Dukkha – Previously Unknown Truth About Suffering / Dukkha – Chân Lý Chưa Từng Được Biết Về Khổ Đau

September 30, 2023

Ngày 30/09/2023

Dukkha in Buddhism is not only about the dukha vedanā or the feeling of pain/depression felt at any given moment. It is about the root causes of future suffering. Even the pleasurable experiences of an average person perpetuate future suffering. That is the “previously unheard” teachings of a Buddha.

Dukkha trong Phật giáo không chỉ là dukha vedanā hay cảm giác đau đớn/trầm uất được cảm nhận tại một thời điểm nào đó. Nó liên quan đến những nguyên nhân gốc rễ của khổ đau trong tương lai. Ngay cả những trải nghiệm dễ chịu của một người bình thường cũng duy trì khổ đau về sau. Đó chính là giáo pháp “chưa từng được nghe trước đây” của một vị Phật.

Dukha and DukkhaBuddha Dhamma Is About Dukkha

Dukha và Dukkha – Dhamma của Đức Phật Là Về Dukkha

  1. In a previous post, “Anicca Nature – Chasing Worldly Pleasures Is Pointless,” we discussed the fact that average humans (puthujjana) who have not understood Buddha’s teachings have only one option to overcome disliked sensory experiences or depressing situations: They seek more sensory pleasures.

Trong một bài trước, “Anicca Nature – Chasing Worldly Pleasures Is Pointless,” chúng ta đã bàn rằng những người bình thường (puthujjana) chưa hiểu giáo pháp của Đức Phật chỉ có một lựa chọn để vượt qua các trải nghiệm giác quan khó chịu hay hoàn cảnh gây buồn chán: họ tìm kiếm thêm lạc thú giác quan.

  • However, as pointed out there, the Buddha has explained a previously unknown option. A “suffering-free pure mind” (pabhassara citta) is hidden underneath our defiled minds. When we seek worldly/sensory pleasures, our actions tend to conceal the “pure mind” further.

Tuy nhiên, như đã chỉ ra ở đó, Đức Phật đã trình bày một lựa chọn chưa từng được biết đến trước đây. Một “tâm trong sáng không còn khổ đau” (pabhassara citta) ẩn dưới tâm bị ô nhiễm của chúng ta. Khi ta tìm kiếm lạc thú thế gian/giác quan, hành động của ta có xu hướng che phủ “tâm trong sáng” ấy sâu hơn nữa.

  • If one attaches with rāga (liking the sense input based on “sukha vedanā”), one may engage in immoral deeds to get “more of it,” leading to future “bad outcomes” or “future suffering.” Even without immoral deeds, just the attachment itself keeps one bound to “kāma loka.”

Nếu một người dính mắc với rāga (ưa thích đối tượng giác quan dựa trên “sukha vedanā”), người ấy có thể thực hiện các hành vi bất thiện để có “nhiều hơn nữa,” dẫn đến “kết quả xấu” hay “khổ đau trong tương lai.” Ngay cả khi không làm điều bất thiện, chỉ riêng sự dính mắc ấy cũng giữ người đó bị ràng buộc trong “kāma loka.”

  • Attachment due to dosa (dislike for the sense input “dukha vedanā”) definitely leads to immoral deeds.

Sự dính mắc do dosa (không ưa đối tượng giác quan mang “dukha vedanā”) chắc chắn dẫn đến các hành vi bất thiện.

  • Even in the absence of rāga and dosa, one’s mind is ALWAYS contaminated with moha (ignorance of the “real nature of the world.”) Thus, even in the vast majority of cases where “neutral” or “adukkhamasukhavedanā arises, there is a subtle attachment based on one’s distorted views/perceptions (diṭṭhi and saññā vipallāsa) about the world. This is harder to see at first.

Ngay cả khi không có rāga và dosa, tâm vẫn LUÔN bị ô nhiễm bởi moha (vô minh về “bản chất thực sự của thế gian.”) Vì vậy, trong phần lớn các trường hợp khi vedanā “trung tính” hay “adukkhamasukha” sinh khởi, vẫn có một sự dính mắc vi tế dựa trên các quan điểm/nhận thức sai lệch (diṭṭhi và saññā vipallāsa) về thế gian. Điều này ban đầu khó nhận ra.

  1. Therefore, each sensory event leads one away from the “hidden pure mind” or the pabhassara citta. Please read the above-mentioned post to ensure you understand that critical point.

Vì vậy, mỗi sự kiện giác quan đều dẫn người ta rời xa “tâm trong sáng ẩn giấu” hay pabhassara citta. Hãy đọc lại bài đã đề cập ở trên để đảm bảo bạn hiểu điểm then chốt đó.

  • Another way to say the above is as follows: An average person (puthujjana) who has not comprehended Buddha’s teachings is ALWAYS on a downward path, away from Nibbāna (suffering-free pure mind.) In Pāli, this is called “ācayagāmi (pronounced “aachayagaami”) or “moving away from Nibbāna.” That is the tendency to go in the direction of the “saṁsāric flood” (“ogha” in Pāli.)

Một cách nói khác là: Một người bình thường (puthujjana) chưa thấu hiểu giáo pháp của Đức Phật LUÔN ở trên con đường đi xuống, rời xa Nibbāna (tâm trong sáng không còn khổ đau). Trong tiếng Pāli, điều này được gọi là “ācayagāmi” (phát âm “aachayagaami”) hay “đi xa khỏi Nibbāna.” Đó là xu hướng trôi theo “dòng lũ saṁsāra” (“ogha” trong tiếng Pāli).

  • When one starts understanding the world’s anicca, dukkha, and anatta nature, one will start losing attachment to sensory inputs. That cannot happen with only willpower. One’s wrong views and perceptions (diṭṭhi and saññā vipallāsa) about the world start to wear away AUTOMATICALLY when one starts comprehending the anicca, dukkha, and anatta nature with wisdom (paññā.) When that happens, one starts going “against the flood.” See #4 of “Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi – A Critical Verse.”

Khi một người bắt đầu hiểu bản chất anicca, dukkha và anatta của thế gian, người ấy sẽ dần buông bớt sự dính mắc vào các kích thích giác quan. Điều đó không thể xảy ra chỉ bằng ý chí. Những tà kiến và nhận thức sai lệch (diṭṭhi và saññā vipallāsa) về thế gian sẽ TỰ ĐỘNG dần phai mờ khi người ấy bắt đầu thấu hiểu bản chất anicca, dukkha và anatta bằng trí tuệ (paññā). Khi điều đó xảy ra, người ấy bắt đầu đi “ngược dòng lũ.” Xem mục #4 của “Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi – A Critical Verse.”

  • Here, it is critical to note that Buddha’s teachings are not about getting rid of painful feelings felt in the present life (dukha) but about ending unimaginable suffering in the rebirth process (Dukkha Sacca); see “Does the First Noble Truth Describe only Suffering?

Ở đây, điều quan trọng cần lưu ý là giáo pháp của Đức Phật không nhằm loại bỏ những cảm giác đau đớn trong đời sống hiện tại (dukha), mà nhằm chấm dứt khổ đau không thể tưởng tượng trong tiến trình tái sinh (Dukkha Sacca); xem “Does the First Noble Truth Describe only Suffering?

Origin of Suffering – Dukkha Sutta

Nguồn Gốc Của Khổ Đau – Dukkha Sutta

  1. The WebLink: suttacentral: Dukkha Sutta (SN 12.43) states ( 1 gives the Pāli verse), “Bhikkhus, what is the origin of suffering? Depending on cakkhu and rūpa, eye-consciousness arises. That rūpa may trigger “defiled gati” (saṅgati or saŋ gati) in mind. That generates “mind-made vedanā.” Based on that “mind-made vedanā” the mind attaches (taṇhā) to that sensory input. Bhikkhus, that is the origin of suffering.”

WebLink: suttacentral: Dukkha Sutta (SN 12.43) nêu rõ (Tài liệu tham khảo 1 cung cấp câu Pāli): “Này các bhikkhu, nguồn gốc của khổ đau là gì? Do nương vào cakkhu và rūpa mà nhãn thức sinh khởi. Rūpa đó có thể kích hoạt ‘gati ô nhiễm’ (saṅgati hay saŋ gati) trong tâm. Điều đó tạo ra ‘vedanā do tâm tạo.’ Dựa trên ‘vedanā do tâm tạo’ ấy, tâm dính mắc (taṇhā) vào kích thích giác quan đó. Này các bhikkhu, đó là nguồn gốc của khổ đau.”

  • That verse is repeated for the other five senses. Thus, the Buddha says that the origin of suffering is attachment (taṇhā) to sensory inputs.

Câu kệ đó được lặp lại cho năm giác quan còn lại. Như vậy, Đức Phật dạy rằng nguồn gốc của khổ đau là sự dính mắc (taṇhā) vào các kích thích giác quan.

  • Here is to state that in another way: Causes for future suffering start with a sensory input coming through one of the six senses: eyes, ears, tongue, nose, body, and mind!

Có thể nói cách khác: Những nguyên nhân của khổ đau trong tương lai bắt đầu từ một kích thích giác quan đi vào qua một trong sáu căn: mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý!

  • It will become clear why I have translated the verse differently than conventional translations. See the two translations at Sutta Central in the above link. As I have explained, some suttās need detailed explanations, not word-for-word translations done without understanding the context.

Rồi sẽ rõ vì sao tôi dịch câu kệ này khác với các bản dịch thông thường. Hãy xem hai bản dịch tại Sutta Central trong đường dẫn trên. Như tôi đã giải thích, một số sutta cần được giải thích chi tiết, chứ không phải dịch từng chữ một cách máy móc mà không hiểu bối cảnh.

Ending of Suffering – Dukkha Sutta

Sự Chấm Dứt Khổ Đau – Dukkha Sutta

  1. Then, in the second part of the sutta ( 2 gives the Pāli verse): “Bhikkhus, how can this suffering be ended? With the contact between cakkhu and rūpa, eye-consciousness arises. That sensory experience may trigger “defiled gati” (saṅgati or saŋ gati) in mind, i.e., it can generate “mind-made vedanā.” Based on that “mind-made vedanā” the mind may attach (taṇhā) to that sensory input. But with the remainder-less fading away and cessation of that craving (taṇhā) comes the cessation of upādāna (pursuing such experiences); with the cessation of upādāna, cessation of bhava; with the cessation of bhava, cessation of rebirth (jāti); with the cessation of jāti, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair cease. That is the cessation of the whole mass of suffering.”

Sau đó, trong phần thứ hai của sutta (Tài liệu tham khảo 2 cung cấp câu Pāli): “Này các bhikkhu, làm thế nào để chấm dứt khổ đau này? Khi có sự tiếp xúc giữa cakkhu và rūpa, nhãn thức sinh khởi. Trải nghiệm giác quan đó có thể kích hoạt ‘gati ô nhiễm’ (saṅgati hay saŋ gati) trong tâm, tức là có thể tạo ra ‘vedanā do tâm tạo.’ Dựa trên ‘vedanā do tâm tạo’ ấy, tâm có thể dính mắc (taṇhā) vào kích thích giác quan đó. Nhưng với sự phai tàn và chấm dứt không dư sót của ái (taṇhā) ấy, thì chấm dứt upādāna (sự theo đuổi các trải nghiệm như vậy); với sự chấm dứt upādāna là chấm dứt bhava; với sự chấm dứt bhava là chấm dứt tái sinh (jāti); với sự chấm dứt jāti, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều chấm dứt. Đó là sự chấm dứt toàn bộ khối khổ đau.”

  • That craving (taṇhā) is the ORIGIN of suffering in #3 above. The CESSATION of craving (taṇhā) leads to the cessation of suffering.

Ái (taṇhā) đó là NGUỒN GỐC của khổ đau ở mục #3 trên. SỰ CHẤM DỨT ái (taṇhā) dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.

  • Does that mean only the three steps of upādāna, bhava, and jāti play crucial roles out of the 11 steps (avijjā, saṅkhāra, viññāṇa, nāmarūpa, salāyatana, phassa, vedanā, taṇhā, upādāna, bhava, and jāti) in Paṭicca Samuppāda?

Điều đó có nghĩa là chỉ ba bước upādāna, bhava và jāti đóng vai trò then chốt trong mười một bước (avijjā, saṅkhāra, viññāṇa, nāmarūpa, salāyatana, phassa, vedanā, taṇhā, upādāna, bhava và jāti) của Paṭicca Samuppāda hay không?

  • Discussion of that will provide us with valuable insight that most people are unaware of. The answer lies in understanding the meaning of upādāna.

Thảo luận về điều đó sẽ mang lại cho chúng ta một nhận thức sâu sắc mà phần lớn mọi người chưa biết. Câu trả lời nằm ở việc hiểu ý nghĩa của upādāna.

  • The involvement of those other terms in Paṭicca Samuppāda based on taṇhā and upādāna is explained in “Taṇhā Paccayā Upādāna – Critical Step in Paṭicca Samuppāda.”

Sự liên hệ của các yếu tố khác trong Paṭicca Samuppāda dựa trên taṇhā và upādāna được giải thích trong “Taṇhā Paccayā Upādāna – Critical Step in Paṭicca Samuppāda.”

The Difference Between Conventional Worldview and Buddha Dhamma

Sự Khác Biệt Giữa Thế Giới Quan Thông Thường và Dhamma của Đức Phật

  1. As discussed in #1 above, any human not exposed to Buddha Dhamma can think of only one way to overcome the loss of a mind-pleasing thing or a distressful situation. That is to seek more sensory pleasures. One may be able to get temporary satisfaction that way, but it never leads to the end of suffering!

Như đã bàn ở mục #1 trên, bất kỳ người nào chưa được tiếp xúc với Dhamma của Đức Phật chỉ có thể nghĩ đến một cách để vượt qua sự mất mát một điều làm tâm ưa thích hay một hoàn cảnh đau khổ. Đó là tìm kiếm thêm các lạc thú giác quan. Người ta có thể đạt được sự thỏa mãn tạm thời theo cách đó, nhưng nó không bao giờ dẫn đến sự chấm dứt khổ đau!

  • The above description is one aspect of the anicca nature: “Anicca – The Incessant Distress (“Pīḷana”).” No matter how hard we try, it is impossible to maintain a “fully satisfactory mindset” regardless of how much wealth one has.

Mô tả trên là một khía cạnh của bản chất anicca: “Anicca – The Incessant Distress (“Pīḷana”).” Dù chúng ta cố gắng bao nhiêu, không thể duy trì một “trạng thái tâm hoàn toàn thỏa mãn” bất kể có bao nhiêu tài sản.

  • Even if we engage in the most satisfying activity, after a while, it becomes unsatisfactory. Even the most delicious meal, we can eat so much. If we eat that same meal day after day, we get fed up and would like to eat something else. There is a sense of “unfulfillment” or “unsatisfactoriness” (“pīḷana” in Pāli) in our minds.

Ngay cả khi tham gia vào hoạt động thỏa mãn nhất, sau một thời gian nó cũng trở nên không còn thỏa mãn. Ngay cả một bữa ăn ngon nhất, ta cũng chỉ ăn được đến một mức nào đó. Nếu ăn cùng một món ngày này qua ngày khác, ta sẽ chán và muốn ăn món khác. Trong tâm luôn tồn tại cảm giác “không trọn vẹn” hay “không thỏa mãn” (“pīḷana” trong Pāli).

  • The Buddha understood that the root of that issue is raga, dosa, and moha, which have been with us for a time that cannot be traced back. They have remained with us as anusaya or ‘hidden defilements.” The permanent solution to overcome that is to get rid of our cravings for sensory pleasures.

Đức Phật hiểu rằng gốc rễ của vấn đề đó là raga, dosa và moha, những yếu tố đã ở cùng chúng ta từ một thời gian không thể truy tìm khởi điểm. Chúng tồn tại như anusaya hay “ô nhiễm tiềm ẩn.” Giải pháp lâu dài để vượt qua điều đó là đoạn trừ sự khao khát lạc thú giác quan.

  • That is precisely the opposite approach to that of an average human (puthujjana) who has the mindset that sensory pleasures are of the “nicca (The “anicca nature” has other meanings than this “pīḷana nature;” see “Anicca – True Meaning.” They all emphasize the futility of seeking sensory pleasures to overcome inevitable suffering inherent in this world.)

Đó chính là cách tiếp cận hoàn toàn trái ngược với người bình thường (puthujjana), người có quan niệm rằng lạc thú giác quan mang “bản chất nicca.” (“Bản chất anicca” còn có những ý nghĩa khác ngoài “bản chất pīḷana” này; xem “Anicca – True Meaning.” Tất cả đều nhấn mạnh sự vô ích của việc tìm kiếm lạc thú giác quan để vượt qua khổ đau tất yếu vốn có trong thế gian.)

  • That wrong view/perception of a nicca nature manifests as taṇhā (craving/attachment) for the sensory inputs coming through the six senses.

Tà kiến/nhận thức sai lầm về bản chất nicca ấy biểu hiện thành taṇhā (khao khát/dính mắc) đối với các kích thích giác quan đi vào qua sáu căn.

Six Types of Taṇhā

Sáu Loại Taṇhā

  1. The “WebLink: suttacentral: Vibhaṅga Sutta (SN 12.2)” defines taṇhā as follows. “Katamā ca, bhikkhave, taṇhā? Chayime, bhikkhave, taṇhākāyā—rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā.”

WebLink: suttacentral: Vibhaṅga Sutta (SN 12.2)” định nghĩa taṇhā như sau: “Katamā ca, bhikkhave, taṇhā? Chayime, bhikkhave, taṇhākāyā—rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā.”

Translated:Bhikkhus, what is taṇhā? There are these six classes of taṇhārūpa taṇhā, sadda taṇhā, gandha taṇhā, rasa taṇhā, phoṭṭhabba taṇhā, dhamma taṇhā.”

Dịch: “Này các bhikkhu, taṇhā là gì? Có sáu loại taṇhā này – rūpa taṇhā, sadda taṇhā, gandha taṇhā, rasa taṇhā, phoṭṭhabba taṇhā, dhamma taṇhā.”

  • Note that the translation in the above translates “taṇhā” as “craving.” However, “taṇhā” CANNOT be translated to English as one word. “Taṇhā” means “to get attached to an ārammaṇa.”

Lưu ý rằng bản dịch trên dịch “taṇhā” là “craving (khát khao).” Tuy nhiên, “taṇhā” KHÔNG THỂ được dịch sang tiếng Anh chỉ bằng một từ. “Taṇhā” có nghĩa là “dính mắc vào một ārammaṇa.”

  • An ārammaṇa is a “rūpa” that comes through one of the six senses. There are six types of rūpa: “rūpa rūpa” (visuals), sadda rūpa (sounds), gandha rūpa (smell), rasa rūpa (taste), phoṭṭhabba rūpa (touch), and dhamma (memories) rūpa.

Một ārammaṇa là một “rūpa” đi vào qua một trong sáu căn. Có sáu loại rūpa: “rūpa rūpa” (hình ảnh), sadda rūpa (âm thanh), gandha rūpa (mùi), rasa rūpa (vị), phoṭṭhabba rūpa (xúc chạm) và dhamma rūpa (ký ức/đối tượng tâm).

  • If it comes through the eyes, it is a sight (“rūpa rūpa.”) Each person attaches to the visuals they crave. That “attachment” can arise because of liking or craving, but one can also via “anger/hate.” Therefore, “rūpa taṇhā” can arise when one sees an attractive person/thing or a disliked person/thing. The key point is that sight will trap one’s mind, and one will start thinking about it. Then we say “rūpa taṇhā” has arisen due to that rūpa ārammaṇa (i.e., rūpārammaṇa.) Same for saddārammaṇa, gandhārammaṇa, etc.

Nếu nó đi vào qua mắt, đó là một hình ảnh (“rūpa rūpa.”) Mỗi người dính mắc vào những hình ảnh mà mình khao khát. Sự “dính mắc” ấy có thể sinh khởi do ưa thích hay khao khát, nhưng cũng có thể do “sân hận/ghét bỏ.” Vì vậy, “rūpa taṇhā” có thể sinh khởi khi thấy một người/vật hấp dẫn hoặc một người/vật đáng ghét. Điểm then chốt là hình ảnh sẽ trói buộc tâm, và người ta bắt đầu suy nghĩ về nó. Khi đó, ta nói rằng “rūpa taṇhā” đã sinh khởi do rūpa ārammaṇa (tức rūpārammaṇa). Tương tự đối với saddārammaṇa, gandhārammaṇa, v.v.

Kammic Energy Created in Javana Citta

Năng Lực Kamma Được Tạo Ra Trong Javana Citta

  1. Kammic energy is created in a particular type of citta called “javana citta.” Note that “citta” is pronounced as “chiththa.” See 3 on the writing/pronunciation of Pāli words.

Năng lực kamma được tạo ra trong một loại citta đặc biệt gọi là “javana citta.” Lưu ý rằng “citta” được phát âm là “chiththa.” Xem Tài liệu tham khảo 3 về cách viết/phát âm các từ Pāli.

  • It is easy to see that not all cittās (loosely translated as ‘thoughts”) are the same. If we are not interested in something, our cittās on it are weak. On the other hand, if we are passionate about something, we have “strong feelings” that show up even in our tone of voice. That indicates an increase in javana power in cittās.

Dễ thấy rằng không phải tất cả các cittā (tạm dịch là “ý nghĩ”) đều giống nhau. Nếu chúng ta không quan tâm đến điều gì, các cittā liên quan đến nó sẽ yếu. Ngược lại, nếu ta say mê một điều gì, ta có “cảm xúc mạnh” thể hiện ngay cả trong giọng nói. Điều đó cho thấy sức mạnh javana trong các cittā đã tăng lên.

  • For example, a child being awakened in the morning to go to school on a rainy day may not be enthusiastic about getting up and going to school. Thus, his cittās at that time were weak.

Ví dụ, một đứa trẻ bị đánh thức vào buổi sáng để đi học trong một ngày mưa có thể không hào hứng với việc thức dậy và đến trường. Do đó, các cittā của em lúc ấy là yếu.

  • The same child getting ready to play with his friends will be enthusiastic about it. His cittās at that time will have strong “javana

Cũng đứa trẻ đó khi chuẩn bị đi chơi với bạn bè sẽ rất hào hứng. Các cittā của em lúc ấy sẽ có “năng lực javana” mạnh.

  • However, in Buddha Dhamma, we focus only on javana cittās generated with rāga, dosa, and moha.

Tuy nhiên, trong Dhamma của Đức Phật, chúng ta chỉ tập trung vào các javana cittā được tạo ra cùng với rāga, dosa và moha.

  1. The idea of “thoughts generating energy” is a novel concept, especially for those in Western countries.

Ý tưởng “ý nghĩ tạo ra năng lượng” là một khái niệm mới mẻ, đặc biệt đối với những người ở các nước phương Tây.

  • However, it is the basis of Buddha Dhamma. Mind is the precursor to everything in this world: “Manopubbangamā Dhammā..”

Tuy nhiên, đó là nền tảng của Dhamma của Đức Phật. Tâm là tiền đề của mọi thứ trong thế gian này: “Manopubbangamā Dhammā..”

  • That is also why the Buddha said, “My teachings have never been known to this world.” As emphasized in #1 above, humans who have not understood Buddha’s teachings have only one option to overcome disliked sensory experiences or depressing situations: They seek more sensory pleasures.

Đó cũng là lý do Đức Phật nói: “Giáo pháp của Ta chưa từng được biết đến trong thế gian này.” Như đã nhấn mạnh ở mục #1 trên, những người chưa hiểu giáo pháp của Đức Phật chỉ có một lựa chọn để vượt qua các trải nghiệm giác quan khó chịu hay hoàn cảnh buồn chán: họ tìm kiếm thêm lạc thú giác quan.

  • The critical point to understand is that the tendency to attach to worldly things cannot be blamed on worldly things. In the absence of a Buddha, people can figure out that avoiding such “mind-pleasing things” can lead to a peaceful mind and even anāriya jhāna. Ancient yogis went deep into jungles, away from sensory pleasures, and cultivated jhāna. However, avoiding attractive external rūpa is only a temporary solution. Just the sight of an attractive woman can make them lose the ability to get into jhāna.

Điểm then chốt cần hiểu là khuynh hướng dính mắc vào các pháp thế gian không thể đổ lỗi cho chính các pháp thế gian. Khi không có một vị Phật xuất hiện, con người vẫn có thể nhận ra rằng tránh xa những “điều làm tâm ưa thích” có thể dẫn đến tâm an tĩnh và thậm chí đạt được anāriya jhāna. Các yogi thời xưa đã đi sâu vào rừng, tránh xa lạc thú giác quan và tu tập jhāna. Tuy nhiên, việc tránh xa các rūpa hấp dẫn bên ngoài chỉ là giải pháp tạm thời. Chỉ cần nhìn thấy một người phụ nữ hấp dẫn cũng có thể khiến họ mất khả năng nhập jhāna.

  • The permanent way to lose the tendency to attach to worldly things is to cleanse one’s mind of such gati or tendencies with rāga, dosa, and moha. That can happen only after hearing (jānato) about the true fundamental nature of this world from a Noble Person and comprehending it with wisdom (passato).

Con đường bền vững để đoạn trừ khuynh hướng dính mắc vào các pháp thế gian là thanh lọc tâm khỏi những gati hay khuynh hướng mang rāga, dosa và moha. Điều đó chỉ có thể xảy ra sau khi được nghe (jānato) về bản chất căn bản chân thật của thế gian từ một bậc Thánh và thấu hiểu nó bằng trí tuệ (passato).

Critical Implications of Dukkha Sutta (SN 12.43)

Những Hàm Ý Then Chốt Của Dukkha Sutta (SN 12.43)

  1. As you can see, in #3 above (the first part of the Dukkha Sutta), the Buddha says that all future suffering can be stopped by stopping attachment to the sensory inputs that come through the six senses. Those six senses are the eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. I alluded to this point in the post, “Paṭicca Samuppāda – Introduction.”

Như có thể thấy ở mục #3 trên (phần đầu của Dukkha Sutta), Đức Phật dạy rằng toàn bộ khổ đau trong tương lai có thể được chấm dứt bằng cách chấm dứt sự dính mắc vào các kích thích giác quan đi vào qua sáu căn. Sáu căn đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Tôi đã đề cập đến điểm này trong bài “Paṭicca Samuppāda – Introduction.”

  • Then, in the second part, there is more information on that point. With the verse in #4 above, the Buddha briefly explains how future suffering ceases by the cessation of taṇhā, craving for sensory pleasures. He says that cessation of taṇhā leads to the cessation of upādāna, bhava, and jāti, and thus, to the cessation of all future suffering.

Sau đó, trong phần thứ hai, có thêm thông tin về điểm này. Với câu kệ ở mục #4 trên, Đức Phật giải thích ngắn gọn cách khổ đau trong tương lai chấm dứt nhờ sự chấm dứt taṇhā, tức khao khát lạc thú giác quan. Ngài dạy rằng sự chấm dứt taṇhā dẫn đến chấm dứt upādāna, bhava và jāti, và do đó dẫn đến sự chấm dứt toàn bộ khổ đau trong tương lai.

  • As we can also see, the verse is referring to the Paṭicca Samuppāda sequence starting with “salāyatana paccayā phasso” and proceeding via “phassa paccayā vedanā, vedanā paccayā taṇhā, taṇhā paccayā upādāna, upādāna paccayā bhavo, bhava paccayā jāti, jāti paccayā jarā, maraṇa, soka-parideva-dukkha-domanassupāyasā sambhavan’ti.” Sensory inputs come through the six sense faculties or salāyatana.

Như ta cũng thấy, câu kệ này đang nói đến chuỗi Paṭicca Samuppāda bắt đầu từ “salāyatana paccayā phasso” và tiếp tục qua “phassa paccayā vedanā, vedanā paccayā taṇhā, taṇhā paccayā upādāna, upādāna paccayā bhavo, bhava paccayā jāti, jāti paccayā jarā, maraṇa, soka-parideva-dukkha-domanassupāyasā sambhavan’ti.” Các kích thích giác quan đi vào qua sáu căn hay salāyatana.

  • In the next post, we will continue this discussion by focusing on anatta — the logical next step in how the anicca and dukkha nature leads to the “anatta nature.” Thus, anatta is not about a “self.”

Trong bài kế tiếp, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận bằng cách tập trung vào anatta — bước hợp lý tiếp theo khi bản chất anicca và dukkha dẫn đến “bản chất anatta.” Vì vậy, anatta không phải là vấn đề về một “cái ngã.”

References

Tài liệu tham khảo

  1. Katamo ca, bhikkhave, dukkhassa samudayo? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ. Tiṇṇaṁ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā. Ayaṁ kho, bhikkhave, dukkhassa samudayo.”
  2. Katamo ca, bhikkhave, dukkhassa atthaṅgamo? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ. Tiṇṇaṁ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā. Tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā bhavanirodho; bhavanirodhā jātinirodho; jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti. Ayaṁ kho, bhikkhave, dukkhassa atthaṅgamo.”
  3. Those who are unaware of the unique “Tipiṭaka English” writing format adopted many years ago, see ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1.” The English version of the Tipiṭaka was written in this format in the early 1900s, and that is the version used today in most English websites, including Sutta Central. It is essential to understand how to pronounce Pāli words correctly. Also see “Pāli Glossary – (A-K).”

Những ai chưa biết về định dạng viết “Tipiṭaka English” đặc thù được áp dụng từ nhiều năm trước, hãy xem ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1.” Bản tiếng Anh của Tipiṭaka được viết theo định dạng này vào đầu những năm 1900, và đó là phiên bản hiện nay được sử dụng trên hầu hết các trang web tiếng Anh, bao gồm cả Sutta Central. Điều quan trọng là phải hiểu cách phát âm đúng các từ Pāli. Cũng xem “Pāli Glossary – (A-K).”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *