July 19, 2019; revised September 8, 2019; December 3, 2022
Ngày 19/07/2019; chỉnh sửa ngày 08/09/2019; 03/12/2022
Introduction
Giới thiệu
- There are words in Pāli that can have similar meanings. But one word may be better than another word in a particular situation. That is also true in English or any other language.
Trong Pāli có những từ có thể mang ý nghĩa tương tự nhau. Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể, có thể một từ sẽ phù hợp hơn từ khác. Điều đó cũng đúng trong tiếng Anh hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác.
- In Buddha Dhamma, several Pāli words are used in different contexts regarding the “mental body.” They are manomaya kāya, kammaja kāya, gandhabba, and paṭisandhi viññāṇa. I will try to make things a bit clear in this post.
Trong Dhamma của Đức Phật, có một số từ Pāli được dùng trong những ngữ cảnh khác nhau để chỉ “thân tâm.” Đó là manomaya kāya, kammaja kāya, gandhabba và paṭisandhi viññāṇa. Tôi sẽ cố gắng làm rõ phần nào trong bài viết này.
- We must remember that the mind is very complex, and living beings in different realms have different types of “mental bodies.” It is good to have a basic idea of these differences.
Chúng ta phải nhớ rằng tâm vô cùng phức tạp, và chúng sinh ở những cõi khác nhau có những loại “thân tâm” khác nhau. Có được một hình dung căn bản về những khác biệt này là điều hữu ích.
- Most important here is to realize that these “mental bodies” are very different from the “physical bodies” we see in humans and animals.
Điều quan trọng nhất ở đây là nhận ra rằng những “thân tâm” này rất khác với những “thân vật lý” mà chúng ta thấy ở con người và động vật.
- In particular, Brahma does not have a physical body at all. Then how can a Brahma see and hear without physical eyes, ears, and a brain to process those signals? These are questions that naturally arise in our minds. That is because we are not used to the concept of a “living being” without a solid body.
Đặc biệt, Brahma hoàn toàn không có thân vật lý. Vậy thì một Brahma có thể thấy và nghe như thế nào khi không có mắt vật lý, tai vật lý và bộ não để xử lý những tín hiệu đó? Đây là những câu hỏi tự nhiên nảy sinh trong tâm chúng ta. Đó là vì chúng ta chưa quen với khái niệm về một “chúng sinh sống” mà không có thân thể vật chất rắn chắc.
- The following discussion lays out a simple picture (with a few omissions to keep it more uncomplicated).
Phần trình bày dưới đây sẽ phác họa một bức tranh đơn giản (có lược bỏ một vài điểm để giữ cho vấn đề bớt phức tạp hơn).
Mental Body and Physical Body
Thân Tâm và Thân Vật Lý
- All living beings have a “mental body” (“manomaya kāya”). Living beings in some realms also have a “physical body” (āhāraja kāya). [Āhāraja kāya is also known as karaja kāya, see “Manomaya Kāya (Gandhabba) and the Physical Body.”]
Tất cả chúng sinh đều có một “thân tâm” (“manomaya kāya”). Chúng sinh trong một số cõi còn có cả một “thân vật lý” (āhāraja kāya). [Āhāraja kāya cũng được gọi là karaja kāya, xem “Manomaya Kāya (Gandhabba) and the Physical Body.”]
- So, we first need to realize that such a “kāya” is not the same as a “physical body” that we are used to, weighing tens of kilograms or hundreds of pounds. The Pāli word “kāya” means a collection. Even in English, “body” sometimes implies a collection of parts. Some examples are, a “body of evidence” or “a body of water.” [kāya : (m.), a heap; a collection; the body.]
Vì vậy, trước hết chúng ta cần nhận ra rằng một “kāya” như vậy không giống với “thân vật lý” mà chúng ta quen thuộc, nặng hàng chục kilogram hay hàng trăm pound. Từ Pāli “kāya” có nghĩa là một tập hợp. Ngay cả trong tiếng Anh, “body” đôi khi cũng hàm ý một tập hợp các thành phần. Một vài ví dụ là “body of evidence” hay “body of water.” [kāya : (m.), một đống; một tập hợp; thân.]
- “Manomaya” means “made by the mind.” Therefore, a manomaya kāya is a collection of very subtle/fine parts (hadaya vatthu and several pasāda rūpa) that are necessary for any living being. A manomaya kāya arises out of kammic energy created in our thoughts (citta). Abhidhamma is even more specific and says that our javana citta generates this energy.
“Manomaya” có nghĩa là “được tạo bởi tâm.” Vì vậy, một manomaya kāya là một tập hợp những thành phần rất vi tế/tinh tế (hadaya vatthu và một số pasāda rūpa) cần thiết cho bất kỳ chúng sinh nào. Một manomaya kāya phát sinh từ năng lượng kamma được tạo ra trong các ý nghĩ của chúng ta (citta). Abhidhamma còn nói rõ hơn nữa rằng chính javana citta của chúng ta tạo ra năng lượng ấy.
- “Kammaja kāya” is the primary component of the manomaya kāya. That is because it is the first kāya “created by kammic”
“Kammaja kāya” là thành phần chính của manomaya kāya. Đó là vì nó là kāya đầu tiên “được tạo ra bởi năng lượng kamma.”
- Now we can look at the two words kammaja kāya and āhāraja kāya. Here each composite word is made from two parts: The common component, in this case, is “ja,” which means “generated by” or “born due to.”
Bây giờ chúng ta có thể xem xét hai từ kammaja kāya và āhāraja kāya. Ở đây, mỗi từ ghép được tạo thành từ hai phần: thành phần chung trong trường hợp này là “ja,” có nghĩa là “được tạo ra bởi” hay “sinh ra do.”
- The parts that arise from kammic energy are “kammaja kāya.” This “kāya” or “body” is very fine. A whole “kammaja kāya” is a billion times smaller than an atom. But as we will see, this “kāya” is the more powerful. That is where the seat of the mind (hadaya vatthu) and the five real sensing elements of “pasāda rūpa” are located.
Những phần phát sinh từ năng lượng kamma là “kammaja kāya.” “Kāya” hay “thân” này vô cùng vi tế. Toàn bộ một “kammaja kāya” nhỏ hơn một nguyên tử đến một tỷ lần. Nhưng như chúng ta sẽ thấy, “kāya” này lại mạnh mẽ hơn. Đây là nơi có chỗ ngự của tâm (hadaya vatthu) và năm yếu tố cảm nhận thật sự của “pasāda rūpa.”
- Those six elements are the fundamental units of matter (suddhaṭṭhaka) in Buddha Dhamma, which are much smaller than atoms in modern science.
Sáu yếu tố đó là những đơn vị vật chất căn bản (suddhaṭṭhaka) trong Dhamma của Đức Phật, và chúng nhỏ hơn rất nhiều so với nguyên tử trong khoa học hiện đại.
- Therefore, a whole “kammaja kāya” is unimaginably tiny by our standards. One would not be able to see one even with an electron microscope. As we see below, that is all Brahma has!
Vì vậy, theo tiêu chuẩn của chúng ta, toàn bộ một “kammaja kāya” nhỏ đến mức không thể tưởng tượng được. Người ta sẽ không thể nhìn thấy nó ngay cả với kính hiển vi điện tử. Như chúng ta sẽ thấy bên dưới, đó là tất cả những gì Brahma có!
- “Āhāra” means ‘food,” and thus āhāraja kāya is the “collection of body parts” that grows via eating food. In humans and animals, this is the “physical body” that we see.
“Āhāra” có nghĩa là “thức ăn,” và vì vậy āhāraja kāya là “tập hợp các bộ phận thân thể” lớn lên nhờ ăn thức ăn. Ở con người và động vật, đây là “thân vật lý” mà chúng ta nhìn thấy.
- Therefore, a “āhāraja kāya” is a “collection of heavy components of a body” like the head, arms, legs, eyes, ears, etc. That is what we call the “physical body.” A physical body grows by using energy intake from the food we eat.
Vì vậy, một “āhāraja kāya” là một “tập hợp những thành phần nặng của thân” như đầu, tay, chân, mắt, tai, v.v. Đó là điều chúng ta gọi là “thân vật lý.” Một thân vật lý phát triển nhờ sử dụng năng lượng lấy vào từ thức ăn chúng ta ăn.
- For beings like us with solid physical bodies, the sensory signals are first received by the five physical senses (eyes, ears, nose, tongue, and body). Then the brain processes those signals and sends them to the manomaya kāya. The manomaya kāya senses those signals.
Đối với những chúng sinh như chúng ta với thân vật lý rắn chắc, các tín hiệu giác quan trước tiên được tiếp nhận bởi năm giác quan vật lý (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân). Sau đó não xử lý các tín hiệu ấy và gửi chúng đến manomaya kāya. Manomaya kāya cảm nhận những tín hiệu đó.
- Eyes and ears, for example, do not see or hear. The eyes and ears pass those signals to the brain. The brain processes those signals send to the corresponding pasāda rūpa in the manomaya kāya; see, “Brain – Interface between Mind and Body.”
Ví dụ, mắt và tai tự chúng không thấy hay nghe. Mắt và tai chuyển những tín hiệu đó đến não. Não xử lý những tín hiệu ấy rồi gửi chúng đến pasāda rūpa tương ứng trong manomaya kāya; xem “Brain – Interface between Mind and Body.”
- As we have discussed in recent posts in this series, a physical body (of a human or an animal) starts with a single cell called a zygote. The development of a complete human body, beginning with that one cell is another fascinating story. Scientists have no idea how that happens via a program in the DNA of that single cell. Who designed that program? See “Origin of Life.”
Như chúng ta đã bàn trong các bài gần đây của loạt bài này, một thân vật lý (của con người hay động vật) bắt đầu từ một tế bào đơn lẻ gọi là hợp tử. Sự phát triển của một thân người hoàn chỉnh, bắt đầu từ tế bào duy nhất đó, là một câu chuyện hấp dẫn khác. Các nhà khoa học không biết điều đó xảy ra như thế nào thông qua một chương trình nằm trong DNA của tế bào đơn lẻ ấy. Ai đã thiết kế chương trình đó? Xem “Origin of Life.”
Beings in Brahma and Deva Realms
Các Chúng sinh trong các Cõi Brahma và Deva
- Brahmā do not have an āhāraja kāya, and just have the kammaja and utuja kāya. The kammaja kāya of a Brahma has only a hadaya vatthu and four other dasaka (bhāva, kāya, cakkhu, and sota.) Still, they can see and hear with that ultra-fine “body” without having any eyes or ears (and brains) like ours. Of course, it is difficult for us to imagine such a living being.
Các Brahmā không có āhāraja kāya, mà chỉ có kammaja kāya và utuja kāya. Kammaja kāya của một Brahma chỉ có một hadaya vatthu và bốn dasaka khác (bhāva, kāya, cakkhu và sota.) Tuy vậy, họ vẫn có thể thấy và nghe bằng “thân” siêu vi tế đó mà không cần có mắt, tai (và não) như chúng ta. Dĩ nhiên, đối với chúng ta thật khó hình dung một chúng sinh như thế.
- Therefore, a Brahma with just a manomaya kāya has a mass of less than an electron. We cannot see a cell (or an atom,) let alone an electron. Now we can understand why we should not think of “Brahma bodies” in the same sense as a “solid body.”
Vì vậy, một Brahma chỉ với manomaya kāya có khối lượng nhỏ hơn một electron. Chúng ta còn không thể nhìn thấy một tế bào (hay một nguyên tử), chứ chưa nói đến một electron. Bây giờ chúng ta có thể hiểu vì sao không nên nghĩ về “thân của Brahma” theo cùng nghĩa như một “thân rắn chắc.”
- Those Brahmā cannot taste the food, smell odors, or touch things physically as we do. In other words, they do not have ghāṇa and jivhā pasāda rūpa. Even though they have the kāya pasāda rūpa, they don’t have a dense physical body to “make physical contact.”
Các Brahmā đó không thể nếm thức ăn, ngửi mùi hay chạm xúc vật lý như chúng ta. Nói cách khác, họ không có ghāṇa và jivhā pasāda rūpa. Dù họ có kāya pasāda rūpa, họ không có một thân vật lý đậm đặc để “tiếp xúc vật lý.”
- By the way, Brahmā do not need food. Kammic energy sustains their lives. Only the five suddhaṭṭhaka-size dasaka need to be maintained, that is done by kammic energy until that kammic energy is exhausted.
Nhân tiện, các Brahmā không cần thức ăn. Năng lượng kamma duy trì đời sống của họ. Chỉ có năm dasaka cỡ suddhaṭṭhaka cần được duy trì, và điều đó được thực hiện bởi năng lượng kamma cho đến khi năng lượng kamma ấy cạn kiệt.
- Devā do have āhāraja kāya, but that is much finer, and we would not see a deva if we came face-to-face with one.
Các Devā quả thật có āhāraja kāya, nhưng thân đó vi tế hơn rất nhiều, và chúng ta sẽ không nhìn thấy một deva ngay cả khi đối diện trực tiếp với họ.
- They have all five physical senses. Their food is just a drink called “amurta.” That is probably not the correct Pāli word, but that is the Sinhala and Sanskrit name. [Sanskrit: Amrita is composed of the negative prefix, अ a from Sanskrit meaning ‘not’, and mṛtyu meaning ‘death’ in Sanskrit, thus meaning ‘not death’ or ‘immortal/deathless’. Pāli: amata: [nt.] ambrosia (the food of the gods); the deathless state.]
Họ có đủ cả năm giác quan vật lý. Thức ăn của họ chỉ là một loại đồ uống gọi là “amurta.” Có lẽ đó không phải là từ Pāli chính xác, nhưng đó là tên trong tiếng Sinhala và Sanskrit. [Sanskrit: Amrita được tạo thành từ tiền tố phủ định अ a trong Sanskrit nghĩa là ‘không’, và mṛtyu nghĩa là ‘cái chết’ trong Sanskrit, do đó mang nghĩa ‘không chết’ hay ‘bất tử/không chết’. Pāli: amata : [nt.] cam lồ (thức ăn của chư thiên); trạng thái bất tử.]
- Therefore, we must be careful not to carry over our perceptions of “heavy bodies” to the bodies of other beings in other realms. Millions of devā and Brahmā were present to hear the first discourse by the Buddha, according to the Vinaya Piṭaka. However, those five ascetics probably did not even realize that then.
Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận không mang cách nhận thức của mình về “những thân nặng” áp đặt lên thân của các chúng sinh khác ở các cõi khác. Theo Vinaya Piṭaka, hàng triệu devā và Brahmā đã hiện diện để nghe bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật. Tuy nhiên, năm vị khổ hạnh ấy có lẽ thậm chí không hề nhận ra điều đó vào lúc bấy giờ.
What is Gandhabba?
Gandhabba Là Gì?
- A human (or an animal) has both a manomaya kāya and a āhāraja kāya. But the manomaya kāya of a human has a special name of gandhabba due to the following reason.
Một con người (hay một con vật) có cả manomaya kāya lẫn āhāraja kāya. Nhưng manomaya kāya của con người có một tên gọi đặc biệt là gandhabba vì lý do sau đây.
- A human bhava starts with generating a manomaya kāya (or kammaja kāya) by kammic For example, if an animal dies and gets a human bhava (extremely rare), a human manomaya kāya will come out of that dead animal. If a deva dies and gets a human bhava, a human manomaya kāya will appear in the human realm.
Một bhava người bắt đầu bằng sự tạo ra một manomaya kāya (hay kammaja kāya) nhờ năng lượng kamma. Ví dụ, nếu một con vật chết và nhận được một bhava người (cực kỳ hiếm), một manomaya kāya của người sẽ đi ra từ con vật đã chết đó. Nếu một deva chết và nhận được một bhava người, một manomaya kāya của người sẽ xuất hiện trong cõi người.
- That human manomaya kāya has a hadaya vatthu and five pasāda rūpa, as mentioned above. However, it can absorb aroma (scents from plants and food) and get denser (unlike a Brahma). Thus the name gandhabba (“gandha” + “abba” or “inhaling aroma”) is for the manomaya kāya of a human (or an animal).
Manomaya kāya của con người đó có một hadaya vatthu và năm pasāda rūpa, như đã nói ở trên. Tuy nhiên, nó có thể hấp thụ hương (mùi từ thực vật và thức ăn) và trở nên đậm đặc hơn (không giống như một Brahma). Vì vậy, tên gọi gandhabba (“gandha” + “abba” hay “hít vào hương”) được dùng cho manomaya kāya của con người (hay động vật).
- Therefore, the name gandhabba is used only for the manomaya kāya of humans and animals.
Vì vậy, tên gọi gandhabba chỉ được dùng cho manomaya kāya của con người và động vật.
- Normal humans cannot see the relatively dense “body” of a gandhabba. They are in the “para loka” (which is within the human realm).
Con người bình thường không thể nhìn thấy “thân” tương đối đậm đặc của một gandhabba. Họ ở trong “para loka” (nằm trong cõi người).
What is the Connection of Gandhabba to Paṭisandhi Viññāṇa?
Mối liên hệ giữa Gandhabba và Paṭisandhi Viññāṇa là gì?
- Another phrase used in some suttā to indicate a manomaya kāya of a human or animal (i.e., a gandhabba) is paṭisandhi viññāṇa.
Một cụm từ khác được dùng trong một số suttā để chỉ manomaya kāya của con người hay động vật (tức là một gandhabba) là paṭisandhi viññāṇa.
- As we had discussed before, a human gandhabba could live for thousands of years until the end of that human existence of “human bhava.” It can give rise to many “human lives” (jāti) with different physical bodies during that time.
Như chúng ta đã bàn trước đây, một gandhabba của người có thể tồn tại hàng nghìn năm cho đến khi chấm dứt kiếp hiện hữu làm người đó, tức “bhava con người.” Trong khoảng thời gian ấy, nó có thể tạo nên nhiều “đời sống làm người” (jāti) với các thân vật lý khác nhau.
- For example, suppose one of those human jāti At that moment, the gandhabba comes out of the dead body and waits for another “matching womb.” (Gati of the gandhabba has to match those of the parents, especially the mother). When a matching womb becomes available, gandhabba is drawn to that womb. That is in the post, “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception.”
Ví dụ, giả sử một trong những jāti làm người đó chấm dứt. Vào thời điểm ấy, gandhabba đi ra khỏi thân xác đã chết và chờ một “tử cung tương hợp” khác. (Gati của gandhabba phải phù hợp với gati của cha mẹ, đặc biệt là người mẹ). Khi một tử cung tương hợp xuất hiện, gandhabba bị hút vào tử cung đó. Điều này được trình bày trong bài “Buddhist Explanations of Conception, Abortion, and Contraception.”
- The “WebLink: suttacentral: Mahā Taṇhāsaṅkhaya Sutta (MN 38)” describes the “descending of the gandhabba to the womb.” The “WebLink: suttacentral: Mahā Nidana Sutta (DN 15)” describes that as “paṭisandhi viññāṇa descending to the womb.” That is because a paṭisandhi viññāṇa created that gandhabba. That is discussed in detail in the posts “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka” and “Cuti-Paṭisandhi – An Abhidhamma Description.”
“WebLink: suttacentral: Mahā Taṇhāsaṅkhaya Sutta (MN 38)” mô tả việc “gandhabba đi vào tử cung.” “WebLink: suttacentral: Mahā Nidana Sutta (DN 15)” mô tả điều đó là “paṭisandhi viññāṇa đi vào tử cung.” Đó là vì chính một paṭisandhi viññāṇa đã tạo ra gandhabba ấy. Điều này được bàn chi tiết trong các bài “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka” và “Cuti-Paṭisandhi – An Abhidhamma Description.”
The Physical Body shields Manomaya Kāya of Humans and Animals
Thân Vật Lý Che Chắn Manomaya Kāya Của Con Người và Động Vật
- A question may have come up in the mind of some readers. Why cannot a gandhabba in a human physical body directly sense the outside world without the help of the five physical senses (eyes, ears, etc.), if the Brahmā can do that?
Có thể một câu hỏi đã nảy sinh trong tâm của một số độc giả. Nếu các Brahmā có thể làm được, thì tại sao một gandhabba ở trong thân vật lý của con người lại không thể trực tiếp cảm nhận thế giới bên ngoài mà không cần sự trợ giúp của năm giác quan vật lý (mắt, tai, v.v.)?
- The dense physical body shields the manomaya kāya of the gandhabba. As long as the gandhabba is inside the physical body, it cannot get those “sense inputs” directly. Those sensory inputs come through our “sense doors” eyes, ears, nose, tongue, and body. The brain processes those signals and transmits them to the gandhabba (manomaya kāya). See “Brain – Interface between Mind and Body.”
Thân vật lý đậm đặc che chắn manomaya kāya của gandhabba. Chừng nào gandhabba còn ở bên trong thân vật lý, nó không thể trực tiếp nhận được những “đầu vào giác quan” ấy. Những đầu vào giác quan đó đi qua các “cửa giác quan” của chúng ta là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Não xử lý các tín hiệu đó rồi truyền chúng đến gandhabba (manomaya kāya). Xem “Brain – Interface between Mind and Body.”
- We can compare this situation to a human operator inside an enclosed military tank. That operator cannot see or hear anything outside. Audio and video equipment mounted on the tank sends those signals to an on-board computer, which analyzes and displays them for the operator.
Chúng ta có thể so sánh tình huống này với một người điều khiển ngồi trong một xe tăng quân sự kín hoàn toàn. Người điều khiển đó không thể thấy hay nghe bất cứ điều gì bên ngoài. Thiết bị âm thanh và hình ảnh gắn trên xe tăng gửi các tín hiệu ấy đến một máy tính trên xe, rồi máy tính phân tích và hiển thị chúng cho người điều khiển.
- In that analogy, the video camera and audio equipment mounted on the tank act like the eyes and ears of a human. The computer is like the brain. Without getting those signals, the operator is blind and deaf to the outside world. In the same way, the manomaya kāya cannot receive those sense inputs if the eyes and ears are damaged or the brain is damaged.
Trong phép so sánh đó, camera ghi hình và thiết bị âm thanh gắn trên xe tăng hoạt động giống như mắt và tai của con người. Máy tính giống như bộ não. Nếu không nhận được những tín hiệu đó, người điều khiển sẽ mù và điếc đối với thế giới bên ngoài. Tương tự như vậy, manomaya kāya không thể nhận được những đầu vào giác quan ấy nếu mắt và tai bị tổn thương hoặc não bị tổn thương.
- A detailed discussion at: “Our Mental Body – Gandhabba.”
Phần Thảo Luận Chi Tiết Có Tại: “Our Mental Body – Gandhabba.”
- But that manomaya kāya can be “kicked out of the physical body” in a traumatic situation, mainly in cases of heart operations; such claims are “out-of-body experiences” (OBE). In such cases, some patients have reported being able to see doctors perform operations on their bodies from the ceiling (with their manomaya kāya).
Nhưng manomaya kāya đó có thể bị “đẩy ra khỏi thân vật lý” trong những tình huống chấn thương, chủ yếu là trong các ca phẫu thuật tim; những trường hợp như vậy được gọi là “trải nghiệm thoát xác” (OBE). Trong các trường hợp đó, một số bệnh nhân đã thuật lại rằng họ có thể nhìn thấy các bác sĩ tiến hành phẫu thuật trên cơ thể mình từ trên trần nhà (bằng manomaya kāya của họ).
- It may also happen to people whom the doctors thought had died but “come back to life” quickly. They report being able to travel with their manomaya kāya. Such cases are “near-death experiences” (NDE).
Điều này cũng có thể xảy ra với những người mà bác sĩ cho rằng đã chết nhưng rồi nhanh chóng “sống lại”. Họ kể rằng mình có thể di chuyển bằng manomaya kāya. Những trường hợp như vậy được gọi là “trải nghiệm cận tử” (NDE).
- Some others report being able to do “astral travel” with their manomaya kāya whenever they like; see “WebLink: wikipedia.org: Astral projection.” At least some reports in this category seem to be valid, as I pointed out in the post referred to below. Reports of OBE and NDE are more trustworthy because doctors and nurses confirm the accounts of those patients.
Một số người khác cho biết họ có thể thực hiện “du hành thể vía” với manomaya kāya bất cứ khi nào họ muốn; xem “WebLink: wikipedia.org: Astral projection.” Ít nhất một số tường thuật trong nhóm này dường như là xác thực, như tôi đã nêu trong bài được dẫn bên dưới. Các tường thuật về OBE và NDE đáng tin hơn vì bác sĩ và y tá xác nhận lời kể của những bệnh nhân đó.
- These are discussed in the post “Manomaya Kāya and Out-of-Body Experience (OBE).”
Những vấn đề này được bàn trong bài “Manomaya Kāya and Out-of-Body Experience (OBE).”
