Connection Between Saṅkhāra and Viññāṇa / Mối Liên Hệ Giữa Saṅkhāra Và Viññāṇa

January 11, 2018

Ngày 11/01/2018

  1. In a recent post, “Viññāṇa – Consciousness Together With Future Expectations,” I discussed how viññāṇa or “future expectations” are established when one gets attached to something and starts doing saṅkhāra (conscious thinking, speech, and actions) about it.

Trong một bài gần đây, “Viññāṇa – Consciousness Together With Future Expectations,” tôi đã bàn về cách viññāṇa hay “các kỳ vọng tương lai” được thiết lập khi một người bám chấp vào một điều gì đó và bắt đầu tạo saṅkhāra (suy nghĩ, lời nói và hành động có ý thức) liên quan đến nó.

  • In this post, I will elaborate more on the importance of saṅkhāra and the connection to viññāṇa. In a few posts, I will try to explain how we create our own future suffering by engaging in abhisaṅkhāra or “strong saṅkhāra.”

Trong bài này, tôi sẽ trình bày thêm về tầm quan trọng của saṅkhāra và mối liên hệ của nó với viññāṇa. Trong một vài bài tiếp theo, tôi sẽ cố gắng giải thích cách chúng ta tự tạo ra khổ đau trong tương lai bằng cách dấn thân vào abhisaṅkhāra hay “saṅkhāra mạnh”.

  • These abhisaṅkhāra are nothing but how we think about, speak about, and take actions on moral/immoral issues. If we do any of the dasa akusala, then we are generating “bad abhisaṅkhāra” or “apuñña abhisaṅkhāra” (abbreviated as “apuññābhisaṅkhāra”).

Những abhisaṅkhāra này chính là cách chúng ta suy nghĩ, nói năng và hành động về các vấn đề thiện/bất thiện. Nếu chúng ta làm bất kỳ điều nào trong dasa akusala, thì chúng ta đang tạo ra “abhisaṅkhāra xấu” hay “apuñña abhisaṅkhāra” (viết gọn là “apuññābhisaṅkhāra”).

  • Those apuññābhisaṅkhāra lead to suffering. Therefore, the key to stop future suffering is to gradually reduce apuññābhisaṅkhāra and eventually stop them.

Những apuññābhisaṅkhāra đó dẫn đến khổ đau. Vì vậy, chìa khóa để chấm dứt khổ đau trong tương lai là dần dần giảm bớt apuññābhisaṅkhāra và cuối cùng chấm dứt chúng.

  1. In addition to what we discussed in that previous post, another key point is to realize that all our speech and bodily actions are started by the mind.

Ngoài những gì đã bàn trong bài trước, một điểm then chốt khác là phải nhận ra rằng mọi lời nói và hành động thân của chúng ta đều bắt đầu từ tâm.

  • Can you do anything, if you (or your mind) does not want to do?

Bạn có thể làm được điều gì nếu bạn (hay tâm của bạn) không muốn làm không?

  • You may be in the middle of doing something (say walking to the kitchen), but you can decide you don’t really want to go to the kitchen and instead walk to the living room. If you start saying something, you can stop in mid-sentence if you want to.

Bạn có thể đang ở giữa một hành động nào đó (ví dụ đang đi về phía nhà bếp), nhưng bạn có thể quyết định rằng mình không thật sự muốn vào bếp mà quay sang phòng khách. Nếu bạn bắt đầu nói một điều gì đó, bạn cũng có thể dừng lại giữa chừng nếu muốn.

  • Some people have strange ideas about humans not having free will. They should try what I just suggested above. It is not that hard to verify.

Một số người có những ý tưởng kỳ lạ cho rằng con người không có tự do ý chí. Họ nên thử những điều tôi vừa gợi ý ở trên. Điều đó không khó để tự kiểm chứng.

  1. All the progress that science has made is based on the “mind power” of the humans (scientists coming up with breakthrough innovations in their minds). Mind comes first and this is what is expressed in the very first Dhammapada gāthā: “manopubbangamā dhammā..” or “mind is at the forefront.”

Mọi tiến bộ mà khoa học đạt được đều dựa trên “sức mạnh của tâm” con người (các nhà khoa học nghĩ ra những đột phá trong tâm mình). Tâm đi trước hết, và điều này được diễn tả ngay trong câu kệ đầu tiên của Dhammapada: “manopubbangamā dhammā..” hay “tâm là dẫn đầu”.

  • A child’s future depends on how well he learns. If the mind of the child goes in the wrong direction, he/she could become a drug addict or even a murderer.

Tương lai của một đứa trẻ phụ thuộc vào việc nó học hỏi như thế nào. Nếu tâm của đứa trẻ đi sai hướng, nó có thể trở thành người nghiện ma túy hay thậm chí là kẻ sát nhân.

  • In the same way, we determine our own LONG-TERM future in the rebirth process by the ways in which we think, speak, and act. That is what is really explained in Paṭicca Samuppāda (normally translated as “Dependent Origination”; again, it is much better to use the Pāli term and understand what is really meant by it).

Tương tự như vậy, chúng ta tự quyết định tương lai LÂU DÀI của mình trong tiến trình tái sinh bằng cách chúng ta suy nghĩ, nói năng và hành động. Đó chính là điều được giải thích trong Paṭicca Samuppāda (thường được dịch là “Duyên khởi”; nhưng tốt hơn là dùng luôn thuật ngữ Pāli và hiểu đúng ý nghĩa của nó).

  1. From the moment we wake up in the morning, we do nothing but generate saṅkhāra.

Từ lúc thức dậy vào buổi sáng, chúng ta không làm gì khác ngoài việc tạo ra saṅkhāra.

  • When we just experience a sense input (seeing, hearing, etc.), “mano saṅkhāra” are automatically generated.

Khi chúng ta chỉ đơn thuần trải nghiệm một dữ liệu giác quan (thấy, nghe, v.v.), thì “mano saṅkhāra” tự động sinh khởi.

  • The Buddha said, “vedanā, saññā are mano saṅkhāra”: we just experience the sense input by recognizing it and generating a “sukha, dukkha, or neutral feeling about it.”

Đức Phật đã nói: “vedanā, saññā là mano saṅkhāra”: chúng ta chỉ trải nghiệm dữ liệu giác quan bằng cách nhận diện nó và sinh khởi một cảm thọ “sukha, dukkha hay trung tính” về nó.

  1. When we start thinking consciously about a particular sense input (what we saw, heard, tasted, etc.), we start generating vacī saṅkhāra; we may also speak with vacī saṅkhāra. Here, vacī is pronounced “vachee.”

Khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ có ý thức về một dữ liệu giác quan cụ thể (điều ta thấy, nghe, nếm, v.v.), thì chúng ta bắt đầu tạo vacī saṅkhāra; và chúng ta cũng có thể nói bằng vacī saṅkhāra. Ở đây, vacī được phát âm là “vachee”.

  • For example, if we see a nice car and start thinking about how nice it would be to own such a car, how we can impress our friends with it, etc., we are fully aware of such thoughts.

Ví dụ, nếu ta thấy một chiếc xe đẹp và bắt đầu nghĩ xem sẽ tuyệt vời thế nào nếu sở hữu nó, làm sao có thể gây ấn tượng với bạn bè bằng nó, v.v., thì ta hoàn toàn ý thức được những suy nghĩ đó.

  • Such conscious generation of thoughts about “what to do about a given sense input and how to go about it”, for example, are vacī saṅkhāra. Actual speech is also vacī saṅkhāra.

Sự sinh khởi có ý thức của các suy nghĩ như “phải làm gì với dữ liệu giác quan đó và sẽ làm như thế nào” chính là vacī saṅkhāra. Lời nói thực sự cũng là vacī saṅkhāra.

  • The Buddha said, “vitakka, vicāra are vacī saṅkhāra”: staying on the given sense input and generating thoughts about it or related things.

Đức Phật nói: “vitakka, vicāra là vacī saṅkhāra”: là sự bám vào dữ liệu giác quan đã cho và sinh ra các suy nghĩ về nó hay những điều liên quan.

  • Furthermore, we can keep going with such “day dreaming” or we can stop them. If it is something we like, it may be hard to stop thinking about it, i.e., it may take will power.

Hơn nữa, chúng ta có thể tiếp tục những “mơ mộng ban ngày” như vậy hoặc cũng có thể dừng lại. Nếu đó là điều ta thích, thì có thể rất khó để ngừng nghĩ về nó, tức là cần đến ý chí.

  • That is what is involved in Ānāpānasati/Satipaṭṭhāna: stopping bad vacī saṅkhāra.

Đó chính là điều liên quan đến Ānāpānasati/Satipaṭṭhāna: chấm dứt các vacī saṅkhāra xấu.

  1. If we just proceed with those vacī saṅkhāra, our emotions may get strong and we may start speaking out (stronger vacī saṅkhāra). If we get “really worked up” we may do bodily actions with such emotions, then those are done with kāya saṅkhāra.

Nếu chúng ta cứ tiếp tục những vacī saṅkhāra đó, cảm xúc của chúng ta có thể trở nên mạnh mẽ và chúng ta có thể bắt đầu nói ra (những vacī saṅkhāra mạnh hơn). Nếu chúng ta “bị kích động mạnh”, chúng ta có thể thực hiện các hành động thân với những cảm xúc đó, và khi ấy đó là kāya saṅkhāra.

  • For example, let us say two people get into an argument and start shouting at each other. Each person is speaking harsh words (generated via vacī saṅkhāra).

Ví dụ, giả sử hai người cãi nhau và bắt đầu la hét vào mặt nhau. Mỗi người đều đang nói những lời thô bạo (được tạo ra qua vacī saṅkhāra).

  • Then one of them (person X) gets “really worked up”, loses all restraint, and hits the other person. That “hitting action” was done with kāya saṅkhāra (generating thoughts to raise the hand and hit that person).

Rồi một trong hai người (người X) “bị kích động mạnh”, mất hết kiềm chế và đánh người kia. Hành động “đánh” đó được thực hiện với kāya saṅkhāra (sinh ra những ý nghĩ để giơ tay và đánh người kia).

  1. It is important to realize that both speech and bodily actions are initiated by the mind.

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng cả lời nói lẫn hành động thân đều do tâm khởi xướng.

  • In the above example, both people were engaged in generating “bad vacī saṅkhāra,” which are nothing but “bad speech”, the opposite of “Sammā Vācā” or “correct speech.”

Trong ví dụ trên, cả hai người đều đang tạo ra “vacī saṅkhāra xấu”, tức là “lời nói xấu”, đối lập với “Sammā Vācā” hay chánh ngữ.

  • Then person X did an even worse thing by hitting the other person. That was a “bad action”, opposite of “Sammā Kammanta.”

Sau đó người X còn làm một điều tệ hơn nữa là đánh người kia. Đó là một “hành động xấu”, đối lập với “Sammā Kammanta”.

  • Therefore, they were both acting with “avijjā” or ignorance of the consequences of their actions. That is “avijjā paccayā saṅkhāra,” the first step in Paṭicca Samuppāda.

Vì vậy, cả hai đều đang hành động với “avijjā” hay vô minh về hậu quả của các hành động của mình. Đó là “avijjā paccayā saṅkhāra”, bước đầu tiên trong Paṭicca Samuppāda.

  1. Now, we can see what is meant by “saṅkhāra” (and “abhisaṅkhāra”).

Bây giờ, chúng ta có thể thấy rõ “saṅkhāra” (và “abhisaṅkhāra”) có nghĩa là gì.

  • In the above example, both vacī saṅkhāra and kāya saṅkhāra generated by person X were “abhisaṅkhāra” or “strong saṅkhāra.”

Trong ví dụ trên, cả vacī saṅkhāra và kāya saṅkhāra do người X tạo ra đều là “abhisaṅkhāra” hay “saṅkhāra mạnh”.

  • If those two people were just talking about something kammically neutral, say about the weather, then that would involve just “saṅkhāra.”

Nếu hai người đó chỉ nói về một điều trung tính về mặt kamma, chẳng hạn như thời tiết, thì khi ấy chỉ có “saṅkhāra”.

  • If they were talking about weather, while walking, then that would involve both vacī and kāya saṅkhāra that are NOT of “abhisaṅkhāra” type. That speech and action did not involve generation of “kammic

Nếu họ vừa nói về thời tiết vừa đi bộ, thì khi ấy có cả vacī và kāya saṅkhāra nhưng KHÔNG thuộc loại “abhisaṅkhāra”. Lời nói và hành động đó không tạo ra “năng lượng kamma”.

  1. Therefore, it is important to understand the difference between just saṅkhāra and abhisaṅkhāra. In the suttā or in Paṭicca Samuppāda, the word “saṅkhāra” is often used without specifying whether it is just “saṅkhāra” or “abhisaṅkhāra.”

Vì vậy, điều quan trọng là phải hiểu sự khác biệt giữa saṅkhāra đơn thuần và abhisaṅkhāra. Trong các suttā hay trong Paṭicca Samuppāda, từ “saṅkhāra” thường được dùng mà không chỉ rõ đó là saṅkhāra hay abhisaṅkhāra.

  • Depending on the context, we should be able to determine whether it is just “saṅkhāra” or “abhisaṅkhāra.”

Tùy theo ngữ cảnh, chúng ta cần có khả năng xác định đó chỉ là “saṅkhāra” hay là “abhisaṅkhāra”.

  • Not only that, but abhisaṅkhāra are also two types: puññābhisaṅkhāra (puñña abhisaṅkhāra or “good deeds”) and apuññābhisaṅkhāra (apuñña abhisaṅkhāra or “bad deeds”).

Không chỉ vậy, abhisaṅkhāra còn có hai loại: puññābhisaṅkhāra (puñña abhisaṅkhāra hay “hành động thiện”) và apuññābhisaṅkhāra (apuñña abhisaṅkhāra hay “hành động bất thiện”).

  • Here by “deeds” we include all three types of saṅkhāra: mano, vacī, and kāya. We should AVOID all three types of apuññābhisaṅkhāra or immoral thoughts, speech, and actions.

Ở đây, “hành động” bao gồm cả ba loại saṅkhāra: mano, vacī và kāya. Chúng ta nên TRÁNH cả ba loại apuññābhisaṅkhāra, tức là các ý nghĩ, lời nói và hành động bất thiện.

  1. It is again important to emphasize that mano saṅkhāra arise AUTOMATICALLY based on two things: (1) the sense input, and (2) one’s own gati or gathi (character/habits), as we discussed in the post: “Introduction to Citta, Vedanā, Saññā, Saṅkhāra, and Viññāṇa.”

Cần nhấn mạnh lại rằng mano saṅkhāra sinh khởi một cách TỰ ĐỘNG dựa trên hai điều: (1) dữ liệu giác quan, và (2) gati hay gathi (tính cách/thói quen) của chính mỗi người, như đã thảo luận trong bài: “Introduction to Citta, Vedanā, Saññā, Saṅkhāra, and Viññāṇa.”

  • For example, if someone has a bad temper (that is a bad gati), then that person can be made angry by the slightest provocation.

Ví dụ, nếu một người có tính nóng nảy (đó là gati xấu), thì người đó có thể nổi giận chỉ vì một kích thích rất nhỏ.

  • On the other hand, there are people who are calm and measured and are not easy to become angry. It will take much stronger provocation to make them angry.

Ngược lại, có những người điềm tĩnh và chừng mực, không dễ nổi giận. Cần phải có kích thích mạnh hơn nhiều mới khiến họ nổi giận.

  • In the same way, some people are greedy and are easily attached to tasty foods. Some people are kind and quick to come to help for others in need, etc.

Tương tự, có người tham lam và dễ dính mắc vào thức ăn ngon. Có người thì hiền lành và nhanh chóng giúp đỡ những người đang cần giúp.

  1. The key to making progress in the Path of the Buddha is to cultivate “good gati” and gradually reduce “bad gati.”

Chìa khóa để tiến bộ trên Con đường Tu tập của Đức Phật là nuôi dưỡng “gati tốt” và dần dần giảm bớt “gati xấu”.

  • If one is “quick to anger”, that is a bad gati. One important way to reduce that bad gati is to stop generating vacī and kāya saṅkhāra by will power when they start arising.

Nếu một người “dễ nổi giận”, đó là gati xấu. Một cách quan trọng để giảm bớt gati xấu đó là dùng ý chí để ngăn chặn vacī và kāya saṅkhāra ngay khi chúng bắt đầu sinh khởi.

  • For example, some people get angry even when they hear the name of a person they do not like. Then they start thinking about all the bad things that person has done in the past. That is generating “bad vacī saṅkhāra.”

Ví dụ, có người chỉ nghe tên của người họ không thích là đã nổi giận. Rồi họ bắt đầu nghĩ đến tất cả những điều xấu người đó đã làm trong quá khứ. Đó là đang tạo “vacī saṅkhāra xấu”.

  • Even though one may not be saying a single bad word, just consciously thinking bad thoughts about another person will feed that bad habit. So, it is important to realize that generating such “silent bad thoughts” is as bad as saying harsh words.

Dù người đó không nói ra một lời xấu nào, chỉ cần một cách có ý thức có những ý nghĩ xấu về người khác cũng đã nuôi dưỡng thói quen xấu đó. Vì vậy, cần nhận ra rằng việc tạo ra những “ý nghĩ xấu thầm lặng” cũng tệ hại như nói ra những lời cay độc.

  • Of course actually speaking out (also vacī saṅkhāra) and doing bad things to a person (hitting, for example) are also bad abhisaṅkhāra.

Dĩ nhiên, việc thực sự nói ra (cũng là vacī saṅkhāra) và làm những điều xấu với người khác (ví dụ như đánh người) cũng là những abhisaṅkhāra xấu.

  1. This “feeding bad habits” via (apuññābhi)saṅkhāra generation is explained via the step, “saṅkhāra paccayā viññāṇa” in Paṭicca Samuppāda.

Việc “nuôi dưỡng thói quen xấu” thông qua việc tạo (apuññābhi)saṅkhāra được giải thích qua bước “saṅkhāra paccayā viññāṇa” trong Paṭicca Samuppāda.

  • When person X has a “grudge against person Y”, person X has a “vinnāṇa” or an expectation in his mind to “get back to Y or hurt Y” whenever an opportunity arises.

Khi người X “ôm mối hận với người Y”, thì trong tâm X có một “viññāṇa” hay một kỳ vọng là “sẽ trả thù hay làm hại Y” khi có cơ hội.

  • That viññāṇa “gets food to grow” each time X starts generating bad thoughts about Y, speak against Y, or do something to hurt Y. Those all belong to vacī and kāya saṅkhāra.

Viññāṇa đó “được cho ăn để lớn lên” mỗi khi X bắt đầu nghĩ xấu về Y, nói chống lại Y, hay làm điều gì đó để hại Y. Tất cả đều là vacī và kāya saṅkhāra.

  • On the other hand, mano saṅkhāra about Y arise automatically in X’s mind when X sees Y or even when Y’s name is mentioned by someone else. Then X is likely to start generating vacī saṅkhāra or “conscious thoughts about Y.”

Ngược lại, mano saṅkhāra về Y sẽ tự động sinh khởi trong tâm X khi X thấy Y hoặc thậm chí khi có người nhắc đến tên Y. Khi ấy X rất dễ bắt đầu tạo vacī saṅkhāra hay “những suy nghĩ có ý thức về Y”.

  • The key to progress is to STOP such vacī saṅkhāra AS SOON AS one becomes aware of them.

Chìa khóa để tiến bộ là DỪNG những vacī saṅkhāra đó NGAY KHI ta vừa nhận biết được chúng.

  1. Just like a person, an animal, or even a tree would grow when given food on a regular basis, one’s viññāṇa would grow when “it is fed on a regular basis” by generating vacī and kāya saṅkhāra.

Giống như con người, con vật hay thậm chí một cái cây sẽ lớn lên khi được cho ăn đều đặn, viññāṇa của một người cũng sẽ tăng trưởng khi “được cho ăn đều đặn” bằng việc tạo vacī và kāya saṅkhāra.

  • It works backwards too. If food is reduced, a tree will not grow well. If food and water are totally stopped, the tree will die.

Điều này cũng vận hành theo chiều ngược lại. Nếu giảm bớt thức ăn, cây sẽ không phát triển tốt. Nếu hoàn toàn không cho ăn và tưới nước, cây sẽ chết.

  • In the same way, if one stops feeding a given “viññāṇa” (or a “future expectation”) by stopping vacī and kāya saṅkhāra, that viññāṇa will die with time.

Tương tự, nếu một người ngừng nuôi dưỡng một “viññāṇa” nào đó (hay một “kỳ vọng tương lai”) bằng cách dừng vacī và kāya saṅkhāra, thì viññāṇa đó sẽ dần dần lụi tàn.

  • In the same way, we want to “feed a good viññāṇa,” say to act kindly towards other people and animals. So, we should INCREASE vacī and saṅkhāra generation: generate more compassionate thoughts and engage in compassionate activities like giving.

Tương tự, chúng ta muốn “nuôi dưỡng một viññāṇa tốt”, chẳng hạn như hành xử tử tế với người khác và với loài vật. Vì vậy, chúng ta nên TĂNG việc tạo vacī và kāya saṅkhāra: sinh ra nhiều suy nghĩ từ bi hơn và tham gia vào các hoạt động đầy lòng trắc ẩn như bố thí.

  1. So, hopefully, we now have a good idea about what saṅkhāra (and abhisaṅkhāra) are and how they lead to good or bad viññāṇa.

Như vậy, hy vọng là đến đây chúng ta đã có một ý niệm khá rõ về saṅkhāra (và abhisaṅkhāra) là gì và chúng dẫn đến viññāṇa tốt hay xấu như thế nào.

  • We will discuss more on viññāṇa in the next post. In the mean time, please do not hesitate to ask questions. It is important to understand these basic concepts.

Chúng ta sẽ bàn thêm về viññāṇa trong bài tiếp theo. Trong lúc này, xin đừng ngần ngại đặt câu hỏi. Việc hiểu rõ những khái niệm căn bản này là rất quan trọng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *