Dhamma, Saṅkhāra, Saṅkhata, Rūpa, Viññāṇa, Gati, Āsava, Anusaya / Dhamma, Saṅkhāra, Saṅkhata, Rūpa, Viññāṇa, Gati, Āsava, Anusaya

July 22, 2018; revised October 9, 2022

22/07/2018; sửa đổi 09/10/2022

  1. I recently realized that it would be a good idea to explain what some critical Pāli words mean in one place.

Gần đây tôi nhận ra rằng nên giải thích ý nghĩa của một số thuật ngữ Pāli quan trọng ở cùng một nơi.

  • This information could be spread over hundreds of posts on the website, but not many people have read even a fraction of what is on the web site.

Những thông tin này được rải rác trong hàng trăm bài trên trang web, nhưng không nhiều người đã đọc dù chỉ một phần nhỏ.

  • Since it is critical to understand these key terms, I will try to provide another condensed “big picture” in terms of these keywords. In the last post we analyzed the big picture in terms of root causes; see, “Six Root Causes – Loka Samudaya (Arising of Suffering) and Loka Nirodhaya (Nibbāna).”

Vì việc hiểu những thuật ngữ then chốt này là vô cùng quan trọng, tôi sẽ cố gắng trình bày một “bức tranh lớn” cô đọng khác thông qua các từ khóa đó. Trong bài trước, chúng ta đã phân tích bức tranh tổng thể theo các nguyên nhân gốc rễ; xem “Six Root Causes – Loka Samudaya (Arising of Suffering) and Loka Nirodhaya (Nibbāna)”.

  1. One way to look at this is to start with how the Buddha described “everything in this world.” We have two worlds: the physical world (rūpa loka) and the mind world (mano loka).

Một cách tiếp cận là bắt đầu từ cách Đức Phật mô tả “mọi thứ trong thế giới này”. Chúng ta có hai thế giới: thế giới vật chất (rūpa loka) và thế giới tâm (mano loka).

  • Everything that is in the physical world is detected by the five physical senses of the eyes, ears, nose, tongue, and body: vaṇṇa rūpa (visible objects), sadda rūpa (sounds), gandha rūpa (smells), rasa rūpa (tastes), and phoṭṭhabba rūpa (touchable objects).

Mọi thứ trong thế giới vật chất được nhận biết qua năm giác quan vật lý: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân – gồm vaṇṇa rūpa (sắc thấy được), sadda rūpa (âm thanh), gandha rūpa (mùi), rasa rūpa (vị), và phoṭṭhabba rūpa (đối tượng xúc chạm).

  • Therefore, everything in our physical world is called rūpa and includes the five types mentioned above. Those rūpā are all above the suddhaṭṭhaka

Do đó, mọi thứ trong thế giới vật chất của chúng ta đều được gọi là rūpa và bao gồm năm loại trên. Những rūpa này đều ở trên mức suddhaṭṭhaka.

  • For example, we can see vaṇṇa rūpa with eyes: “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ.” Similarly, for the other four.

Ví dụ, ta thấy vaṇṇa rūpa bằng mắt: “cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ.” Tương tự đối với bốn giác quan còn lại.

  • Some objects in the physical world can be detected with more than one sense faculty, and the more information we get, the more knowledgeable we become of the object: we can see and touch an apple; if we can also smell it, the apple is probably ripe; if we taste it, we can confirm that it is ripe.

Một số đối tượng vật chất có thể được nhận biết bằng nhiều giác quan; càng có nhiều thông tin, ta càng hiểu rõ đối tượng hơn: ta có thể thấy và chạm vào quả táo; nếu còn ngửi được mùi, có lẽ táo đã chín; và khi nếm thử, ta có thể xác nhận điều đó.

  1. We have a sixth sense faculty: mana indriya, which detects everything else in our world, and they are called dhammā: “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.” These dhammā are in our mano loka (mental world).

Chúng ta có giác quan thứ sáu là mana indriya, nhận biết mọi thứ còn lại trong thế giới của ta, gọi là dhammā: “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.” Những dhammā này thuộc về mano loka (thế giới tâm).

  • These dhammā include everything that is not detected with the five physical senses. They include, for example, kamma bīja, nāma gotta (memory records or memories), mathematics, philosophy, Buddha Dhamma, etc.

Những dhammā này bao gồm mọi thứ không được nhận biết qua năm giác quan vật lý, ví dụ như kamma bīja, nāma gotta (hồ sơ ký ức hay ký ức), toán học, triết học, Dhamma của Đức Phật, v.v.

  • Those are also called rūpa, but those rūpā are different from the rūpa in the physical world: Some have energies that lie below the suddhaṭṭhaka stage (kamma bīja), and the rest of them are either just memories (nāma gotta) or concepts.

Chúng cũng được gọi là rūpa, nhưng những rūpa này khác với rūpa của thế giới vật chất: một số có năng lượng nằm dưới mức suddhaṭṭhaka (như kamma bīja), còn lại chỉ là ký ức (nāma gotta) hoặc các khái niệm.

  • These fine rūpa are described as, “anidassanaṁ, appaṭighaṁ, dhammāyatana pariyāpanna rūpaṁ” or “rūpa that cannot be seen, touched, and only detected via dhammāyatana (mana indriya).”

Những rūpa vi tế này được mô tả là: “anidassanaṁ, appaṭighaṁ, dhammāyatana pariyāpanna rūpaṁ”, tức là “rūpa không thể thấy, không thể chạm, chỉ được nhận biết qua dhammāyatana (mana indriya).”

  1. When one of our senses detects something in our physical world or the mental world, one of the six types of viññāṇa arise, and we become aware of that “thing”, whether it is a vaṇṇa rūpa, sadda rūpa, or a dhammā.

Khi một trong các giác quan của ta nhận biết một đối tượng trong thế giới vật chất hay thế giới tâm, một trong sáu loại viññāṇa sẽ sinh khởi và ta trở nên nhận biết “đối tượng” đó, dù đó là vaṇṇa rūpa, sadda rūpa hay một dhammā.

  • Viññāṇa is a very complex entity: it includes or encompasses the following: our feelings (vedanā), perceptions (saññā), and a set of individual mental factors (cetasika). They all arise together, and the set of cetasika arising depends on each person’s gati.

Viññāṇa là một yếu tố rất phức tạp: nó bao gồm các cảm thọ (vedanā), tưởng (saññā) và một tập hợp các tâm sở (cetasika). Tất cả cùng sinh khởi, và tập hợp cetasika đó tùy thuộc vào gati của mỗi người.

  • For example, totally different sets of vedanā, saññā, and saṅkhāra (i.e., cetasika) arise when a famous politician is seen by one of his supporters and a person from the opposition party.

Ví dụ, những tập hợp hoàn toàn khác nhau của vedanā, saññā và saṅkhāra (tức là cetasika) sẽ sinh khởi khi một chính trị gia nổi tiếng được nhìn thấy bởi người ủng hộ ông ta và bởi người thuộc phe đối lập.

  • But in addition, viññāṇa also includes one’s hopes for the future. That is important.

Ngoài ra, viññāṇa còn bao gồm cả những kỳ vọng về tương lai của mỗi người. Điều này rất quan trọng.

  1. The initial response in one’s mind upon subjected to an external sense input (whether it is seeing, hearing or just a memory coming to the mind), is called a mano saṅkhāra. Of course, that is part of viññāṇa.

Phản ứng ban đầu trong tâm khi tiếp xúc với một đối tượng giác quan bên ngoài (dù là thấy, nghe hay chỉ là ký ức xuất hiện) được gọi là mano saṅkhāra. Dĩ nhiên, đó là một phần của viññāṇa.

  • We can see why different people generate different types of viññāṇa when exposed to the same sensory input. Such mano saṅkhāra — generated instantaneously — depends on one’s gati or set of kilesa (lobha, dosa, moha).

Ta có thể hiểu vì sao những người khác nhau lại tạo ra những loại viññāṇa khác nhau khi tiếp xúc cùng một đối tượng giác quan. Những mano saṅkhāra sinh khởi tức thì này phụ thuộc vào gati hay tập hợp kilesa (tham, sân, si) của mỗi người.

  • Each person has a set of kilesa called āsava, and one’s gati (and therefore mano saṅkhāra) closely follow those anusaya/āsava; we will discuss that below. [anu: minor or related.]

Mỗi người có một tập hợp kilesa gọi là āsava, và gati (do đó cả mano saṅkhāra) bám sát theo các anusaya/āsava đó; chúng ta sẽ bàn kỹ hơn phía dưới. [anu: phụ hay liên hệ.]

  1. If that sensory input is an interesting one (a like or a dislike), one immediately starts thinking about it. This is called “generating vacī saṅkhāra” or basically “talking to oneself.” Now one is fully aware that one is thinking about that sensory input, whether it is a picture, sound, memory, or anything else.

Nếu đối tượng giác quan đó gây thích hay ghét, ta lập tức bắt đầu suy nghĩ về nó. Điều này được gọi là “sinh khởi vacī saṅkhāra”, hay đơn giản là “tự nói chuyện với mình”. Lúc này ta hoàn toàn ý thức rằng mình đang nghĩ về đối tượng ấy, dù đó là hình ảnh, âm thanh, ký ức hay bất cứ thứ gì.

  • Furthermore, if one gets animated about that object, one may speak about (still with vacī saṅkhāra), and may even take a bodily action that will involve kāya saṅkhāra.

Hơn nữa, nếu trở nên kích động bởi đối tượng đó, ta có thể nói ra (vẫn là vacī saṅkhāra), và thậm chí hành động bằng thân, liên quan đến kāya saṅkhāra.

  • In contrast to mano saṅkhāra that arise AUTOMATICALLY, both vacī and kāya saṅkhāra are generated consciously. This is key to Ānāpānasati and Satipaṭṭhāna meditation since we have the ability to stop or to continue with those vacī and kāya saṅkhāra.

Khác với mano saṅkhāra sinh khởi TỰ ĐỘNG, cả vacī và kāya saṅkhāra đều được tạo ra một cách có ý thức. Đây là điểm then chốt của thiền Ānāpānasati và Satipaṭṭhāna, vì ta có khả năng dừng hay tiếp tục các vacī và kāya saṅkhāra đó.

  • Those three types are collectively called saṅkhāra.

Ba loại này được gọi chung là saṅkhāra.

  • So, I hope you now have a better understanding of what is meant by viññāṇa and saṅkhāra and also how they are related. From #4 above, we can also see that saṅkhāra are part of dhammā.

Vì vậy, hy vọng bạn đã hiểu rõ hơn thế nào là viññāṇa và saṅkhāra, cũng như mối liên hệ giữa chúng. Từ mục #4 ở trên, ta cũng thấy rằng saṅkhāra là một phần của dhammā.

  1. By the way, kāya kamma are those actions done with the body, but we see that kāya saṅkhāra are responsible for such kāya kamma.

Nhân tiện, kāya kamma là các hành động do thân thực hiện, và ta thấy rằng kāya saṅkhāra chịu trách nhiệm cho những kāya kamma đó.

  • In the same way, vacī saṅkhāra are responsible for vacī kamma, and mano saṅkhāra are responsible for mano kamma.

Tương tự, vacī saṅkhāra chịu trách nhiệm cho vacī kamma, và mano saṅkhāra chịu trách nhiệm cho mano kamma.

  • All kamma (actions) are done with saṅkhāra. They all have origins in the mind.

Mọi kamma (hành động) đều được thực hiện thông qua saṅkhāra; tất cả đều có nguồn gốc từ tâm.

  1. Now, such saṅkhāra can be “harmless,” “dangerous,” or “beneficial.” Our actions, speech, and thoughts are all based on such saṅkhāra.

Như vậy, các saṅkhāra có thể là “vô hại”, “nguy hiểm” hoặc “có lợi”. Mọi hành động, lời nói và suy nghĩ của chúng ta đều dựa trên các saṅkhāra này.

  • When one gets hungry, one may generate vacī and kāya saṅkhāra to ask for food or walk to the kitchen to get something to eat. Such saṅkhāra are kammically neutral because they don’t lead to “good or bad kamma vipāka” in the future other than getting what one wants to satisfy the hunger.

Khi đói, ta có thể tạo vacī và kāya saṅkhāra để xin đồ ăn hay đi vào bếp lấy thức ăn. Những saṅkhāra này trung tính về nghiệp vì chúng không dẫn đến kamma vipāka tốt hay xấu trong tương lai, ngoài việc thỏa mãn cơn đói.

  • Of course, if one gets attached to that food while eating, one may generate strong saṅkhāra or abhisaṅkhāra that will have significant kammic That is an apuñña abhisaṅkhāra since that involves the lobha cetasika.

Tất nhiên, nếu khi ăn mà sinh dính mắc vào thức ăn, ta có thể tạo ra saṅkhāra mạnh hay abhisaṅkhāra với hậu quả nghiệp đáng kể. Đó là apuñña abhisaṅkhāra vì liên quan đến tâm sở lobha (tham).

  1. If one is planning to kill another human, then one would be generating very strong “apuñña abhisaṅkhāra” that involves vacī saṅkhāra and may lead to kāya saṅkhāra if one goes through the killing. Then one would have generated a strong kamma bīja that can bring a future birth in the apāyā.

Nếu một người lên kế hoạch giết người khác, người đó đang tạo ra apuñña abhisaṅkhāra rất mạnh, bao gồm vacī saṅkhāra và có thể dẫn đến kāya saṅkhāra khi hành động giết xảy ra. Khi đó, một kamma bīja rất mạnh được tạo ra, có thể dẫn đến tái sinh trong apāyā.

  • On the other hand, if one is studying Buddha Dhamma, one will be generating all three types of puñña abhisaṅkhāra (thinking, contemplating and doing things like downloading material from the internet). They will create good kamma bīja that will lead to good vipāka: either leading to magga phala or at least births in good realms so one could continue on the Path.

Ngược lại, nếu đang học Dhamma của Đức Phật, ta tạo ra cả ba loại puñña abhisaṅkhāra (suy nghĩ, quán chiếu và làm những việc như tải tài liệu). Chúng sẽ tạo ra kamma bīja tốt, dẫn đến vipāka tốt: hoặc đưa đến magga phala hoặc ít nhất là tái sinh vào cõi lành để tiếp tục Con đường Tu tập.

  1. Now, we can see how saṅkhāra can lead to the formation (or arising) of saṅkhata. A potent kamma bīja generated via a strong apuñña abhisaṅkhāra can lead to say, animal bhava and to the birth of an animal.

Bây giờ ta thấy saṅkhāra có thể dẫn đến sự hình thành (hoặc sinh khởi) của saṅkhata như thế nào. Một kamma bīja mạnh được tạo bởi apuñña abhisaṅkhāra mạnh có thể dẫn đến animal bhava và sinh làm súc sinh.

  • Therefore, that saṅkhata (animal) came to be because of that kamma bīja, and many abhisaṅkhāra could have contributed to that kamma bīja.

Vì vậy, saṅkhata (con vật) đó xuất hiện do kamma bīja ấy, và nhiều abhisaṅkhāra có thể đã góp phần tạo nên kamma bīja đó.

  • In the same way, a strong “good kamma bīja” generated via puñña abhisaṅkhāra (puñña kamma) can lead to a human or a deva That human or deva is a saṅkhata too.

Tương tự, một kamma bīja tốt mạnh được tạo bởi puñña abhisaṅkhāra (puñña kamma) có thể dẫn đến sinh làm người hay deva. Con người hay deva đó cũng là một saṅkhata.

  1. It is much more complex, but ALL material things arise in this world are due to saṅkhāra. I will take a simple example to show the basic idea.

Mọi thứ phức tạp hơn nhiều, nhưng TẤT CẢ các vật chất sinh khởi trong thế giới này đều do saṅkhāra. Tôi lấy một ví dụ đơn giản để minh họa ý chính.

  • A house (a saṅkhata) comes into being due to many types of saṅkhāra. First, one needs to get the idea of building a house. Then he/she may consult an architect and after much discussion (a lot of mano and vacī saṅkhāra and also kāya saṅkhāra), they will come up with a blueprint (plan) for the house.

Một ngôi nhà (một saṅkhata) hình thành nhờ nhiều loại saṅkhāra. Trước hết phải có ý tưởng xây nhà. Sau đó người đó trao đổi với kiến trúc sư và qua nhiều bàn bạc (rất nhiều mano, vacī và cả kāya saṅkhāra), họ tạo ra bản vẽ thiết kế.

  • Then many people will work to build the house. Innumerable mano, vacī, kāya saṅkhāra are involved in bringing the house to completion (of course, most of those are not puñña or apuñña abhisaṅkhāra; they are just primarily neutral saṅkhāra).

Sau đó nhiều người cùng làm việc để xây dựng ngôi nhà. Vô số mano, vacī, kāya saṅkhāra tham gia để hoàn thành ngôi nhà (dĩ nhiên đa số là saṅkhāra trung tính, không phải puñña hay apuñña abhisaṅkhāra).

  • The explanation of how a tree arises is more complex, but it also has origins in mind. We may get to that in the future, but it is not necessary to attain Nibbāna. As the Buddha said: “mind is the precursor to everything in this world.”

Giải thích sự sinh khởi của một cái cây phức tạp hơn, nhưng nó cũng có nguồn gốc từ tâm. Có thể ta sẽ bàn sau, nhưng điều đó không cần thiết để chứng đắc Nibbāna. Như Đức Phật dạy: “Tâm là tiền đề của mọi thứ trong thế giới này.”

  1. Any saṅkhata has the following universal properties: it comes into being and eventually is destroyed and undergoes unexpected change while in existence. Think about anything in this world. Those three characteristics are associated with any of them.

Bất kỳ saṅkhata nào cũng có các đặc tính phổ quát: nó sinh khởi, rồi hoại diệt và trong quá trình tồn tại luôn chịu những biến đổi bất ngờ. Hãy nghĩ về bất cứ thứ gì trên đời – ba đặc tính ấy đều có mặt.

  • This is why ANY saṅkhata HAS the anicca It is said that “uppāda vayattena aniccā,” emphasizes those main properties: any saṅkhata arises and eventually is subjected to decay and death, whether living or inert.

Vì vậy, MỌI saṅkhata đều MANG bản chất anicca. Câu “uppāda vayattena aniccā” nhấn mạnh rằng bất kỳ saṅkhata nào cũng sinh rồi diệt, dù là hữu tình hay vô tri.

  1. However, it is essential to realize that a saṅkhata WILL NOT bring suffering to anyone unless one gets attached to it. A saṅkhata has the anicca nature (i.e., the potential to bring suffering), but it does not automatically lead to suffering.

Tuy nhiên, điều cốt yếu cần hiểu là một saṅkhata SẼ KHÔNG đem lại khổ đau cho ai trừ khi người đó dính mắc vào nó. Saṅkhata mang bản chất anicca (tức là tiềm năng gây khổ), nhưng không tự động gây khổ.

  • A bottle of poison sitting on a table has the potential to kill someone. But unless someone takes the bottle and drinks from it, he/she will not be affected.

Một chai thuốc độc đặt trên bàn có khả năng giết người, nhưng nếu không ai uống nó thì sẽ không ai bị ảnh hưởng.

  • In the same way, we will be subjected to suffering ONLY IF we get attached to worldly things (saṅkhatasankata in Sinhala), whether it is a person, house, car, etc.

Tương tự như vậy, chúng ta CHỈ bị khổ đau NẾU chúng ta dính mắc vào các pháp thế gian (saṅkhata – sankata trong tiếng Sinhala), dù đó là con người, ngôi nhà, chiếc xe, v.v.

  • Then why do we get attached to such things all the time? That is because we have not comprehended the real anicca nature of saṅkhata (sankata in Sinhala).

Vậy tại sao chúng ta luôn dính mắc vào những thứ ấy? Bởi vì chúng ta chưa thấu hiểu bản chất anicca thật sự của saṅkhata (sankata trong Sinhala).

  • It is not easy to see anicca

Bản chất anicca không dễ để thấy.

  1. Therefore, the critical point is that any type of rūpa (or any saṅkhata in general) WILL NOT bring us dukkha unless we get attached to (or repulsed by it), i.e., it leads to taṇhā in mind.

Vì vậy, điểm then chốt là: bất kỳ loại rūpa nào (hay bất kỳ saṅkhata nào nói chung) SẼ KHÔNG đem lại dukkha cho ta trừ khi ta dính mắc (hoặc chán ghét nó), tức là làm sinh taṇhā trong tâm.

  • This is why the Buddha said, “..pañca upādānakkhandhā dukkhā,” and NOT “pañcakkhandha dukkhā.”

Vì thế Đức Phật nói “pañca upādānakkhandhā dukkhā” chứ KHÔNG nói “pañcakkhandha dukkhā.”

  • There could be all kinds of attractive/hateful things around us, but if we don’t generate upādāna for them via craving (lobha) or hate (dosa), we will not be subjected to suffering.

Có thể có đủ loại đối tượng đáng ưa hay đáng ghét quanh ta, nhưng nếu ta không tạo upādāna đối với chúng qua tham (lobha) hay sân (dosa), ta sẽ không bị khổ.

  • However, that is hard until one cultivates paññā (wisdom) by learning Buddha Dhamma and eventually grasping the Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta).

Tuy nhiên, điều đó rất khó cho đến khi ta tu tập paññā (trí tuệ) bằng cách học Dhamma của Đức Phật và dần dần nắm bắt Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta).

  1. Until then, when we experience a sense input via any of the six senses, we may automatically generate bad mano saṅkhāra and then willingly generate vacī and kāya saṅkhāra along the same lines, if we are not being mindful.

Cho đến lúc ấy, khi tiếp xúc với đối tượng giác quan qua sáu căn, ta có thể tự động sinh mano saṅkhāra xấu và rồi chủ động tạo vacī và kāya saṅkhāra theo cùng chiều hướng nếu không có chánh niệm.

  • As we discussed above, mano saṅkhāra arise AUTOMATICALLY according to our gati.

Như đã bàn ở trên, mano saṅkhāra sinh khởi TỰ ĐỘNG theo gati của ta.

  • Those gati are closely associated with anusaya that cannot be removed until one comprehends Tilakkhaṇa.

Những gati đó gắn liền với anusaya và không thể loại bỏ cho đến khi ta thấu hiểu Tilakkhaṇa.

  • Based on the sense input, those anusaya may come to the surface and that is called āsava.

Tùy theo đối tượng giác quan, các anusaya ấy có thể trồi lên bề mặt, gọi là āsava.

  • The only way to change those gati (i.e., to remove āsava permanently) is to cultivate Ānāpānasati and Satipaṭṭhāna, by being mindful of what kind of saṅkhāra arise in our minds.

Cách duy nhất để thay đổi gati đó (tức là đoạn trừ āsava vĩnh viễn) là tu tập Ānāpānasati và Satipaṭṭhāna, bằng cách chánh niệm đối với các saṅkhāra sinh khởi trong tâm.

  • So, it is VERY IMPORTANT to both learn Buddha Dhamma (especially Tilakkhaṇa) and ALSO practice real Ānāpānasati/Satipaṭṭhāna Bhāvanā.

Vì vậy, việc vừa học Dhamma của Đức Phật (đặc biệt là Tilakkhaṇa) vừa thực hành Ānāpānasati/Satipaṭṭhāna chân chính là CỰC KỲ QUAN TRỌNG.

  1. It must be clear now that the main cause of suffering is not saṅkhata, but saṅkhāra, specifically apuñña abhisaṅkhāra. This is why it is said “sabbe saṅkhāra aniccā,” and NOT “sabbe saṅkhata aniccā” or “sabbe dhamma aniccā.”

Giờ đây phải thấy rõ rằng nguyên nhân chính của khổ đau không phải là saṅkhata mà là saṅkhāra, cụ thể là apuñña abhisaṅkhāra. Do đó mới nói “sabbe saṅkhāra aniccā”, chứ KHÔNG nói “sabbe saṅkhata aniccā” hay “sabbe dhamma aniccā.”

  • Another word for apuñña abhisaṅkhāra is dasa akusala. Abstaining from dasa akusala is the same as stopping BAD mano, vacī, and kāya saṅkhāra.

Một cách gọi khác của apuñña abhisaṅkhāra là dasa akusala. Tránh dasa akusala tức là ngăn chặn mano, vacī, kāya saṅkhāra XẤU.

  • Some of that can be done via determination, but it becomes hard when tempting sense objects appear. For example, one may not take a bribe, but if the offer is a million dollars, one may be tempted to take the bribe.

Một phần có thể làm được nhờ quyết tâm, nhưng sẽ khó khi gặp các đối tượng giác quan cám dỗ. Ví dụ, một người có thể không nhận hối lộ, nhưng nếu lời đề nghị là một triệu đô la, người đó có thể bị cám dỗ để nhận hối lộ.

  1. That is the difference a true comprehension of Tilakkhaṇa will make: immoral tendencies reduce naturally as wisdom grows. An Arahant will not be tempted by absolutely anything.

Đó là sự khác biệt mà sự thấu hiểu Tilakkhaṇa đem lại: khuynh hướng bất thiện tự nhiên suy giảm khi trí tuệ tăng trưởng. Một vị Arahant sẽ không bị bất cứ điều gì cám dỗ.

  • An Anāgāmī will not be tempted by any kāma input but may still like Dhamma or jhānic

Một vị Anāgāmī không bị cám dỗ bởi bất kỳ đối tượng kāma nào, nhưng vẫn có thể thích Dhamma hay lạc thọ jhāna.

  • A Sotāpanna WILL NOT do any apāyagāmi akusala (i.e., will not generate such apuñña abhisaṅkhāra).

Một vị Sotāpanna SẼ KHÔNG tạo ra bất kỳ apāyagāmi akusala nào (tức là sẽ không còn khởi sinh những apuñña abhisaṅkhāra như vậy).

  • Those controls take place automatically. The mind will automatically do that by not generating even spontaneous mano saṅkhāra belonging to those categories. That is done via permanently changing one’s gati for the better via paññā.

Những sự kiểm soát đó diễn ra một cách tự động. Tâm sẽ tự động làm điều đó bằng cách không khởi lên ngay cả những mano saṅkhāra (tác ý/ý hành) tự phát thuộc các loại ấy. Điều này được thực hiện bằng cách thay đổi vĩnh viễn gati (tập tính/khí chất) của một người theo hướng tốt hơn thông qua paññā (trí tuệ).

  1. Finally, remember that most of what we experience are dhammā, detected by the mana indriya.

Cuối cùng, hãy nhớ rằng phần lớn những gì ta trải nghiệm là dhammā, được nhận biết qua mana indriya.

  • Those five physical senses are active ONLY in bringing that sensory input, which means that sense experience is very brief.

Năm giác quan vật lý CHỈ hoạt động để đưa tín hiệu giác quan vào, điều đó có nghĩa là trải nghiệm giác quan là rất ngắn ngủi.

  • Let us take the example of watching a person walking toward you. When the person is 100 meters away, you see a snapshot of him. Then that mental imprint immediately goes to the past. By the time he is close to you, all those visual events of him walking towards you will have gone to the past; they can now be recalled only as dhammā.

Hãy lấy ví dụ bạn nhìn thấy một người đang đi về phía bạn. Khi người đó còn cách 100 mét, bạn thấy một “ảnh chụp” của người ấy. Dấu ấn tâm này lập tức trôi vào quá khứ. Đến khi người đó lại gần bạn, toàn bộ các hình ảnh về quá trình anh ta đi tới đã trở thành quá khứ; giờ đây chúng chỉ còn có thể được hồi tưởng như là các dhammā.

  • The same is true for all five physical senses. We experience them only DURING the sense event, only momentarily. After that we can only RECALL those events with the mana indriya. Those past sense events come back as nāma gotta or memories. A day after meeting that person, you can visualize the whole event with the mana indriya.

Điều này đúng cho cả năm giác quan vật lý. Ta chỉ trải nghiệm chúng TRONG LÚC sự kiện giác quan xảy ra, chỉ trong khoảnh khắc. Sau đó, ta chỉ có thể NHỚ LẠI các sự kiện đó bằng mana indriya (ý căn). Những sự kiện giác quan trong quá khứ quay lại dưới dạng nāma gotta hay ký ức. Một ngày sau khi gặp người đó, bạn có thể hình dung lại toàn bộ sự việc bằng mana indriya.

  1. Therefore, pañcakkhandha (except for those arising at any given moment) is dhammā, experienced by the mind via the mana indriya. This subtle point may not be apparent immediately; also, see “Pañcakkhandha or Five Aggregates – A Misinterpreted Concept.”

Vì vậy, pañcakkhandha (ngoại trừ phần đang sinh khởi trong khoảnh khắc hiện tại) chính là dhammā, được tâm trải nghiệm qua mana indriya. Điểm tinh tế này có thể chưa rõ ngay lập tức; xem thêm bài “Pañcakkhandha or Five Aggregates – A Misinterpreted Concept.”

  • We get attached to only a small fraction of pañcakkhandha, and that is called pañca upādānakkhandha; see, “Pancupādānakkhandha – It is All Mental.”

Chúng ta chỉ chấp thủ vào một phần rất nhỏ của pañcakkhandha, và phần đó được gọi là pañca upādānakkhandha; xem “Pancupādānakkhandha – It is All Mental.”

  1. If you think deeply enough, you will realize the world that one’s mind makes up one experiences to some extent. It is easy to see that our vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa are all highly personal and are based on one’s gati.

Nếu suy nghĩ đủ sâu, bạn sẽ nhận ra thế giới mà mỗi người trải nghiệm phần nào là do chính tâm mình tạo dựng. Rất dễ thấy rằng vedanā, saññā, saṅkhāra, và viññāṇa của mỗi người đều mang tính cá nhân cao và dựa trên gati của người đó.

  • The physical world around us exists for sure and is real, but what we perceive is highly personal. What we see and experience is our own “mental picture” of the world: our own vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa.

Thế giới vật lý xung quanh chắc chắn là có thật, nhưng cái mà ta tri nhận lại mang tính cá nhân rất cao. Những gì ta thấy và trải nghiệm là “bức tranh tâm” riêng của mỗi người về thế giới: chính là vedanā, saññā, saṅkhāra, và viññāṇa của mình.

  1. This post became longer than I expected. However, it is impossible even provide a basic outline in a short post. Still, one would need to read other relevant posts to understand this basic layout, thereby understanding those keywords better. But it is essential to do if one is really interested in grasping the actual teachings of the Buddha.

Bài viết này dài hơn tôi dự kiến. Tuy nhiên, ngay cả việc đưa ra một khung cơ bản trong một bài ngắn cũng là điều không thể. Người đọc vẫn cần đọc thêm các bài liên quan để hiểu bố cục nền tảng này và qua đó hiểu rõ hơn các thuật ngữ then chốt. Nhưng điều đó là thiết yếu nếu thực sự muốn nắm bắt giáo lý đích thực của Đức Phật.

  • As the Buddha said, “this Dhamma has never been known to the world, and it is not easy to comprehend.” It requires a real effort. On the other hand, getting released from the apāyā should not be expected to be done quickly. Otherwise, none of us would still be here.

Như Đức Phật đã dạy: “Dhamma này chưa từng được thế gian biết đến và không dễ để hiểu.” Nó đòi hỏi nỗ lực chân thật. Mặt khác, không nên mong việc thoát khỏi các cõi khổ (apāyā) diễn ra nhanh chóng; nếu không thì chẳng ai trong chúng ta còn ở đây.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *