ngày 30/07/2022 (chỉnh sửa mục #11, #12 cùng ngày); chỉnh sửa mục #3, #9 ngày 01/08/2022; chỉnh sửa ngày 05/09/2024

Buddha explained that there are four types of births: jalābuja (womb), aṇḍaja (egg), saṁsedaja (chemical), and opapātika (spontaneous). However, the other three types depend on an opapātika birth first occurring at the cuti-paṭisandhi moment. [jalābuja : [adj.] born in a placenta; viviparous. aṇḍaja : [adj.] oviparous; born of an egg. (m.) a bird; a serpent. saṁsedaja : [adj.] born from moisture. opapātika : [adj.] arisen without visible cause; born spontaneously.]

Đức Phật giải thích rằng có bốn loại sinh: jalābuja (sinh từ thai), aṇḍaja (sinh từ trứng), saṁsedaja (sinh do thành phần hóa học), và opapātika (sinh tự phát). Tuy nhiên, ba loại còn lại đều phụ thuộc vào việc một sự sinh opapātika xảy ra trước ở sát-na cuti-paṭisandhi. [jalābuja : [tính từ] sinh trong nhau thai; thai sinh. aṇḍaja : [tính từ] noãn sinh; sinh từ trứng. (danh từ giống đực) loài chim; loài rắn. saṁsedaja : [tính từ] sinh từ hơi ẩm. opapātika : [tính từ] sinh ra không có nguyên nhân thấy được; tự phát sinh.]

Introduction

Giới thiệu

  1. There are several suttas where the Buddha explained the four types of births: aṇḍaja, jalābuja, saṁsedaja, and opapātika. For example, in “WebLink: suttacentral: Mahāsīhanāda Sutta (MN 12).” the Buddha explains, “Catasso kho imā, sāriputta, yoniyo—Aṇḍajā yoni, jalābujā yoni, saṁsedajā yoni, opapātikā yoni.” That means “Sāriputta, there are four kinds of births—Born from an egg, from a womb, from chemical composition, or spontaneously.”

Có nhiều suttā trong đó Đức Phật giải thích bốn loại sinh: aṇḍaja, jalābuja, saṁsedaja, và opapātika. Ví dụ, trong “WebLink: suttacentral: Mahāsīhanāda Sutta (MN 12).” Đức Phật dạy: “Catasso kho imā, sāriputta, yoniyo—Aṇḍajā yoni, jalābujā yoni, saṁsedajā yoni, opapātikā yoni.” Điều đó có nghĩa là: “Này Sāriputta, có bốn loại sinhSinh từ trứng, từ thai, từ thành phần hóa học, hoặc tự phát.”

  • It is a good idea to read the English translation there, even if not perfect, to get an idea of not only the four types of birth but also about births in various realms, including the four lowest realms. That verse should be translated as, “Sāriputta, there are these four kinds of births. What four?”

Bạn nên đọc bản dịch tiếng Anh ở đó, dù chưa hoàn hảo, để có hình dung không chỉ về bốn loại sinh mà còn về sự sinh trong nhiều cõi khác nhau, bao gồm cả bốn cõi thấp nhất. Câu đó nên được dịch là: “Này Sāriputta, có bốn loại sinh này. Là bốn loại nào?”

Spontaneous (Opapātika) Birth Is the “Seed” for the Other Three Types of Birth

Sinh Tự Phát (Opapātika) Là “Hạt Giống” Cho Ba Loại Sinh Còn Lại

  1. Let us briefly discuss the four types of births listed above. As we will see below, the spontaneous or opapātika birth must occur first for the other three types to proceed (in situations where one or more of those three types come into play.) Those three types of births are predominant only in the human and animal realms.

Chúng ta hãy bàn ngắn gọn về bốn loại sinh được liệt kê ở trên. Như sẽ thấy bên dưới, sự sinh tự phát hay opapātika phải xảy ra trước thì ba loại sinh còn lại mới có thể tiếp diễn (trong những trường hợp mà một hay nhiều loại trong ba loại đó có mặt). Ba loại sinh này chủ yếu chỉ có trong cõi người và cõi động vật.

  • In the six Deva and twenty Brahma realms, only opapātika births take place. Devas and Brahmas are born in their “final form” spontaneously. They live their whole lives (ranging from millions to billions of years) in that form. Of course, they have subtle “energy bodies” that are invisible to us.

Trong sáu cõi Deva và hai mươi cõi Brahma, chỉ có sự sinh opapātika diễn ra. Các Deva và Brahma sinh ra một cách tự phát trong “hình dạng hoàn chỉnh” của họ. Họ sống trọn đời (kéo dài từ hàng triệu đến hàng tỷ năm) trong hình dạng đó. Dĩ nhiên, họ có những “thân năng lượng” vi tế mà chúng ta không nhìn thấy được.

  • When a human existence (bhava) is grasped at the paṭisandhi moment (after leaving previous existence in one of the 31 realms), kammic energy creates a gandhabba/manomaya kāya first via an opapātika A gandhabba also has an invisible “energy body” (like Devas and Brahmas) with a hadaya vatthu and five pasāda rūpa. That gandhabba MAY NOT be born with a physical body of a human (with a jalābuja birth) for years after that.

Khi một kiếp hiện hữu (bhava) làm người được nắm bắt ở sát-na paṭisandhi (sau khi rời bỏ kiếp hiện hữu trước đó trong một trong 31 cõi), năng lượng kamma trước hết tạo ra một gandhabba/manomaya kāya thông qua một sự sinh opapātika. Một gandhabba cũng có một “thân năng lượng” vô hình (giống như Deva và Brahma) với một hadaya vatthu và năm pasāda rūpa. Gandhabba đó CÓ THỂ CHƯA sinh với một thân người vật lý (qua một lần sinh jalābuja) trong nhiều năm sau đó.

  • As explained in the post, “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein” a human gandhabba’s lifetime could be many thousands of years. That gandhabba may be born with a physical human body many times during that lifetime. Many “rebirth accounts” by children worldwide confirm that rebirths with human bodies happen with gaps of several years between consecutive births. Those are consecutive “womb-born” (jalābuja) births for a single human gandhabba. On the other hand, getting another human bhava is extremely rare; see “How the Buddha Described the Chance of Rebirth in the Human Realm.”

Như đã giải thích trong bài “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein”, tuổi thọ của một gandhabba người có thể kéo dài hàng nghìn năm. Gandhabba đó có thể sinh với thân người vật lý nhiều lần trong suốt khoảng thời gian ấy. Nhiều “tường thuật tái sinh” của trẻ em trên khắp thế giới xác nhận rằng các lần tái sinh với thân người xảy ra với khoảng cách vài năm giữa những lần sinh liên tiếp. Đó là những lần sinh “từ thai” (jalābuja) liên tiếp của cùng một gandhabba người. Mặt khác, việc có được một bhava con người khác là cực kỳ hiếm; xem “How the Buddha Described the Chance of Rebirth in the Human Realm.”

Births With Physical Human Bodies Are “Jalābuja” Births

Những Lần Sinh Với Thân Người Vật Lý Là Các Lần Sinh “Jalābuja”

  1. Any birth among the 31 realms occurs due to a kamma vipāka. The first step is to be “born into a certain bhava,” for example, “human bhava” or Deva bhava. But there is a crucial difference between what happens next in those two cases.

Bất kỳ lần sinh nào trong 31 cõi đều xảy ra do một kamma vipāka. Bước đầu tiên là được “sinh vào một bhava nhất định,” ví dụ như “bhava con người” hay Deva bhava. Nhưng có một sự khác biệt rất quan trọng giữa những gì xảy ra tiếp theo trong hai trường hợp đó.

  • A fully-formed Deva is born with an opapātika birth and will live through the whole life in that Deva

Một Deva được sinh ra với hình dạng hoàn chỉnh thông qua một sự sinh opapātika và sẽ sống trọn đời trong cõi Deva đó.

  • Similarly, only the subtle (and invisible) manomaya kāya of a gandhabba is born when a human bhava is grasped with an opapātika But that will be followed by a jalābuja birth at some point. That gandhabba is pulled into a mother’s womb when a “matching womb” becomes available. Then a human baby will be born with a physical body after nine months. Such a birth belongs to the “jalābuja” type of 31 above.

