Four Noble Truths – Suffering and Its Elimination / Bốn Sự Thật Cao Quý – Khổ và Sự Diệt Khổ

January 6, 2019; revised May 26, 2021; May 27, 2021; March 27, 2023

Ngày 06/01/2019; sửa ngày 26/05/2021; ngày 27/05/2021; ngày 27/03/2023

Four Noble Truths are discussed. The Buddha said, “my teachings have not been known in this world previously.” It is about stopping future suffering.

Bốn Sự Thật Cao Quý được thảo luận. Đức Phật dạy rằng: “Giáo pháp của Ta trước đây chưa từng được biết đến trong thế gian này.” Giáo pháp ấy nói về việc chấm dứt khổ đau trong tương lai.

Introduction

Dẫn nhập

  1. The First Noble Truth is about the suffering we can stop from arising.

Sự Thật Cao Quý thứ nhất nói về những khổ đau mà chúng ta có thể ngăn chặn không cho sinh khởi.

  • The second describes how suffering arises from our cravings (which we manifest via saṅkhāra that we generate willingly, as we have discussed; see, “Saṅkhāra – What It Really Means”). I will write a simpler version in the next post.

Sự Thật Cao Quý Thứ Hai mô tả cách khổ đau khởi sinh từ các tham ái của chúng ta (những tham ái này được biểu hiện qua saṅkhāra mà ta cố ý tạo ra, như đã bàn; xem “Saṅkhāra – What It Really Means”). Tôi sẽ viết một phiên bản đơn giản hơn trong bài sau.

  • The Third Noble Truth says we can stop future suffering by eliminating those cravings. That REQUIRES an understanding of the broader worldview of the Buddha with the rebirth process within the 31 realms.

Sự Thật Cao Quý Thứ Ba nói rằng chúng ta có thể chấm dứt khổ đau trong tương lai bằng cách đoạn trừ các tham ái đó. Điều này ĐÒI HỎI phải hiểu thế giới quan rộng lớn của Đức Phật, bao gồm tiến trình tái sinh trong 31 cõi.

  • The Fourth Noble Truth is the path to acquiring that understanding by “learning and living” that Dhammā (following the Noble Eightfold Path).

Sự Thật Cao Quý Thứ Tư  là con đường để đạt được sự hiểu biết ấy bằng cách “học và sống” theo Dhammā đó (tức là thực hành Bát Thánh Đạo).

  1. The Buddha said, “my Dhammā has not been previously known in this world.”

Đức Phật dạy rằng: “Dhammā của Ta trước đây chưa từng được biết đến trong thế gian này.”

  • What is new about knowing that there is suffering around us? Everybody knows there is suffering from old age, diseases, poverty, etc. One does not have to be a Buddhist to see that.

Điều gì là mới mẻ khi biết rằng quanh ta có khổ đau? Ai cũng biết rằng có khổ do già, bệnh, nghèo khó, v.v. Không cần phải là Phật tử cũng thấy được điều đó.

  • So, we need to figure out “what is new” about suffering explained in the First Noble Truth.

Vì vậy, chúng ta cần tìm ra “điều mới mẻ” trong cách khổ được trình bày trong Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất.

The First Noble Truth – What is Suffering

Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất – Khổ Là Gì

  1. I have discussed the First Noble Truth in the post, “Essence of Buddhism – In the First Sutta.” Summary:

Tôi đã bàn về Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất trong bài “Essence of Buddhism – In the First Sutta.” Tóm tắt:

“Birth is suffering, getting old is suffering, getting sick is suffering, dying is suffering. Having to associate with things one does not like is suffering, and so is separation from those things one likes. If one does not get what one likes (icchā), that is suffering – in brief, the origin of suffering is the craving for the five aggregates of rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa (pañcupādānakkhandha). All we crave in this world are represented by pañcupādānakkhandha (upādāna or craving for the pañcakkhandha). [saṅkhittena means through overthrown by defilements, khitta : [pp. of khipati] thrown; overthrown; casted away; upset.]

“Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ. Phải gắn bó với những gì mình không ưa là khổ, và phải xa lìa những gì mình ưa thích cũng là khổ. Nếu không đạt được điều mình mong muốn (icchā), đó là khổ – nói gọn lại, cội nguồn của khổ là sự tham ái đối với năm uẩn rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa (pañcupādānakkhandha). Tất cả những gì chúng ta tham cầu trong thế gian này đều được đại diện bởi pañcupādānakkhandha (upādāna hay sự tham ái đối với pañcakkhandha). [saṅkhittena nghĩa là “bị khuấy động bởi nhiễm ô”; khitta [quá khứ phân từ của khipati]: bị ném, bị khuấy động, bị quăng bỏ, bị xáo trộn.]

  • (Here, I have translated upādāna as craving. However, the word upādāna CANNOT BE translated by just one word. It is a good idea to grasp the meaning. See, “Concepts of Upādāna and Upādānakkhandha.”)

(Ở đây, tôi dịch upādāna là “tham ái”. Tuy nhiên, từ upādāna KHÔNG THỂ dịch chỉ bằng một từ. Điều quan trọng là phải nắm được ý nghĩa của nó. Xem “Concepts of Upādāna and Upādānakkhandha.”)

  • There is a deeper meaning in part, “If one does not get what one likes (icchā), that is suffering.” That is connected to the anicca

Có một ý nghĩa sâu hơn trong câu “Nếu không đạt được điều mình mong muốn (icchā), đó là khổ.” Điều này liên hệ đến bản chất anicca.

  1. Just as in science, something comes about due to causes. Our present life as humans has come about due to causes (kamma) done in the past. Some of those were “good kamma,” which is why we can enjoy some pleasures. Bad kammā has led to instances of suffering.

Cũng giống như trong khoa học, mọi sự đều sinh khởi do các nguyên nhân. Đời sống hiện tại của chúng ta làm người là kết quả của các nguyên nhân (kamma) đã tạo trong quá khứ. Một số là “kamma tốt”, nhờ đó ta có thể hưởng được một số lạc thú. Các kammā xấu đã dẫn đến những trường hợp khổ đau.

  • But there are lower realms, including the animal realm, where suffering is much higher. Bad kammā lead to such births.

Nhưng còn có những cảnh giới thấp hơn, bao gồm cả cõi súc sinh, nơi khổ đau nhiều hơn rất nhiều. Các kammā xấu dẫn đến những sự tái sinh như vậy.

  • Suffering in the four lowest realms is real suffering. That is what we first need to focus on.

Khổ trong bốn cảnh giới thấp nhất là khổ thực sự. Đó là điều trước hết chúng ta cần chú trọng.

  • And all that suffering arises because we crave things in this world because of our avijjā (not comprehending the Four Noble Truths).

Và tất cả khổ đau ấy phát sinh vì chúng ta tham cầu các thứ trong thế gian này do avijjā của mình (không thấu hiểu Bốn Sự Thật Cao Quý).

  1. Seeing this hidden suffering is indeed difficult. When the Buddha attained Buddhahood, he was worried about whether he could convey these deep ideas to most people.

Việc thấy được khổ đau ẩn giấu này quả thật rất khó. Khi Đức Phật thành tựu giác ngộ, Ngài đã lo lắng không biết liệu có thể truyền đạt những ý nghĩa sâu xa này cho phần lớn mọi người hay không.

  • It is natural to seek pleasure and happiness. Some people act immorally, seeking such pleasures. The consequences of such immoral acts are not apparent. We can see a stone thrown up and coming down, but we cannot see any bad consequences to the drug dealer who seems to be enjoying life.

Con người vốn tự nhiên tìm cầu khoái lạc và hạnh phúc. Một số người hành động bất thiện để đạt được những khoái lạc ấy. Hậu quả của những hành động bất thiện đó không hiện rõ. Ta có thể thấy hòn đá bị ném lên rồi rơi xuống, nhưng lại không thấy được hậu quả xấu nào đối với kẻ buôn ma túy đang có vẻ “hưởng thụ cuộc sống”.

The Second Noble Truth – Causes for Future Suffering

Sự Thật Cao Quý Thứ Hai – Nguyên Nhân Của Khổ Trong Tương Lai

  1. The cause of future suffering is indicated indirectly in the First Noble Truth: Craving sensory pleasures. Suppose we do immoral things to get such sensory pleasures. The worst outcomes (rebirths in the apāyā) will result.

Nguyên nhân của khổ trong tương lai được chỉ ra gián tiếp trong Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất: sự tham cầu các khoái lạc giác quan. Giả sử ta làm những điều bất thiện để có được các khoái lạc giác quan ấy, thì những kết quả tệ hại nhất (tái sinh vào các apāyā) sẽ xảy ra.

  • For example, person X may kill another person to get money or marry his wife. Even though X may accomplish that goal and “enjoy life” for even 100 years, that is nothing compared to the millions of years of future suffering X will go through due to his immoral action.

Ví dụ, người X có thể giết người khác để chiếm tiền hoặc lấy vợ của nạn nhân. Dù X có thể đạt được mục tiêu đó và “hưởng thụ cuộc sống” trong 100 năm đi nữa, thì cũng chẳng là gì so với hàng triệu năm khổ đau trong tương lai mà X sẽ phải trải qua do hành động bất thiện ấy.

  1. When a fish bites the bait, it does not see the suffering hidden in that action. Looking from the ground, we can see the whole picture and know what will happen to the fish if it bites the bait. But the fish cannot see that whole picture and thus does not see the hidden suffering. It only sees a delicious bit of food.

Khi con cá cắn mồi, nó không thấy được khổ đau ẩn chứa trong hành động đó. Từ trên bờ nhìn xuống, ta có thể thấy toàn cảnh và biết điều gì sẽ xảy ra với con cá khi nó cắn mồi. Nhưng con cá không thấy được toàn cảnh ấy nên không nhận ra khổ đau ẩn giấu; nó chỉ thấy một miếng mồi ngon.

  • In the same way, if we do not know about the wider world of 31 realms (with the suffering-filled four lowest realms), we only focus on what is easily accessible to our six senses.

Tương tự như vậy, nếu chúng ta không biết đến thế giới rộng lớn của 31 cõi (với bốn cảnh giới thấp đầy khổ đau), thì ta chỉ tập trung vào những gì dễ tiếp cận đối với sáu căn của mình.

  • To comprehend suffering through repeated rebirths, one needs to comprehend that most suffering is encountered in the 4 lowest realms (apāyā); see, “The Grand Unified Theory of Dhamma” at puredhamma.net.

Để hiểu được khổ qua nhiều lần tái sinh, cần phải hiểu rằng phần lớn khổ đau được trải nghiệm trong bốn cảnh giới thấp (apāyā); xem “The Grand Unified Theory of Dhamma” tại puredhamma.net.

  • Thus, stopping suffering requires one to be mindful of one’s actions and stop doing bad vacī and kāya saṅkhāra (i.e., immoral thinking, speech, and deeds).

Vì vậy, để chấm dứt khổ, mỗi người cần tỉnh thức trong các hành động của mình và ngừng tạo các vacī và kāya saṅkhāra bất thiện (tức là những suy nghĩ, lời nói và hành động bất thiện).

  1. Therefore, the “previously unheard truth about suffering” that the Buddha revealed is the suffering hidden in sense pleasures. The level of suffering depends on what we do (vacī and kāya saṅkhāra) to get those pleasures. If they are immoral, then the worst suffering in the apāyā will result.

Vì vậy, “sự thật chưa từng được nghe trước đây về khổ” mà Đức Phật đã khai thị chính là khổ đau ẩn giấu trong các khoái lạc giác quan. Mức độ khổ đau tùy thuộc vào những gì ta làm (vacī và kāya saṅkhāra) để đạt được các khoái lạc ấy. Nếu những hành động đó là bất thiện, thì khổ đau tồi tệ nhất trong các apāyā sẽ xảy ra.

  • We believe that those sensory pleasures are to be valued and enjoyed. That is because we do not immediately see the consequences of our harmful actions that we do to get those sensory pleasures.

Chúng ta tin rằng những khoái lạc giác quan ấy là đáng quý và cần được hưởng thụ. Đó là vì chúng ta không thấy ngay được hậu quả của những hành động có hại mà mình làm để đạt được các khoái lạc ấy.

  • For example, if one rapes a woman to get enjoyment for a short time, one could be spending millions of years as an animal in the future because of that immoral action.

Ví dụ, nếu một người cưỡng hiếp một phụ nữ để hưởng thụ trong thời gian ngắn, thì do hành động bất thiện đó, người ấy có thể phải trải qua hàng triệu năm làm súc sinh trong tương lai.

  • However, it may not be easy to grasp this point. One needs to advance step-by-step; see, “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?.”

Tuy nhiên, không dễ để nắm bắt được điểm này. Cần phải tiến lên từng bước; xem “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?.”

  • The first step to reducing suffering in the future is to avoid doing evil deeds (kamma) via thoughts, speech, and bodily actions (again, these are associated with mano, vacī, and kāya saṅkhāra).

Bước đầu tiên để giảm khổ trong tương lai là tránh làm các hành vi ác (kamma) qua ý nghĩ, lời nói và hành động thân (những điều này tương ứng với mano, vacī và kāya saṅkhāra).

  • Therefore, we create our own future happiness via puñña abhisaṅkhāra (good saṅkhāra) or future suffering via apuñña abhisaṅkhāra (bad saṅkhāra).

Do đó, chính chúng ta tạo ra hạnh phúc tương lai của mình qua puñña abhisaṅkhāra (saṅkhāra thiện) hoặc tạo ra khổ đau tương lai qua apuñña abhisaṅkhāra (saṅkhāra bất thiện).

The Third Noble Truth – How to Stop Future Suffering

Sự Thật Cao Quý Thứ Ba – Làm Thế Nào Để Chấm Dứt Khổ Trong Tương Lai

  1. As discussed above, such suffering can arise in this life due to our own (apuññābhi) saṅkhāra (which we generate to satisfy our cravings).

Như đã bàn ở trên, những khổ đau như vậy có thể phát sinh ngay trong đời này do chính các saṅkhāra (apuññābhi) của chúng ta (được tạo ra để thỏa mãn các tham ái).

  • In the same way, one can stop ALL FUTURE SUFFERING by controlling our saṅkhāra.

Tương tự, người ta có thể chấm dứt TOÀN BỘ KHỔ TRONG TƯƠNG LAI bằng cách kiểm soát các saṅkhāra của mình.

  • We attach to things with greed and hate via saṅkhāra, because of our ignorance of the Four Noble Truths (avijjā). As we have discussed, this is the first step in Paṭicca Samuppāda leading to “the whole mass of suffering”: “avijjā paccayā saṅkhāra.”

Chúng ta bám chấp vào các đối tượng bằng tham và sân thông qua saṅkhāra, do vô minh về Bốn Sự Thật Cao Quý (avijjā). Như đã bàn, đây là bước đầu tiên trong Paṭicca Samuppāda dẫn đến “toàn bộ khối khổ”: “avijjā paccayā saṅkhāra.”

  1. The Third Noble Truth is about what can be achieved by systematically removing those causes.

Sự Thật Cao Quý Thứ Ba nói về những gì có thể đạt được bằng cách loại trừ một cách có hệ thống các nguyên nhân ấy.

  • Nirāmisa sukha increases from the point of embarking on the Path and has four levels of PERMANENT increases starting at the Sotāpanna stage and culminating at the Arahant stage. See, for example, “Three Kinds of Happiness – What is Nirāmisa Sukha?.”

Nirāmisa sukha gia tăng kể từ khi bắt đầu bước lên Con đường Tu tập và có bốn mức gia tăng VĨNH VIỄN, bắt đầu từ giai đoạn Sotāpanna và hoàn tất ở giai đoạn Arahant. Xem, ví dụ, “Three Kinds of Happiness – What is Nirāmisa Sukha?.”

  1. To stop the rising of “bad saṅkhāra” we need to do two things: (1) remove avijjā by learning true Dhamma, and (2) make use of our free will to get control of our saṅkhāra (this is the basis of Ānāpānasati/Satipaṭṭhāna).

Để chặn đứng sự sinh khởi của các “saṅkhāra xấu”, chúng ta cần làm hai việc: (1) loại bỏ avijjā bằng cách học Dhamma chân thật, và (2) sử dụng ý chí tự do của mình để kiểm soát các saṅkhāra (đây là nền tảng của Ānāpānasati/Satipaṭṭhāna).

  • A systematic way to achieve this is stated in the Fourth Noble Truth.

Một phương pháp có hệ thống để đạt được điều này được nêu trong Sự Thật Cao Quý Thứ Tư.

The Fourth Noble Truth – The Way to Stop Future Suffering

Sự Thật Cao Quý Thứ Tư – Con Đường Chấm Dứt Khổ Trong Tương Lai

  1. The second Noble Truth describes those CAUSES we need to work on. The root causes are greed, hate, and ignorance, but they need to be removed mainly via understanding the Three Characteristics (Tilakkhaṇa) and also via removing our bad sansāric habits; see a series of posts starting with, “Habits, Goals, Character (Gati)” to “The Way to Nibbāna – Removal of Āsavas.”

Sự Thật Cao Quý Thứ Hai mô tả những NGUYÊN NHÂN mà chúng ta cần xử lý. Các nguyên nhân gốc đó là tham, sân và vô minh, nhưng chúng cần được loại bỏ chủ yếu thông qua việc thấu hiểu Ba Đặc Tính (Tilakkhaṇa) và đồng thời loại trừ các thói quen luân hồi xấu của mình; xem chuỗi bài viết bắt đầu từ “Habits, Goals, Character (Gati)” đến “The Way to Nibbāna – Removal of Āsavas.”

  • The way to achieve this is to follow the Noble Eightfold Path: Sammā Diṭṭhi (understanding what is embedded in the Four Noble Truths), and then thinking (saṅkappa), speaking (vācā), acting (kammanta), living one’s whole life that way (ājīva), striving harder (vāyāma), getting to the right mindset (sati), and finally to samādhi.

Cách để đạt được điều này là thực hành Bát Thánh Đạo: Sammā Diṭṭhi (hiểu rõ những gì được hàm chứa trong Bốn Sự Thật Cao Quý), rồi đến tư duy (saṅkappa), lời nói (vācā), hành động (kammanta), sinh sống phù hợp (ājīva), tinh tấn (vāyāma), chánh niệm (sati), và cuối cùng là samādhi.

  1. When we follow the Noble Eightfold Path, nirāmisa sukha arises first, and then various stages of Nibbāna.

Khi chúng ta thực hành Bát Thánh Đạo, nirāmisa sukha sinh khởi trước, rồi sau đó là các tầng mức khác nhau của Nibbāna.

  • Nirāmisa sukha starts when one lives a moral life (see “Ten Immoral Actions (Dasa Akusala)” and follow-up posts).

Nirāmisa sukha bắt đầu khi một người sống đời đạo đức (xem “Ten Immoral Actions (Dasa Akusala)” và các bài viết tiếp theo).

  • The root causes of immoral behavior are greed, hate, and ignorance. We can reduce ignorance to the level of the Sotāpanna stage just via comprehending the Three Characteristics of “this world of 31 realms,” i.e., anicca, dukkha, anatta; see, “Anicca, Dukkha, Anatta – Wrong Interpretations,” and the follow-up posts. It is that powerful.

Các căn nguyên của hành vi bất thiện là tham, sân và vô minh. Chúng ta có thể giảm vô minh xuống đến mức của giai đoạn Sotāpanna chỉ bằng cách thấu hiểu Ba Đặc Tính của “thế giới 31 cõi”, tức là anicca, dukkha, anatta; xem “Anicca, Dukkha, Anatta – Wrong Interpretations” và các bài viết tiếp theo. Sức mạnh của sự hiểu biết đó là như vậy.

Why Is It Hard to See the “Hidden Suffering”? – Time Lag

Vì Sao Khó Thấy Được “Khổ Đau Ẩn Tàng”? – Độ Trễ Thời Gian

  1. The main problem in clearly seeing the “cause and effect of mind actions” is that the results of those actions have a time delay and that the time delay itself is not predictable.

Vấn đề chính khiến ta khó thấy rõ “nhân và quả của các hành động tâm” là vì kết quả của những hành động ấy có độ trễ thời gian, và chính độ trễ đó lại không thể dự đoán được.

  • In contrast, it is easy to predict what will happen with material things (moving an object, a vehicle, a rocket, etc.). The success of physical sciences is due to this reason. Once the underlying laws are found (laws of gravity, laws of motion, electromagnetism, nuclear forces, quantum mechanics, etc.), one has complete control.

Ngược lại, với các sự vật vật chất thì dễ dự đoán điều gì sẽ xảy ra (di chuyển một vật, một chiếc xe, một tên lửa, v.v.). Thành công của các khoa học vật lý là nhờ điều này. Khi các định luật nền tảng được phát hiện (định luật hấp dẫn, định luật chuyển động, điện từ học, lực hạt nhân, cơ học lượng tử, v.v.), người ta có thể kiểm soát hoàn toàn.

  1. But the mind is very different. To begin with, no two minds work the same way. Under a given set of conditions, each mind will choose to act differently. With physical objects, that is not so; under a given set of conditions, what will happen can be predicted accurately.

Nhưng tâm thì rất khác. Trước hết, không có hai cái tâm nào vận hành giống hệt nhau. Trong cùng một tập hợp điều kiện, mỗi tâm sẽ chọn hành động khác nhau. Với các vật thể vật lý thì không như vậy; trong cùng một tập hợp điều kiện, điều gì xảy ra có thể được dự đoán chính xác.

  • Effects of some actions (kamma) may not materialize in this life and sometimes may come to fruition only in many lives down the road (but with accumulated interest).

Hậu quả của một số hành động (kamma) có thể không trổ quả trong đời này, và đôi khi chỉ chín muồi sau nhiều đời về sau (nhưng có kèm theo “lãi suất” tích lũy).

  • Even in this life, mental phenomena are complex: This is why economics is not a “real science.” It involves how people sometimes act “irrationally” for perceived gains. No economic theory can precisely predict how a given stock market will perform.

Ngay cả trong đời này, các hiện tượng tâm lý cũng rất phức tạp: đó là lý do vì sao kinh tế học không phải là một “khoa học thực sự”. Nó liên quan đến việc con người đôi khi hành động “phi lý” để đạt những lợi ích mà họ tưởng là có. Không một lý thuyết kinh tế nào có thể dự đoán chính xác thị trường chứng khoán sẽ vận hành ra sao.

  1. This “cause and effect” that involves the mind is the principle of kamma and kamma vipāka in Buddha Dhamma.

“Nhân và quả” liên quan đến tâm này chính là nguyên lý kamma và kamma vipāka trong Dhamma của Đức Phật.

  • But unlike in Hinduism, kamma is not deterministic, i.e., not all kamma vipāka have to come to fruition; see, “What is Kamma? Is Everything Determined by Kamma?.”

Nhưng khác với trong Ấn giáo, kamma không mang tính định mệnh, tức là không phải mọi kamma vipāka đều buộc phải trổ quả; xem “What is Kamma? Is Everything Determined by Kamma?.”

  • Suitable CONDITIONS must be there to bring good or bad kamma vipāka to fruition. That is why kamma is not deterministic, and we can stop ALL future suffering.

Cần phải có các ĐIỀU KIỆN thích hợp thì kamma vipāka tốt hay xấu mới có thể trổ quả. Vì vậy kamma không mang tính định mệnh, và chúng ta có thể chấm dứt TOÀN BỘ khổ đau trong tương lai.

  • We need to get rid of avijjā and taṇhā, two critical steps in Paṭicca Samuppāda. That is how Aṅgulimāla overcame all that bad kamma of killing almost 1000 people.

Chúng ta cần loại bỏ avijjā và taṇhā, hai mắt xích then chốt trong Paṭicca Samuppāda. Đó là cách mà Aṅgulimāla đã vượt qua toàn bộ kamma xấu do đã giết gần 1000 người.

We Can Eliminate Only a Part of the Suffering Encountered in This Life

Chúng Ta Chỉ Có Thể Loại Bỏ Một Phần Khổ Gặp Phải Trong Đời Này

Finally, let us look into what kind of suffering can be stopped from arising and gain confidence in Buddha Dhamma. One does not need to believe Buddha’s teachings blindly.

Cuối cùng, hãy xem loại khổ nào có thể được ngăn không cho phát sinh và từ đó có được niềm tin vào Dhamma của Đức Phật. Không cần phải tin giáo pháp của Ngài một cách mù quáng.

  1. There are two types of vedanā (feelings); see, “Vedanā (Feelings) Arise in Two Ways.”

Có hai loại vedanā (cảm thọ); xem “Vedanā (Feelings) Arise in Two Ways.”

  • First is due to kamma vipāka.

Loại thứ nhất là do kamma vipāka.

  • The second is mental suffering due to saṅkhāra (via attachment to sensual pleasures and friction (paṭigha) due to things we don’t like). This could lead to depression.

Loại thứ hai là khổ về tâm do saṅkhāra (do dính mắc vào khoái lạc giác quan và do sự đối kháng (paṭigha) với những điều ta không ưa). Điều này có thể dẫn đến trầm cảm.

  1. This life is the RESULT of past kamma. Once life starts, it cannot be stopped until “its kammic energy” is exhausted. This life WILL end up in old age, decay, and eventual death.

Đời sống này là KẾT QUẢ của kamma trong quá khứ. Khi đời sống đã bắt đầu, nó không thể chấm dứt cho đến khi “năng lực kamma” của nó cạn kiệt. Đời sống này CHẮC CHẮN sẽ đi đến già, suy hoại và cuối cùng là chết.

  • Therefore, if someone has aches and pains due to old age, it is impossible to get rid of them other than to use medications or therapy to lessen and manage the pain.

Vì vậy, nếu ai đó đau nhức do tuổi già, thì không thể loại bỏ hoàn toàn, ngoài việc dùng thuốc hay trị liệu để giảm và kiểm soát cơn đau.

  • Even the Buddha had back pain due to old age and had a severe stomach ache at the end.

Ngay cả Đức Phật cũng bị đau lưng do tuổi già và bị đau bụng nặng vào lúc cuối đời.

  • One may get injured, come down with a disease, etc.

Người ta có thể bị thương, mắc bệnh, v.v.

  • All these are due to kamma vipāka.

Tất cả những điều này đều là do kamma vipāka.

  1. On the other hand, it is possible to stop the second type (“mental suffering”) that arises due to our own way of thinking (again, our own vacī saṅkhāra).

Mặt khác, ta có thể chấm dứt loại thứ hai (“khổ tâm”) vốn phát sinh do chính cách suy nghĩ của mình (tức là do các vacī saṅkhāra của chính mình).

  • Therefore, we can EXPERIENCE the relief from suffering (called nirāmisa sukha) in this life itself.

Vì vậy, chúng ta có thể trực tiếp TRẢI NGHIỆM sự nhẹ nhõm khỏi khổ đau (gọi là nirāmisa sukha) ngay trong chính đời này.

  • The suffering (or vedanā) that a living Arahant has eliminated is called “samphassa jā vedanā.” This is what leads to depression in some people.

Khổ (hay vedanā) mà một vị Arahant đang sống đã đoạn trừ được gọi là “samphassa jā vedanā”. Đây chính là thứ dẫn đến trầm cảm ở một số người.

  • Here, “samphassa” is “saŋ” + “phassa,” or “contact with one’s defilements (saŋ).”; see, “What is “Saŋ”? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra).”

Ở đây, “samphassa” là “saŋ” + “phassa”, tức là “sự tiếp xúc với các ô nhiễm của chính mình (saŋ)”; xem “What is “Saŋ”? Meaning of Sansāra (or Saṁsāra).”

Humans Have Free Will to Eliminate Future Suffering

Con Người Có Ý Chí Tự Do Để Loại Trừ Khổ Trong Tương Lai

  1. The life we have as humans is a RESULT of a past good deed – a dog’s or an ant’s life results from a past deed by that sentient being.

Đời sống làm người của chúng ta là KẾT QUẢ của một hành động thiện trong quá khứ – đời sống của một con chó hay con kiến là kết quả của hành động quá khứ của chính chúng sinh đó.

  • And what happens to us in this life is a COMBINATION of what we have done in the past (kamma vipāka) AND what we do in this life.

Và những gì xảy ra với chúng ta trong đời này là SỰ KẾT HỢP giữa những gì ta đã làm trong quá khứ (kamma vipāka) VÀ những gì ta làm trong đời này.

  • What happens to an animal is MOSTLY due to kamma vipāka from the past.

Những gì xảy ra với loài vật HẦU HẾT là do kamma vipāka trong quá khứ.

  • The difference between a human and an animal is that the animal has little control over what will happen to it. But human birth is a special one: We have a higher level mind that CAN change the future to some extent, and with possible enormous consequences.

Sự khác biệt giữa con người và loài vật là loài vật hầu như không kiểm soát được những gì sẽ xảy ra với mình. Nhưng thân người là đặc biệt: chúng ta có một tâm ở mức cao hơn, CÓ THỂ thay đổi tương lai ở một mức độ nào đó, với những hệ quả có thể rất lớn.

  • We have free will, and animals (or those beings in other lower realms) do not. We can control our saṅkhāra, and they cannot. It is hard to get a human birth. We should not waste this opportunity.

Chúng ta có ý chí tự do, còn loài vật (hay các chúng sinh ở những cảnh giới thấp khác) thì không. Chúng ta có thể kiểm soát các saṅkhāra của mình, còn họ thì không. Thân người rất khó được; chúng ta không nên phí bỏ cơ hội này.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *