Atta – Two Very Different Meanings / Atta – Hai Nghĩa Hoàn Toàn Khác Nhau

July 1, 2020

Ngày 01/07/2020

First, “atta (attā)” is pronounced with the “th” sound, as in “metta (mettā).” See, #12 of “Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1.”

Trước hết, “atta (attā)” được phát âm với âm “th,” giống như trong “metta (mettā).” Xem mục #12 của bài “Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1.”

Words With Double Meanings in English

Những Từ Có Hai Nghĩa Khác Nhau Trong Tiếng Anh

  1. A number of English words are spelled the same way and pronounced the same way, but have different meanings. For example, let us consider the word, “mine.”

Có nhiều từ tiếng Anh được viết giống nhau và phát âm giống nhau, nhưng mang các nghĩa khác nhau. Ví dụ, hãy xét từ “mine.”

  • The word mine is a possessive adjective. For example, “That house is mine” means the house belongs to me.

Từ mine là một tính từ sở hữu. Ví dụ, “That house is mine” nghĩa là ngôi nhà đó thuộc về tôi.

  • Mine is also a noun. It can refer to a place where minerals (coal, gold, etc) are dug out of the earth.

Mine cũng là một danh từ. Nó có thể chỉ một nơi mà khoáng sản (than, vàng, v.v.) được khai thác từ lòng đất.

  • A mine (or landmine) also refers to a bomb that is buried underground. It can explode when someone steps on it or drives over it. They are used in war.

A mine (hay landmine) cũng chỉ một loại bom được chôn dưới đất. Nó có thể phát nổ khi ai đó giẫm lên hoặc chạy xe qua. Chúng được dùng trong chiến tranh.

  • There are many other words like that. We need to know which meaning to use based on the context (how it is used). Another simple word is right. It means a direction in “turn right at the traffic light.” But it means something entirely different in, “you are right” meaning “you are correct.”

Có nhiều từ khác cũng như vậy. Ta cần biết dùng nghĩa nào dựa trên ngữ cảnh (cách nó được dùng). Một từ đơn giản khác là right. Nó có nghĩa là hướng trong câu “turn right at the traffic light.” Nhưng nó có nghĩa hoàn toàn khác trong câu “you are right,” nghĩa là “bạn đúng.”

Atta (and Attā) – Two Very Different Meanings

Atta (và Attā) – Hai Nghĩa Rất Khác Nhau

  1. Many Pāli words have double meanings. In addition, many Pāli words have a mundane meaning and a deeper meaning. We need to know which one to use depending on the situation.

Nhiều từ Pāli có hai nghĩa. Thêm vào đó, nhiều từ Pāli có nghĩa thông tục và một nghĩa sâu hơn. Ta cần biết dùng nghĩa nào tùy theo trường hợp.

  • One becomes good at figuring out which meaning is relevant in a given context, only after having a good understanding of Buddha Dhamma. A good understanding comes especially with practice, not merely by reading about Buddha Dhamma.

Chỉ khi có sự hiểu biết vững chắc về Dhamma của Đức Phật, người ta mới trở nên giỏi trong việc nhận ra nghĩa nào phù hợp trong từng ngữ cảnh. Sự hiểu biết đúng đắn đến từ thực hành, không chỉ từ việc đọc về Dhamma của Đức Phật.

  • That is why it is not a good idea to resort to Pāli dictionaries alone. See, “Pāli Dictionaries – Are They Reliable?

Đó là lý do không nên chỉ dựa vào từ điển Pāli. Xem bài “Pāli Dictionaries – Are They Reliable?

  • Pāli word “atta” has two frequently used meanings. One is the mundane meaning of “person” or “self.” Let us discuss that first.

Từ Pāli “atta” có hai nghĩa thường dùng. Một là nghĩa thông tục: “người” hay “cái ta.” Trước hết hãy bàn về nghĩa này.

Atta Meaning “Person” or “Self” in Mundane Usage

Atta Mang nghĩa “Người” hay “Cái ngã” trong Cách Dùng Thông Tục

  1. There are many Tipiṭaka verses, where “atta” means a “person.” The following are several examples.

Có nhiều câu trong Tipiṭaka mà “atta” mang nghĩa “người.” Dưới đây là vài ví dụ.

  • Attānaṁ damayanti paṇḍitā” in Dhammapada verse 6.80 means “The wise persons control themselves.”

Attānaṁ damayanti paṇḍitā” trong Pháp Cú 6.80 nghĩa là “Bậc trí tự chế ngự chính mình.”

  • Attano sukhamicchati” in Dhammapada verse 21.291 means “one seeks one’s own” Also, note the word iccha (desire) in “sukhamicchati” is “sukhaṁ” + “icchati.”

Attano sukhamicchati” trong Dhammapada 21.291 nghĩa là “mỗi người tìm cầu hạnh phúc cho chính mình.” Cũng lưu ý từ iccha (ước muốn) trong “sukhamicchati” là “sukhaṁ” + “icchati.”

  • In the Attadīpa Sutta (SN 22.43), “attadīpā viharatha” means “make an island of yourself,” meaning “one has to seek one’s own refuge.”

Trong Kinh Attadīpa (SN 22.43), “attadīpā viharatha” nghĩa là “hãy tự làm hòn đảo cho chính mình,” tức “mỗi người phải tự nương tựa nơi chính mình.”

Various Wrong Views based on “Person” or “Self”

Nhiều Tà Kiến Khác Nhau Dựa Trên Ý Niệm “Người” Hay “Cái Ta”

  1. Humans always wondered what it is that feels like “me.” What defines a “me” or a “self” or “attā?” Based on such thinking, they come to various wrong conclusions or wrong views about a “self.”

Con người luôn thắc mắc điều gì khiến ta cảm giác có “tôi.” Cái gì định nghĩa “tôi,” “cái ta,” hay “attā”? Dựa trên cách suy nghĩ ấy, họ đưa ra nhiều kết luận sai lầm hay tà kiến về “cái ta.”

Trong WebLink: suttacentral: Brahmajāla Sutta (DN 1), Đức Phật đã mô tả 62 loại tà kiến mà con người có.

  • All these wrong views can be divided into primarily two categories (the other views are variations of these two.) In the terminology used today, we can list those two categories as follows.

Tất cả các tà kiến này có thể được chia thành hai nhóm chính (những loại còn lại là biến thể của hai nhóm này). Theo cách gọi ngày nay, hai nhóm ấy là:

Permanent Soul (Sassata Vāda): A given person has a permanent soul in Abrahamic religions (or ātma or ātman in Hinduism.) When the physical body dies, “the soul” or “ātma” gets hold of another existence. In Abrahamic religions, that next existence is forever in either heaven or hell. In Hinduism, one may go through many “incarnations” and would finally merge with Mahā Brahma to attain a permanent existence.

Chủ trương Có Linh hồn Vĩnh cửu (Sassata Vāda): Theo các tôn giáo Abraham, mỗi người có một linh hồn vĩnh cửu (hay ātma/ātman trong Ấn Độ giáo). Khi thân vật lý chết, “linh hồn” hay “ātma” nhận lấy một đời sống khác. Trong các tôn giáo Abraham, đời sống kế tiếp ấy là vĩnh viễn ở thiên đường hay địa ngục. Trong Ấn Độ giáo, một người có thể trải qua nhiều “tái sinh,” và cuối cùng hòa nhập vào Mahā Brahma để đạt một hiện hữu vĩnh hằng.

Materialistic View (Ucceheda Vāda): When the present life ends, no more future lives or existences. The material body is solely responsible for generating our thoughts (in the brain.) Many scientists today belong to this category.

Chủ trương Đoạn diệt (Ucceheda Vāda): Khi đời sống hiện tại chấm dứt, không còn đời sống hay hiện hữu nào tiếp theo. Thân vật chất hoàn toàn chịu trách nhiệm cho việc tạo ra các suy nghĩ (trong não bộ). Nhiều nhà khoa học hiện nay thuộc quan điểm này.