Tương tự như vậy, khi một bhava con người được nắm bắt qua một sự sinh opapātika, chỉ có manomaya kāya vi tế (và vô hình) của một gandhabba được sinh ra. Nhưng sau đó, vào một thời điểm nào đó, sẽ tiếp theo là một sự sinh jalābuja. Gandhabba đó bị hút vào tử cung của một người mẹ khi một “tử cung tương hợp” trở nên sẵn có. Rồi một em bé với thân vật lý sẽ được sinh ra sau chín tháng. Sự sinh đó thuộc loại “jalābuja” đã nêu ở mục 31 phía trên.

  • A human with a physical body lives in “this world (ayaṁ loka),” and that same human in the absence of a physical body lives in the “other world (para loka).” Thus, until the end of the human bhava, many “back and forth” between the “two worlds” occur. See “Gandhabba Sensing the World – With and Without a Physical Body.”

Một con người có thân vật lý sống trong “thế giới này (ayaṁ loka),” và chính con người đó khi không có thân vật lý thì sống trong “thế giới kia (para loka).” Vì vậy, cho đến khi bhava con người chấm dứt, sẽ có nhiều lần “qua lại” giữa “hai thế giới.” Xem “Gandhabba Sensing the World – With and Without a Physical Body.”

  • Let us summarize for clarity.

Chúng ta hãy tóm lược lại cho rõ.

Devas/Brahmas Have Only Opapātika Births, Humans Have Opapātika and Jalābuja Births

Deva/Brahma Chỉ Có Sinh Opapātika, Còn Con Người Có Cả Sinh Opapātika và Jalābuja

  1. Any Deva or a Brahma has only the opapātika birth (i.e., one jāti per bhava.)

Bất kỳ Deva hay Brahma nào cũng chỉ có sinh opapātika (tức là một jāti cho mỗi bhava.)

  • On the other hand, to be born with a physical human body like ours, there must be two stages. First, a human gandhabba is born in an opapātika birth (in the “upādāna paccayā bhava” step in Paṭicca Samuppāda.) Then that gandhabba gets into a mother’s womb and will be born a human baby nine months later. That second birth is a jalābuja birth or “birth from a womb” with “breaking out of the amniotic sac.” As mentioned above, there can be many jalābuja births for a human gandhabba. These are the “bhava paccayā jāti” in Paṭicca Samuppāda.

Mặt khác, để được sinh ra với một thân người vật lý như chúng ta, phải có hai giai đoạn. Trước hết, một gandhabba con người được sinh ra qua một sự sinh opapātika (ở bước “upādāna paccayā bhava” trong Paṭicca Samuppāda.) Sau đó gandhabba ấy đi vào tử cung của người mẹ và sẽ sinh ra thành một em bé sau chín tháng. Sự sinh thứ hai đó là một sự sinh jalābuja hay “sinh từ thai,” với việc “đi ra khỏi túi ối.” Như đã nói ở trên, có thể có nhiều lần sinh jalābuja đối với một gandhabba con người. Đây là các trường hợp “bhava paccayā jāti” trong Paṭicca Samuppāda.

  • That explains many rebirth accounts. The Buddha emphasized that it is extremely rare to be born human; see “How the Buddha Described the Chance of Rebirth in the Human Realm.” Does that mean there is a contradiction with rebirth accounts? No.

Điều đó giải thích nhiều trường hợp được kể lại về tái sinh. Đức Phật nhấn mạnh rằng việc được sinh làm người là cực kỳ hiếm; xem “How the Buddha Described the Chance of Rebirth in the Human Realm.” Điều đó có nghĩa là có mâu thuẫn với các tường thuật tái sinh không? Không.

  • It is extremely rare to be born in the human realm as a human gandhabba with an opapātika But once becoming a human gandhabba, there can be many births with different physical bodies (jalābuja birth). A physical human body dies in about 100 years. But that is not the end of the human bhava. The human gandhabba comes out of the dead body and can be reborn with a different body. There was a good discussion on a fascinating rebirth account at the forum that could be informative: “WebLink: suttacentral: PureDhamma Forums: Rebirth Account of Dorothy Eady.”

Việc được sinh vào cõi người như một gandhabba con người qua sinh opapātika là cực kỳ hiếm. Nhưng một khi đã trở thành một gandhabba con người, có thể có nhiều lần sinh với các thân vật lý khác nhau (sinh jalābuja). Một thân người vật lý chết đi trong khoảng 100 năm. Nhưng đó không phải là chấm dứt của bhava con người. Gandhabba con người đi ra khỏi thân xác chết và có thể tái sinh với một thân khác. Đã có một cuộc thảo luận hay về một trường hợp tái sinh rất thú vị trên diễn đàn mà có thể hữu ích: “WebLink: suttacentral: PureDhamma Forums: Rebirth Account of Dorothy Eady.”

Animal Realm Has All Four Types of Births

Cõi Động Vật Có Đủ Cả Bốn Loại Sinh

  1. For an animal, the first opapātika birth produces an animal gandhabba. Then, one of the remaining three modes can apply to give birth to an animal with a physical body that we can see.

Đối với một con vật, sự sinh opapātika đầu tiên tạo ra một gandhabba loài vật. Sau đó, một trong ba phương thức còn lại có thể diễn ra để sinh ra một con vật với thân vật lý mà chúng ta có thể nhìn thấy.

  • Some animal gandhabbā are born with physical bodies via womb-births (jalābujā) like humans. Some examples are monkeys, lions, deer, etc.

Một số gandhabbā loài vật được sinh ra với thân vật lý qua hình thức sinh từ thai (jalābujā) giống như con người. Một vài ví dụ là khỉ, sư tử, nai, v.v.

  • Chicken, birds, etc., are born from an egg (aṇḍajā birth). Here, for example, a “chicken gandhabba” will be drawn into an egg growing inside a chicken. After the chicken lays eggs, those eggs will hatch, and chicks will come out.

Gà, chim, v.v. được sinh ra từ trứng (sinh aṇḍajā). Ở đây, ví dụ, một “gandhabba gà” sẽ bị hút vào một quả trứng đang hình thành bên trong con gà. Sau khi gà đẻ trứng, những quả trứng đó sẽ nở ra, và gà con sẽ chui ra.

  • The last mode of saṁsedaja is rare for big animals and applies primarily to microscopic animals. Here, the required “chemical base” for the gandhabba evolves naturally in rotten meat or leaves. Science has not yet confirmed this type of birth.

Loại cuối cùng là saṁsedaja thì hiếm gặp ở các loài động vật lớn và chủ yếu áp dụng cho các động vật hiển vi. Ở đây, “nền tảng hóa học” cần thiết cho gandhabba hình thành một cách tự nhiên trong thịt thối hoặc lá mục. Khoa học hiện nay vẫn chưa xác nhận loại sinh này.

  • Note that in all those cases, a “seed” (manomaya kāya/gandhabba) must have been first produced by kammic energy, just like in the case of a human.

Lưu ý rằng trong tất cả các trường hợp đó, một “hạt giống” (manomaya kāya/gandhabba) trước tiên phải được tạo ra bởi năng lượng kamma, giống như trong trường hợp của con người.

  1. Let us discuss an animal’s birth for clarification.

Chúng ta hãy bàn về sự sinh của một con vật để làm rõ hơn.

  • For example, a fly lives in a physical body only for a few weeks before dying. However, that “fly existence” (bhava) may last thousands/millions of years. When a fly dies, its manomaya kāya/gandhabba will come out and wait until getting into another “fly egg.” It will be reborn countless times as a fly with wings (of course, the “fly gandhabba” will be invisible, just like a “human gandhabba.”) That is an “egg-born” (aṇḍaja) birth.

Ví dụ, một con ruồi chỉ sống trong thân vật lý vài tuần trước khi chết. Tuy nhiên, “sự hiện hữu loài ruồi” (bhava) đó có thể kéo dài hàng nghìn/hàng triệu năm. Khi một con ruồi chết, manomaya kāya/gandhabba của nó sẽ đi ra và chờ cho đến khi đi vào một “trứng ruồi” khác. Nó sẽ tái sinh vô số lần thành một con ruồi có cánh (dĩ nhiên, “gandhabba ruồi” sẽ vô hình, giống như “gandhabba con người.”) Đó là một sự sinh “từ trứng” (aṇḍaja).

  • Many animals, especially small ones, have lifetimes much shorter than humans. But their “animal bhava” can be millions of years long. Regardless of which of the three types of births is followed by an opapātika birth of an animal, there will be many “births with physical bodies” for that “animal gandhabba.” That is why it is critical to understand that there can be many jātis within a bhava for humans and animals. See “Jāti – Different Types of Births.”

Nhiều loài động vật, đặc biệt là những loài nhỏ, có tuổi thọ ngắn hơn con người rất nhiều. Nhưng “bhava loài vật” của chúng có thể kéo dài hàng triệu năm. Bất kể trong ba loại sinh nào tiếp theo sau một sự sinh opapātika của một con vật, sẽ có nhiều “lần sinh với thân vật lý” cho “gandhabba loài vật” đó. Đó là lý do vì sao điều hết sức quan trọng là phải hiểu rằng có thể có nhiều jāti bên trong một bhava đối với con người và động vật. Xem “Jāti – Different Types of Births.”

Current Confusion About “When a Baby Becomes Conscious/Human”

Sự Nhầm Lẫn Hiện Nay Về Việc “Khi Nào Một Em Bé Trở Nên Có Ý Thức/Trở Thành Con Người”

  1. We see a lot of confusion these days about “when a baby can be called human”?

Ngày nay chúng ta thấy có rất nhiều nhầm lẫn về câu hỏi “khi nào một em bé có thể được gọi là con người”?

  • In the US, there are many “theories/speculations” about when a baby becomes “fully conscious.” Then that evolves into arguments about “a baby not being human” for up to a few days, months, or even birth. Some even speculate that since a child cannot “think rationally” until at least a couple of years of age, they may not be “human.” That is ridiculous!

Ở Mỹ, có rất nhiều “lý thuyết/suy đoán” về thời điểm một em bé trở nên “hoàn toàn có ý thức.” Từ đó nảy sinh những lập luận cho rằng “một em bé chưa phải là con người” trong vài ngày, vài tháng, hoặc thậm chí cho đến lúc sinh ra. Thậm chí có người còn suy đoán rằng vì một đứa trẻ chưa thể “suy nghĩ có lý trí” cho đến ít nhất vài năm tuổi, nên chúng có thể chưa phải là “con người.” Điều đó thật vô lý!

  • With that argument, a person in sleep or under anesthesia can be categorized as a “non-person” because they are unconscious! That would mean killing a person while in sleep, under anesthesia, in a vegetative state due to brain damage, etc., would be legal!

Theo lập luận đó, một người đang ngủ hay đang bị gây mê có thể bị xếp là “không phải con người” vì họ đang bất tỉnh! Điều đó sẽ có nghĩa là giết một người khi họ đang ngủ, đang bị gây mê, đang ở trong trạng thái thực vật do tổn thương não, v.v. sẽ là hợp pháp!

  • I have discussed situations where people in vegetative states fully recovered; see “Persistent Vegetative State – Buddhist View.” Further details in “Brain and the Gandhabba.”

Tôi đã bàn về những trường hợp người ở trạng thái thực vật hồi phục hoàn toàn; xem “Persistent Vegetative State – Buddhist View.” Chi tiết hơn ở “Brain and the Gandhabba.”

  1. A zygote in a womb becomes human as soon as a gandhabba merges with it!

Một hợp tử trong tử cung trở thành con người ngay khi một gandhabba kết hợp với nó!

  • See “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception

Xem “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception

  • It does not matter whether people can make ridiculous arguments like those in #7. Aborting a baby anytime after conception is a pāṇātipātā or “taking a life,” not just any life, but a human life!

Không quan trọng việc người ta có thể đưa ra những lập luận vô lý như ở mục #7 hay không. Phá thai vào bất kỳ thời điểm nào sau khi thụ thai đều là pāṇātipātā hay “tước đoạt mạng sống,” không chỉ là bất kỳ sự sống nào, mà là một mạng người!

The Physical Human Body Is Just a Shell – Gandhabba Makes It Alive

Thân Người Vật Lý Chỉ Là Một Cái Vỏ – Gandhabba Làm Cho Nó Sống

  1. Recent accounts of Near-Death Experiences (NDE) show that human life is much more complex than many believe. A physical body without a gandhabba inside is lifeless.

Những tường thuật gần đây về Trải nghiệm Cận tử (NDE) cho thấy đời sống con người phức tạp hơn nhiều so với điều nhiều người tin. Một thân vật lý không có gandhabba bên trong thì là vô sinh khí.

  • NDE accounts confirm that the physical body shows no sign of life (heartbeat, pulse, brain activity, etc.) for many minutes. The startling fact is that during that time, that person had been watching the whole situation from the ceiling of the hospital room!

Các tường thuật NDE xác nhận rằng thân vật lý không có dấu hiệu sự sống nào (nhịp tim, mạch, hoạt động não, v.v.) trong nhiều phút. Điều gây kinh ngạc là trong suốt thời gian đó, người ấy đã quan sát toàn bộ tình huống từ trần phòng bệnh viện!

  • A gandhabba can see without “physical eyes” while outside a physical body. This critical point has been illustrated in the following video. The woman had never experienced vision (due to her physical eyes being damaged), and she could see for the first time in her life when she had an NDE. The ability to see goes away after the NDE experience once the gandhabba goes inside the physical body.

Một gandhabba có thể nhìn mà không cần “mắt vật lý” khi ở ngoài thân vật lý. Điểm then chốt này được minh họa trong video sau. Người phụ nữ đó chưa từng có trải nghiệm nhìn thấy (do mắt vật lý của cô bị tổn thương), và cô đã có thể nhìn thấy lần đầu tiên trong đời khi trải qua một NDE. Khả năng nhìn thấy ấy biến mất sau trải nghiệm NDE khi gandhabba đi trở lại vào thân vật lý.

WebLink: youtube: Near Death Experience – Blind woman ‘sees’ while out of body

  • Details: “Near-Death Experiences (NDE): Brain Is Not the Mind.”

Chi tiết: “Near-Death Experiences (NDE): Brain Is Not the Mind.”

Scientific Consensus – Life Begins With a Zygote

Đồng Thuận Khoa Học – Sự Sống Bắt Đầu Từ Một Hợp Tử

  1. Most scientists agree that human life begins at conception, i.e., fertilization or the “joining of an egg and a sperm” to produce a zygote.

Hầu hết các nhà khoa học đều đồng ý rằng sự sống con người bắt đầu vào lúc thụ thai, tức là lúc thụ tinh hay “sự kết hợp của trứng và tinh trùng” để tạo thành một hợp tử.

Xem, chẳng hạn, “WebLink: PDF Download: Embryonic Human Persons-2009” và “WebLink: PDF Download: Personhood status of the human zygote,-2017.”

  • That position is close to the Buddhist position.

Quan điểm đó khá gần với lập trường của Phật giáo.

  • The only difference is that, in Buddha Dhamma, a human gandhabba must merge with a zygote for that zygote to become alive. A zygote by itself is inert, just like an egg or a sperm.

Điểm khác biệt duy nhất là, trong Dhamma của Đức Phật, một gandhabba con người phải kết hợp với một hợp tử thì hợp tử đó mới trở thành sống. Bản thân một hợp tử tự nó là vô tri, giống như trứng hay tinh trùng.

  1. We don’t need scientific evidence to realize that a fetus inside a womb is alive. How can anyone watching the following videos say that a baby growing inside a womb is not alive?

Chúng ta không cần bằng chứng khoa học để nhận ra rằng một bào thai trong tử cung là đang sống. Làm sao bất kỳ ai xem những video sau đây lại có thể nói rằng một em bé đang phát triển trong tử cung là không sống?

WebLink: youtube: Is an Embryo a Person? | When Does Life Begin?

WebLink: youtube: Fetal Development Week by Week Overview

  • The following additional information may be helpful to some readers.

Những thông tin bổ sung sau đây có thể hữu ích cho một số độc giả.

Javana Power in Kamma Viññāṇa Responsible for All Births

Năng Lực Javana Trong Kamma Viññāṇa Chịu Trách Nhiệm Cho Mọi Sự Sinh

  1. As discussed above, any birth starts with an opapātika Furthermore, the subtle manomaya kāya produced by kammic energy is unimaginably “small.” We can consider an analogy to get an idea. If you take a drop of water and put it on a hot pan, it will vaporize instantly, and you will barely see a plume of water vapor. Now, imagine that drop of water to be a million-fold smaller. That is an analogy of the “size” of the manomaya kāya. That is why scientists cannot detect any change in the zygote when a gandhabba merges with a zygote at conception.

Như đã bàn ở trên, bất kỳ sự sinh nào cũng bắt đầu bằng một sự sinh opapātika. Hơn nữa, manomaya kāya vi tế do năng lượng kamma tạo ra thì “nhỏ” đến mức không thể tưởng tượng được. Chúng ta có thể dùng một phép so sánh để hình dung. Nếu bạn lấy một giọt nước và nhỏ lên một cái chảo nóng, nó sẽ bốc hơi ngay lập tức, và bạn hầu như chỉ vừa đủ thấy một làn hơi nước mỏng. Bây giờ, hãy tưởng tượng giọt nước đó còn nhỏ hơn một triệu lần nữa. Đó là một phép so sánh về “kích thước” của manomaya kāya. Đó là lý do vì sao các nhà khoa học không thể phát hiện bất kỳ thay đổi nào trong hợp tử khi một gandhabba kết hợp với hợp tử vào lúc thụ thai.

  • When a baby grows inside a womb, food to grow the baby’s physical body comes from the mother through the umbilical cord. As that physical body grows, the manomaya kāya/gandhabba expands (like that plume of water vapor) to spread throughout the physical body.

Khi em bé phát triển trong tử cung, thức ăn để nuôi lớn thân vật lý của em bé đến từ người mẹ thông qua dây rốn. Khi thân vật lý đó lớn lên, manomaya kāya/gandhabba cũng mở rộng ra (giống như làn hơi nước đó) để lan khắp thân vật lý.

  • Several posts have explained that the all-important sensing elements (hadaya vatthu and five pasāda rūpa) are in that invisible gandhabba kāya. See “Brain and the Gandhabba.”

Một số bài viết đã giải thích rằng các yếu tố cảm nhận tối quan trọng (hadaya vatthu và năm pasāda rūpa) nằm trong gandhabba kāya vô hình đó. Xem “Brain and the Gandhabba.”

  1. It is a good idea to make the connection to Paṭicca Samuppāda as well.

Cũng rất nên nối điều này với Paṭicca Samuppāda.

  • The uppatti Paṭicca Samuppāda starts with “avijjā paccayā saṅkhāra” and ends with “upādāna paccayā bhava” and “bhava paccayā jāti.” The “upādāna paccayā bhava” step is where a new opapātika birth takes place. (Then, the “bhava paccayā jāti” step leads to a jalābuja birth for a human; for an animal, it could be any of the aṇḍajā, jalābujā, or saṁsedaja birth, depending on the type of animal.)

Uppatti Paṭicca Samuppāda bắt đầu với “avijjā paccayā saṅkhāra” và kết thúc với “upādāna paccayā bhava” và “bhava paccayā jāti.” Bước “upādāna paccayā bhava” là nơi một sự sinh opapātika mới diễn ra. (Sau đó, bước “bhava paccayā jāti” dẫn đến một sự sinh jalābuja đối với con người; còn đối với động vật, đó có thể là aṇḍajā, jalābujā, hoặc saṁsedaja, tùy vào loài động vật.)

  • The steps “avijjā paccayā (abhi)saṅkhāra” through “(kamma)viññāṇa paccayā nāmarūpa” steps MUST produce energy to create the manomaya kāya associated with the opapātika That energy is the javana power in kamma viññāṇa! See “Javana of a Citta – The Root of Mental Power.”

Các bước từ “avijjā paccayā (abhi)saṅkhāra” cho đến “(kamma)viññāṇa paccayā nāmarūpa” PHẢI tạo ra năng lượng để tạo thành manomaya kāya gắn liền với sự sinh opapātika. Năng lượng đó chính là năng lực javana trong kamma viññāṇa! Xem “Javana of a Citta – The Root of Mental Power.”

  • It is, in fact, in the critical step of “(kamma)viññāṇa paccayā nāmarūpa” that the mind “combines nāma and rūpa” to generate kammic energy for future saḷāyatana (i.e., sensing elements) in manomaya kāya of future opapātika That is a subtle point. See “Viññāṇa Paccayā Nāmarūpa.”

Thật ra, chính ở bước then chốt “(kamma)viññāṇa paccayā nāmarūpa” mà tâm “kết hợp nāma và rūpa” để tạo ra năng lượng kamma cho saḷāyatana trong tương lai (tức là các yếu tố cảm nhận) trong manomaya kāya của những sự sinh opapātika trong tương lai. Đây là một điểm vi tế. Xem “Viññāṇa Paccayā Nāmarūpa.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *