Revised January 24, 2020; May 15, 2020; June 8, 2020; August 23, 2022; November 30, 2024; April 19, 2025
Sửa ngày 24/01/2020; 15/05/2020; 08/06/2020; 23/08/2022; 30/11/2024; 19/04/2025
Introduction
Giới thiệu
- Cetasika (mental factors; pronounced “chethasika”) appear concomitantly with citta (thoughts; pronounced “chiththa”), and they cease together with citta. They define the character (good, bad, or neutral) of the citta.
Cetasika (tâm sở; phát âm “chethasika”) sinh khởi đồng thời với citta (tâm; phát âm “chiththa”) và diệt cùng với citta. Chúng xác định bản chất của citta là thiện, bất thiện hay trung tính.
- The way to “Lead a Moral Life,” or to “Seek Good Rebirths,” or to “Seek Nibbāna” is to get rid of the bad (non-beautiful) cetasika and cultivate good (beautiful) cetasika.
Con đường để “Sống Đời Đạo Đức”, hoặc “Tìm Kiếm Tái Sinh Tốt”, hay “Hướng Đến Nibbāna” là loại bỏ các cetasika xấu (không đẹp) và nuôi dưỡng các cetasika tốt (đẹp).
- This is done by changing one’s habits via learning Dhamma and practicing it: see, “Habits and Goals,” “Saṁsāric Habits and Āsavā,” and “The Way to Nibbāna – Removal of Āsavā,” in that order.
Điều này được thực hiện bằng cách chuyển hóa thói quen thông qua việc học Dhamma và thực hành Dhamma; xem lần lượt: “Habits and Goals”, “Saṁsāric Habits and Āsavā”, và “The Way to Nibbāna – Removal of Āsavā”.
Universal Cetasika
Các Cetasika Phổ quát
- Seven cetasika are in every citta. These are called universals (sabba citta sādhāraṇa):
Có bảy cetasika hiện diện trong mọi citta. Chúng được gọi là các cetasika phổ quát (sabba citta sādhāraṇa):
- Phassa (contact); vedanā (feeling); saññā (perception); cetanā (volition); ekaggatā (One-pointedness) can become Sammā Samādhi; jīvitindriya (life faculty); manasikāra is a complex entity (could be yoniso manasikāra or ayoniso manasikāra; see #3 below.)
Phassa (xúc); vedanā (thọ); saññā (tưởng); cetanā (tư tác); ekaggatā (nhất tâm, có thể trở thành Sammā Samādhi); jīvitindriya (mạng căn); manasikāra là một pháp phức hợp (có thể là yoniso manasikāra hoặc ayoniso manasikāra; xem mục #3 bên dưới).
- They appear in ALL possible 89(121) types of cittās.
Chúng xuất hiện trong TẤT CẢ 89 (hoặc 121) loại citta.
- Since they are universals, the above cetasika appears in both kusala and akusala citta. All are essential mental factors:
Vì là các cetasika phổ quát, những cetasika trên xuất hiện trong cả kusala citta và akusala citta. Tất cả đều là các yếu tố tâm thiết yếu:
- Saññā and vedanā appear as two of the khandhās in pañcakkhandha/pañcupādānakkhandha.
Saññā và vedanā là hai uẩn trong pañcakkhandha/pañcupādānakkhandha.
- Cetanā determines kamma by incorporating relevant cetasika according to the mindset.
Cetanā quyết định kamma bằng cách kết hợp các cetasika thích hợp tùy theo trạng thái tâm.
- Cetanā is the cetasika that “puts together a citta” by automatically incorporating other relevant cetasika according to one’s unbroken saṁyojana and gati.
Cetanā là cetasika “kết hợp nên một citta” bằng cách tự động lồng ghép các cetasika liên quan dựa trên các saṁyojana và gati chưa bị đoạn trừ.
- Ekaggatā is the salient factor in Samādhi.
Ekaggatā là yếu tố then chốt của Samādhi.
- Consciousness cannot arise without phassa.
Thức không thể sinh khởi nếu không có phassa.
- Note that samphassa differs from phassa in Abhidhamma; see, “Difference between Phassa and Samphassa.”
Lưu ý rằng trong Abhidhamma, samphassa khác với phassa; xem “Difference between Phassa and Samphassa”.
- However, in the suttās, phassa ALWAYS refers to samphassa.
Tuy nhiên, trong các sutta, phassa LUÔN luôn chỉ samphassa.
- Jīvitindriya maintains life.
Jīvitindriya duy trì sự sống.
- Manasikāra can be either yoniso manasikāra (important in attaining the Sotāpanna stage), and ayoniso manasikāra can lead to the accumulation of akusala kamma.
Manasikāra có thể là yoniso manasikāra (rất quan trọng để chứng đắc Sotāpanna), hoặc là ayoniso manasikāra, vốn dẫn đến sự tích lũy akusala kamma.
Occasional Cetasika (May Appear in Kusala or Akusala Citta)
Các Cetasika tùy duyên (có thể xuất hiện trong Kusala hoặc Akusala Citta)
- Six cetasika CAN appear in both types of cittā: kusala and akusala. However, they are found in only particular types of cittā. They are called particulars or pakiṇṇaka: [pakiṇṇaka :(adj.) [pa+kiṇṇa (pp. of kirati)+ka] scattered about; fig. miscellaneous, particular, opp. to sādhāraṇa.]
Có sáu cetasika CÓ THỂ xuất hiện trong cả hai loại citta: kusala và akusala; tuy nhiên, chúng chỉ hiện diện trong những loại citta nhất định. Chúng được gọi là các cetasika đặc thù hay pakiṇṇaka: [pakiṇṇaka: (tính từ) [pa + kiṇṇa (quá khứ phân từ của kirati) + ka] nghĩa là rải rác; theo nghĩa bóng: tạp loại, riêng biệt, không phổ quát; đối nghĩa với sādhāraṇa.]
- Vitakka means to “focus on a specific ārammaṇa.” Vicāra is to “maintain that focus and further investigate it.” Adhimokkha (dominate). Adhimokkha is the cetasika that makes another cetasika dominate a given citta; for example, to get uddhacca, vicikicchā, or paṭigha to strengthen.
Vitakka là sự “hướng tâm vào một ārammaṇa cụ thể”. Vicāra là “duy trì sự chú ý đó và tiếp tục khảo sát đối tượng”. Adhimokkha (chi phối) là cetasika khiến một cetasika khác trở nên trội bật trong một citta nhất định; ví dụ làm cho uddhacca, vicikicchā hoặc paṭigha trở nên mạnh hơn.
- Viriya (effort) can become Sammā Vāyāma. Pīti is joy, and chanda is desire (could be greed or the desire for Nibbāna, depending on the situation.)
Viriya (tinh tấn) có thể trở thành Sammā Vāyāma. Pīti là hỷ, còn chanda là dục (có thể là tham dục hoặc là ước muốn hướng đến Nibbāna, tùy theo hoàn cảnh).
- Those are critical cetasika and play key roles in morality/immorality since they can appear in both kusala and akusala citta. For example, when one’s mind is covered with ignorance (moha), one may enjoy immoral deeds (pīti), makes a liking for them (chanda), and strive more (viriya) to do such actions.
Đây là những cetasika then chốt và đóng vai trò quan trọng trong thiện/bất thiện, vì chúng có thể xuất hiện trong cả kusala citta và akusala citta. Ví dụ, khi tâm bị che phủ bởi vô minh (moha), một người có thể thích thú với các hành vi bất thiện (pīti), sinh ưa thích đối với chúng (chanda), và còn nỗ lực nhiều hơn (viriya) để thực hiện những hành động đó.
- Like universals, these particulars can appear in either cittā, kusala, or akusala citta. Vitakka, vicāra, and pīti are jhāna factors as well.
Giống như các cetasika phổ quát, những cetasika đặc thù này có thể xuất hiện trong cả kusala citta lẫn akusala citta. Vitakka, vicāra và pīti cũng đồng thời là các yếu tố của jhāna.
- Viriya and chanda are two factors in the four bases of mental power; see, “The Four Bases of Mental Power (Cattāro Iddhipāda).”
Viriya và chanda là hai yếu tố trong bốn nền tảng của năng lực tâm (Cattāro Iddhipāda); xem “The Four Bases of Mental Power (Cattāro Iddhipāda)”.
- Adhimokka is important in decision-making because it makes another cetasika All these factors can go in an immoral direction, too.
Adhimokka đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định vì nó khiến một cetasika khác trở nên trội bật. Tất cả các yếu tố này cũng có thể vận hành theo hướng bất thiện.
Asobhana Cetasika Appear Only in Akusala Citta
Các Asobhana Cetasika Chỉ Xuất hiện trong Akusala Citta
- There are 14 asobhana cetasika (non-beautiful mental factors) that appear only in akusala citta. Out of those, four universals appear in ALL akusala citta:
Có 14 asobhana cetasika (các tâm sở không đẹp) chỉ xuất hiện trong akusala citta. Trong số đó, có bốn cetasika phổ quát xuất hiện trong TẤT CẢ akusala citta:
- Moha (delusion); Ahirika (shamelessness); Anottapa (fearlessness in the wrong); uddhacca (restlessness or agitation).
Moha (si mê); Ahirika (không biết hổ thẹn); Anottapa (không sợ điều sai trái); uddhacca (dao động, phóng dật).
- Both shamelessness and fearlessness of wrong encourage doing immoral acts. Restlessness causes unwise decision making.
Cả sự không biết hổ thẹn lẫn không sợ điều sai trái đều khuyến khích việc làm các hành vi bất thiện. Sự phóng dật dẫn đến các quyết định thiếu trí tuệ.
- The other ten are “occasionals” that appear in only particular types of akusala citta:
Mười cetasika còn lại là các cetasika “tùy duyên”, chỉ xuất hiện trong những loại akusala citta nhất định:
- Lobha (greed); diṭṭhi (wrong view); māna (conceit); dosa (hatred); issā (envy); macchariya (extreme greed, also pretending one does not have wealth); kukkucca (worry, also feeling low); thīna (sloth, sluggishness); middha (torpor); vicikicchā (doubt arising from temptations).
Lobha (tham); diṭṭhi (tà kiến); māna (ngã mạn); dosa (sân); issā (ganh tỵ); macchariya (keo kiệt cực đoan, kể cả giả vờ như mình không có của cải); kukkucca (lo âu, hối hận, tự ti); thīna (hôn trầm, trì trệ); middha (thụy miên); vicikicchā (nghi ngờ khởi lên từ các cám dỗ).
- Lobha and dosa are two of the three immoral roots. Sloth and torpor usually rise together and are the opposite of viriya; they are listed as one factor in the Five Hindrances; see, “Key to Calming the Mind.”
Lobha và dosa là hai trong ba căn bất thiện. Thīna và middha thường sinh khởi cùng nhau và đối nghịch với viriya; chúng được liệt kê chung thành một yếu tố trong Năm Chướng ngại; xem “Key to Calming the Mind”.
Sobhana Cetasika Appear Only in Kusala Citta
Các Sobhana Cetasika Chỉ Xuất Hiện trong Kusala Citta
- Twenty-five sobhana cetasika (beautiful mental factors) appear only in kusala citta. Out of those, 19 of them appear in every kusala citta and thus are called beautiful universals:
Có 25 sobhana cetasika (các tâm sở đẹp) chỉ xuất hiện trong kusala citta. Trong số đó, 19 cetasika xuất hiện trong mọi kusala citta và vì vậy được gọi là các sobhana phổ quát:
- Saddhā (faith); sati (moral mindfulness) can become Sammā Sati; hiri (shame of wrong); ottappa (fear of wrong); alobha (absence of greed); adosa (absence of hate/anger, of which mettā or “lovingkindness” is a part); tatramajjhattatā (neutrality of mind, of which upekkhā is a part); kāyapassaddhi (tranquility of mental body); cittapassaddhi (tranquility of consciousness); kāyalahutā (lightness of mental body); cittalahutā (lightness of consciousness); kāyamudutā (malleability of the mental body); cittamudutā (malleability of consciousness); kāyakammaññatā (wieldliness/pliability of the mental body); cittakammañññatā (wieldliness/pliability of consciousness); kāyapāguññatā (proficiency of mental body); cittapāguññatā (proficiency of consciousness); kāyujjukatā (rectitude of mental body); cittujjukatā (rectitude of consciousness).
Saddhā (tín); sati (chánh niệm đạo đức, có thể trở thành Sammā Sati); hiri (hổ thẹn điều sai); ottappa (sợ điều sai); alobha (không tham); adosa (không sân, trong đó mettā – tâm từ – là một phần); tatramajjhattatā (trung tính của tâm, trong đó upekkhā là một phần); kāyapassaddhi (an tịnh của thân tâm); cittapassaddhi (an tịnh của thức); kāyalahutā (nhẹ nhàng của thân tâm); cittalahutā (nhẹ nhàng của thức); kāyamudutā (mềm mại của thân tâm); cittamudutā (mềm mại của thức); kāyakammaññatā (thuận dụng của thân tâm); cittakammaññatā (thuận dụng của thức); kāyapāguññatā (thuần thục của thân tâm); cittapāguññatā (thuần thục của thức); kāyujjukatā (ngay thẳng của thân tâm); cittujjukatā (ngay thẳng của thức).
The other six are “occasional” that appear in only particular types of kusala citta:
Sáu cetasika còn lại là các cetasika “tùy duyên”, chỉ xuất hiện trong những loại kusala citta nhất định:
- There are three abstinences: Sammā Vācā (right speech); Sammā Kammanta (right action); Sammā Ājīva (right livelihood).
Có ba pháp ly: Sammā Vācā (chánh ngữ); Sammā Kammanta (chánh nghiệp); Sammā Ājīva (chánh mạng).
- Two Illimitables (limit-less): karuṇā (compassion); muditā (appreciative joy; joy at other’s moral success).
Hai tâm vô lượng: karuṇā (bi); muditā (hỷ – vui trước sự thành tựu đạo đức của người khác).
- Paññā or paññindriya (wisdom or wisdom faculty). Sammā Diṭṭhi leads to paññā.
Paññā hay paññindriya (trí tuệ hay căn trí tuệ). Sammā Diṭṭhi dẫn đến paññā.
Other Relevant Information
Thông Tin Liên Quan Khác
- Mental factors in the Noble Eightfold Path are highlighted in green.
Các tâm sở thuộc Bát Thánh Đạo được đánh dấu bằng màu xanh lá cây.
- Immoral roots are highlighted in red.
Các căn bất thiện được đánh dấu bằng màu đỏ.
- Moral roots are highlighted in purple. Note that amoha is not a cetasika; instead, it is paññā that represents the absence of moha.
Các căn thiện được đánh dấu bằng màu tím. Lưu ý rằng amoha không phải là một cetasika; thay vào đó, chính paññā biểu thị sự vắng mặt của moha.
- As a rule, sobhana and asobhana cetasika CANNOT appear together in a given citta.
Theo nguyên tắc, sobhana cetasika và asobhana cetasika KHÔNG THỂ cùng xuất hiện trong một citta nhất định.