  1. The verse describing sassata vāda: “Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti ..” means, “when those ascetics and brahmins assert that the self and the cosmos are eternal ..”

Câu kệ mô tả sassata vāda: “Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti ..” nghĩa là, “khi các vị tu khổ hạnh và brahma ấy khẳng định rằng cái ‘ta’ và thế giới là vĩnh cửu …”

  • Sassata means “eternal.”

Sassata nghĩa là “vĩnh cửu.”

The verse describing uccheda vāda: Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti ..” meaning, “they assert the annihilation of an existing being..”

Câu kệ mô tả uccheda vāda: “Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti ..” nghĩa là, “họ chủ trương sự đoạn diệt của một hữu tình đang tồn tại …”

  • Uccheda means to “break off” or “cut off.” Materialists believe that we just live this life.

Uccheda nghĩa là “cắt đứt,” “đoạn diệt.” Những người theo chủ trương duy vật tin rằng ta chỉ sống một đời này mà thôi.

With the Mundane Meaning of Atta, Anatta is Not Used as Its Opposite

Với Nghĩa Thế Tục Của Atta, Anatta Không Được Dùng Như Đối Nghĩa Của Nó

  1. Therefore, in ALL of the above cases, the word “atta” refers to what we traditionally call a “self.”

Do đó, trong TẤT CẢ các trường hợp trên, từ “atta” chỉ điều mà ta quen gọi là “cái ta.”

  • In simple terms, materialists have the wrong view that a “self” has only this life.

Nói đơn giản, những người theo thuyết duy vật có tà kiến rằng “cái ta” chỉ có một đời này.

  • People in the other camp have the wrong view that a “soul” is forever.

Những người thuộc phe kia lại có tà kiến rằng “linh hồn” là vĩnh cửu.

  • The Buddha pointed out that both views are wrong. A “self” would come to existence as long as appropriate causes and conditions are there. But there is no “permanent self” like a soul. An Arahant would not be reborn. He/she would have removed those causes and conditions for rebirth.

Đức Phật chỉ ra rằng cả hai quan điểm đều sai. Một “cái ta” hình thành khi có đủ nhân duyên thích hợp. Nhưng không hề có một “cái ta vĩnh hằng” như linh hồn. Một vị Arahant không còn tái sinh, vì các nhân và duyên cho tái sinh đã được đoạn trừ.

In both cases, the word “anatta (or anattā)” is NEVER used to indicate the opposite of attā. The word “anatta” is NEVER used to indicate that a “self is absent.” For example, in the WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 44.10) Vacchagotta comes to the Buddha asked “Master Gotama, is it correct to say that there is a “self”?” He used the phrase, “atthi attā” to ask whether there is a “self.” Then he phrased it the opposite way and asked, ” is it not correct to say that there is a “self”?” There he used the phrase, “na atthi attā” to ask whether a “self” does not exist. See, “Anattā (Mundane Interpretation) – No “Unchanging Self.”

Trong cả hai trường hợp, từ “anatta (hay anattā)” KHÔNG BAO GIỜ được dùng để chỉ điều trái ngược với attā. Từ “anatta” KHÔNG BAO GIỜ được dùng để nói rằng “cái ta hoàn toàn không tồn tại.” Ví dụ, trong WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 44.10) , Vacchagotta đến hỏi Đức Phật: “Sa-môn Gotama, có đúng không khi nói rằng có một ‘cái ta’?” Ông dùng cụm “atthi attā” để hỏi xem “có cái ta” hay không. Rồi ông hỏi ngược lại: “Có đúng không khi nói rằng không có ‘cái ta’?” và dùng cụm “na atthi attā.” Xem thêm bài “Anattā (Mundane Interpretation) – No ‘Unchanging Self.’”

Now, let us discuss the absolute or paramattha meaning of “attā.” Here, the opposite of attā (or “anatta”) indicates two facts: (i) Any worldly thing does not have an essence. (ii) One would become helpless at the end if one attaches to those worldly things. These meanings need to be used in the context of the three characteristics of nature or Tilakkhaṇa.

Giờ hãy bàn về nghĩa tuyệt đối hay paramattha của “attā.” Ở đây, điều đối lập với attā (tức anatta) chỉ hai sự thật: (i) Bất kỳ pháp thế gian nào cũng không có “tinh chất” hay bản thể thật; (ii) Ai chấp thủ vào các pháp thế gian ấy cuối cùng sẽ trở nên “bất lực,” không có chỗ nương tựa. Những ý nghĩa này phải được hiểu trong bối cảnh ba đặc tính của tự nhiên, tức Tilakkhaṇa.

Anatta As a Characteristic of Nature – No Essence in Worldly Things

Anatta Như Một Đặc Tính Của Tự Nhiên – Không Có Bản thể Trong Các Pháp Thế Gian

  1. This usage of the word “anatta” indicates “no refuge” or “no essence” to refer to THINGS IN THIS WORLD. It could also mean one would become “helpless” at the end if one pursues worldly things with greed or cravings. This involves the deeper meaning of “atta” being “with refuge” or “with essence.”

Cách dùng từ “anatta” này chỉ sự “không có chỗ nương tựa,” hay “không có bản thể” trong CÁC PHÁP THẾ GIAN. Nó cũng có nghĩa rằng ai chạy theo các pháp thế gian với tham ái sẽ trở nên “bất lực,” không nơi nương tựa về cuối cùng. Điều này liên quan đến nghĩa sâu hơn của “atta” là “có chỗ nương tựa,” “có bản thể.”

  • One would be safe and protected by overcoming the anatta nature. That is Nibbāna. Only Nibbāna has the “atta” nature.

Một người sẽ được an ổn và được bảo hộ khi vượt qua bản chất anatta. Đó là Nibbāna. Chỉ Nibbāna mới có bản chất “atta.”

  • In this context, the three words anicca, dukkha, and anatta describe CHARACTERISTICS of this world. They have NOTHING TO DO with the context of a “self” directly.

Trong bối cảnh này, ba từ anicca, dukkha, và anatta mô tả CÁC ĐẶC TÍNH của thế giới này. Chúng KHÔNG LIÊN QUAN trực tiếp đến khái niệm “cái ta.”

  • In brief, anicca means that “worldly things” cannot be maintained to anyone’s satisfaction in the long-run. Those “worldly things” include not only material things but also mental attributes, among them vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa.

Tóm lại, anicca nghĩa là “các pháp thế gian” không thể được duy trì theo ý muốn của bất kỳ ai trong lâu dài. Các “pháp thế gian” ấy bao gồm không chỉ vật chất mà cả các yếu tố tâm, trong đó có vedanā, saññā, saṅkhāra, và viññāṇa.

  • IF someone craves them and attaches to them, then that person will be subjected to future suffering. That comes in two parts. First, one would become distressed because those desires will not be fulfilled at the end. Secondly, if one does immoral actions to get them, then one will have to face bad consequences of such actions (including rebirths in bad existences.)

NẾU ai khởi tham ái và chấp thủ vào các pháp ấy, người đó sẽ phải chịu khổ trong tương lai. Điều này xảy ra theo hai cách: thứ nhất, người ấy sẽ đau khổ vì các mong muốn của mình rốt cuộc không được thỏa mãn; thứ hai, nếu người ấy làm các hành động bất thiện để đạt được chúng, thì sẽ phải chịu các hậu quả bất thiện (bao gồm tái sinh vào các cõi xấu).

  • Thus, in the end, attachment to worldly things will be of “no essence.” Those struggles would be in vain and are fruitless. One would become helpless by pursuing such efforts.

Do đó, cuối cùng, sự chấp thủ đối với các pháp thế gian sẽ trở thành “vô nghĩa,” không có “bản thể.” Những nỗ lực ấy rốt cuộc đều vô ích và không mang lại kết quả. Người theo đuổi chúng cuối cùng sẽ trở nên bất lực, không nơi nương tựa.

Anattha and Attha Are Strong Versions of Anatta and Atta

Anattha và Attha là Các Dạng Mạnh Hơn của Anatta và Atta

  1. I have explained in a previous post that the words “iccha” and “aniccha” have the same meanings as “icca” and “anicca” but with stronger emphasis. See, “Icca, Nicca, Anicca – Important Connections.”

Tôi đã giải thích trong một bài trước rằng các từ “iccha” và “aniccha” có cùng nghĩa với “icca” và “anicca” nhưng với mức độ nhấn mạnh mạnh hơn. Xem bài “Icca, Nicca, Anicca – Important Connections.”

  • In the same way, “atta” and “anatta” in the present context have stronger versions indicated by “attha” and “anattha.”

Tương tự, “atta” và “anatta” trong bối cảnh hiện tại có dạng mạnh hơn là “attha” và “anattha.”

Trong WebLink: suttacentral: Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11), Đức Phật mô tả người theo đuổi kāmasukhallikānuyoga hay attakilamathānuyoga là “anatthasaṁhito.”

  • The verse at the beginning of the sutta is, “Yo cāyaṁ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, yo cāyaṁ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito.”

Câu kệ mở đầu sutta là: “Yo cāyaṁ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, yo cāyaṁ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito.”

  • Here, the word “anatthasaṁhito” (anattha + saŋ + hito) means an anariya or an ignorance average person is helpless because of the wrong views.

Ở đây, từ “anatthasaṁhito” (anattha + saŋ + hito) nghĩa là một anariya hay người bình thường vô minh, trở nên bất lực vì các tà kiến.

  1. Furthermore, “attha” also indicates “truth” (“artha” in Sinhala) and “anattha” indicates “untruth or useless” (“anartha” in Sinhala) depending on the context. None of these words are used in the context of a “self.”

Hơn nữa, “attha” còn có nghĩa là “chân thật” (“artha” trong tiếng Sinhala), và “anattha” có nghĩa “phi chân thật” hay “vô ích” (“anartha” trong tiếng Sinhala), tùy theo ngữ cảnh. Không từ nào trong số đó được dùng liên quan đến khái niệm “cái ta.”

  • The above verse could also be explained as an anariya engaging in useless activities (either indulging in sense pleasures or going to the other extreme of self-mortification.) Either activity does not have any meaning or essence.

Câu kệ trên cũng có thể được hiểu là một anariya đang dấn vào các hành động vô ích (hoặc hưởng thụ dục lạc, hoặc tự hành xác ở cực đoan còn lại). Cả hai đều vô nghĩa, không có bản thể.

Anicca, Dukkha, Anatta – Closely Related Characteristics of This World

Anicca, Dukkha, Anatta – Những Đặc Tính Liên Hệ Mật Thiết Của Thế Giới Này

  1. Anicca, dukkha, anatta are CHARACTERISTICS of this world. The word “anatta” in that context DOES NOT mean “no-self” or anything like that. However, a given person can BECOME anatta (helpless) by attaching to things of anicca nature that lead to suffering (dukkha.) But a person with magga phala has overcome that state of “helplessness” and has become an Ariya with refuge (atta.)

Anicca, dukkha, anatta là CÁC ĐẶC TÍNH của thế giới này. Trong ngữ cảnh đó, từ “anatta” KHÔNG có nghĩa “vô ngã” theo nghĩa “không có cái ta.” Tuy nhiên, một người có thể trở thành anatta (bất lực, không nơi nương tựa) nếu chấp thủ vào các pháp có bản chất anicca, dẫn đến dukkha. Nhưng một người chứng magga phala đã vượt qua trạng thái “bất lực” ấy và trở thành một vị Ariya có chỗ nương tựa (atta).

  • The opposites of anicca, dukha, anatta (ie., nicca, sukha, atta) are characteristics of Nibbāna. See, “Tilakkhaṇa – English Discourses.

Các đối nghịch của anicca, dukkha, anatta (tức nicca, sukha, atta) là các đặc tính của Nibbāna. Xem “Tilakkhaṇa – English Discourses.”

  • One gets to Nibbāna by renouncing “this world of 31 realms.”

Một người đạt đến Nibbāna bằng cách từ bỏ “thế giới 31 cõi” này.

  • One attains Nibbāna by first realizing the anicca, dukkha, anatta NATURE of this world. Only then that one would have understood the Four Noble Truths.

Một người chỉ có thể đạt Nibbāna khi trước hết thấy rõ bản chất anicca, dukkha, anatta của thế giới này. Chỉ khi đó người ấy mới thực sự hiểu Tứ Thánh Đế.

  • Only then it is possible to grasp that the Fourth Noble Truth of “the path to Nibbāna” is the Noble Eightfold Path. That Noble Path starts with Samma Ditthi, which is the “clear vision” that this world is of anicca, dukkha, anatta NATURE of the world with 31 realms.

Chỉ khi đó, người ấy mới nắm được rằng Sự thật Cao quý Thứ tư – “con đường đưa đến Nibbāna” – chính là Bát Chánh Đạo. Và con đường ấy bắt đầu bằng Sammā Diṭṭhi, tức “chánh kiến,” là cái thấy rõ rằng thế giới 31 cõi mang bản chất anicca, dukkha, anatta.

“Previously Unheard Dhamma” of the Buddha

“Giáo Pháp Chưa Từng Được Nghe Trước Đây” của Đức Phật

  1. That is a very succinct description of Buddha Dhamma, the “previously unheard teachings that can only come from a Buddha.”

Đó là một mô tả rất cô đọng về Dhamma của Đức Phật, những “giáo pháp chưa từng được nghe trước đây, chỉ có thể xuất hiện từ một vị Phật.”

  • The common perception is that one can find long-lasting happiness in this world. That there are so many “mind-pleasing things” in this world worth pursuing. If one makes a determined effort, one can “succeed in life” and “be happy.”

Quan niệm phổ biến là con người có thể tìm thấy hạnh phúc lâu bền trong thế giới này; rằng có vô số “điều làm tâm thích thú” đáng để theo đuổi; và nếu cố gắng đủ mức thì có thể “thành công trong cuộc sống” và “được hạnh phúc.”

  • The Buddha agreed that there are many “mind-pleasing things” in this world.

Đức Phật đồng ý rằng trong thế giới này có rất nhiều “điều khiến tâm ưa thích.”

  • But the Buddha taught that there is suffering hidden in those apparent “mind-pleasing” things. That hidden suffering is hard to see, and that is why not everyone can understand Buddha Dhamma. Without making a determined effort, it may not be possible.

Nhưng Đức Phật dạy rằng có một loại khổ được ẩn giấu trong những điều “làm tâm thích thú” ấy. Sự khổ ẩn giấu này rất khó thấy, và đó là lý do không phải ai cũng có thể hiểu Dhamma của Đức Phật. Nếu không nỗ lực tinh tấn, có lẽ sẽ không thể thấy được.

An Analogy – Assutavā Puthujjano Is Not Different From a Fish Biting Into a Tasty Bait

Một Ẩn Dụ – Assutavā Puthujjano Cũng Không Khác Gì Con Cá Cắn Miếng Mồi Ngon

  1. The Buddha gave the following analogy. A fish bites into a tasty bait, because it cannot see the hook hidden in it. The fish only see the “tasty bait” and cannot see the hook, string, fishing pole, and the person holding that pole. If it could see the “whole picture” it would not even go close to that bait.

Đức Phật đưa ra ví dụ sau đây. Một con cá cắn miếng mồi ngon vì nó không thấy cái lưỡi câu được giấu bên trong. Con cá chỉ thấy “miếng mồi ngon,” chứ không thấy lưỡi câu, sợi dây, cần câu, hay người đang cầm cần câu. Nếu nó thấy được “toàn cảnh,” nó sẽ không đến gần miếng mồi ấy.

  • In the same way, it is only a Buddha who can “see” the “bigger picture” with the 31 realms with the four suffering-filled realms and the rebirth process. Due to the ignorance of that “wider worldview,” living-beings spend most of the time in those four lowest realms.

Tương tự như vậy, chỉ có một vị Phật mới “thấy” được “toàn cảnh lớn” gồm 31 cõi, trong đó có bốn cõi đầy khổ, và tiến trình tái sinh. Vì vô minh về “thế giới quan rộng lớn” ấy, chúng sinh dành phần lớn thời gian luân hồi trong bốn cõi thấp này.

  • An “assutavā puthujjano” or an “ignorant average human” is unable to see that hidden suffering. That is why most living-beings spend most of their samsaric journey within the four lowest realms. They get trapped there and become helpless. They become “anatta” or “without refuge” at the end. See, “Sakkāya Diṭṭhi – ‘Me and Mine’ View.”

Một assutavā puthujjano – một người phàm vô minh – không thể thấy được sự khổ ẩn giấu ấy. Vì vậy, hầu hết chúng sinh dành phần lớn hành trình luân hồi của mình trong bốn cõi thấp. Họ mắc kẹt ở đó và trở nên bất lực. Cuối cùng họ trở thành “anatta,” tức “không có nơi nương tựa.” Xem bài “Sakkāya Diṭṭhi – ‘Me and Mine’ View.”

  • I have discussed those three words in many posts in the section “Anicca, Dukkha, Anatta” and also in the recently revised section on “The Five Aggregates (Pañcakkhandha).” It was also discussed with another approach in the “Origin of Life” section. Each person is different and one of those could be appropriate for a given person. In the end, they all converge to the same point and one would be able to see that they are all self-consistent.

Tôi đã bàn về ba thuật ngữ này trong nhiều bài thuộc mục “Anicca, Dukkha, Anatta,” cũng như trong phần “The Five Aggregates (Pañcakkhandha)” mới được chỉnh lý. Chúng cũng được giải thích dưới một cách tiếp cận khác trong phần “Origin of Life.” Mỗi người khác nhau, nên một cách giải thích có thể phù hợp hơn với họ. Nhưng cuối cùng, tất cả đều hội tụ vào cùng một điểm và cho thấy sự tự nhất quán.

Evidence That Anatta Does Not Mean “No-Self”

Bằng Chứng Rằng Anatta Không Có Nghĩa Là “Vô Ngã”

  1. There are many suttā in the Samyutta Nikāya that discuss anicca, dukkha, anatta, and the relationships among them. Specifically SN 22, SN 23, and SN 35.

Có nhiều suttā trong Samyutta Nikāya mô tả anicca, dukkha, anatta, và mối liên hệ giữa chúng, đặc biệt trong SN 22, SN 23 và SN 35.

  • For example, WebLink: suttacentral: Koṭṭhikaanatta Sutta (SN 35.164) states, “Cakkhu kho, koṭṭhika, anattā; tatra te chando pahātabbo. Rūpā anattā; tatra te chando pahātabbo. Cakkhuviññāṇaṁ anattā; tatra te chando pahātabbo. Cakkhusamphasso anattā; tatra te chando pahātabbo. Yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi anattā; tatra te chando pahātabbo …”

Ví dụ, trong WebLink: suttacentral: Koṭṭhikaanatta Sutta (SN 35.164) có đoạn: “Cakkhu kho, koṭṭhika, anattā; tatra te chando pahātabbo. Rūpā anattā; tatra te chando pahātabbo. Cakkhuviññāṇaṁ anattā; tatra te chando pahātabbo. Cakkhusamphasso anattā; tatra te chando pahātabbo. Yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi anattā; tatra te chando pahātabbo …”

Translated: “The eye, sights, eye-consciousness, and eye ‘saŋ-contact’ (samphassa) are without essence: you should give up the desire/cravings for them. The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye ‘saŋ-contact’ (samphassa) is also without essence. You should give up the desire for it.”

Bản dịch: Con mắt, các sắc, nhãn thức, và ‘xúc nhiễm ô’ (samphassa) nơi mắt đều không có bản chất; ông nên từ bỏ dục vọng với chúng. Cảm thọ lạc, khổ hay xả sinh khởi do duyên xúc nhiễm ô nơi mắt cũng không có bản chất; ông nên từ bỏ ước muốn đối với nó.”

  • That statement is then repeated for the ear, tongue, nose, body, and mind. It applies anything and everything in this world!

Lời dạy này được lặp lại đối với tai, lưỡi, mũi, thân và ý. Nó áp dụng cho tất cả mọi thứ trong thế giới này!

Can Eye-Consciousness Have a “Self”?

Nhãn Thức Có Thể Có Một “Cái Ngã” Hay Không?

  1. Most other translations state all those entities that I highlighted above are “not-self.” See, “WebLink: suttacentral: With Koṭṭhita on Not-Self” which states, “The eye, sights, eye-consciousness, and eye contact are not-self..”

Hầu hết các bản dịch khác nói rằng tất cả những pháp nêu trên là “không phải cái ngã.” Xem bài “WebLink: suttacentral: With Koṭṭhita on Not-Self” rằng “Con mắt, sắc, nhãn thứcxúc chạm nơi mắt không phải cái ngã…”

  • How can eye-consciousness possibly have a “self”? How can eye contact have a “self”? What does it mean to say they have “no-self”? Even a child should be able to see that statement does not make any sense!

Làm sao nhãn thức có thể có “cái ngã”? Làm sao xúc chạm nơi mắt có thể có “cái ngã”? Việc nói chúng “không có cái ngã” nghĩa là gì? Ngay cả một đứa trẻ cũng có thể nhận ra câu ấy không hợp lý!

Anything In This World Has Anatta Nature

Bất Kỳ Pháp Nào Trong Thế Giới Này Đều Mang Bản Chất Anatta

  1. In fact, as stated in the sutta in #13 above (and MANY other suttā) ANYTHING that exists in this world is of anatta They are all without any essence.

Thật ra, như đã nêu trong sutta ở mục #13 phía trên (và RẤT NHIỀU suttā khác), BẤT KỲ PHÁP NÀO tồn tại trong thế giới này đều mang bản chất anatta. Chúng đều không có bản chất.

  • It starts with the anicca nature of ALL worldly things. That means no one can maintain anything in this world to one’s satisfaction over the long run.

Điều này bắt đầu từ bản chất anicca của TẤT CẢ các pháp thế gian. Nghĩa là không ai có thể duy trì bất kỳ pháp nào trong thế giới này theo ý muốn của mình trong lâu dài.

  • But people try to do that impossible task because they crave many things in this world. But in the end, they would only suffer. That is partly because they do immoral deeds to acquire those “things” and end up having to face bad kamma vipāka. The verse “yad aniccaṁ taṁ dukkhaṁ” or the verse, “Yam pi icchaṁ na labhati tam pi dukkhaṁ” expresses that fact.

Nhưng con người vẫn cố làm điều bất khả ấy vì họ khởi tham ái với nhiều thứ trong đời. Và cuối cùng, họ chỉ chuốc lấy khổ. Một phần là vì họ tạo bất thiện nghiệp để đạt được những “thứ” đó, và rồi phải đối mặt với kamma vipāka bất thiện. Câu “yad aniccaṁ taṁ dukkhaṁ” hay “Yam pi icchaṁ na labhati tam pi dukkhaṁ” diễn tả rõ điều này.

  • That process will gradually move anyone to more and more suffering. One will eventually end up in the apayā with much suffering, and at that point, one would be truly helpless (anatta.) That is what is meant by, “yaṁ dukkhaṁ tad anattā.”

Tiến trình ấy sẽ đưa bất kỳ ai dần dần đi đến nhiều khổ đau hơn. Cuối cùng, người ấy sẽ rơi vào apayā với vô vàn đau khổ, và lúc ấy sẽ thật sự bất lực (anatta). Đó chính là ý của câu “yaṁ dukkhaṁ tad anattā.”

  • That verse, “yad aniccaṁ taṁ dukkhaṁ, yaṁ dukkhaṁ tad anattā” appears in numerous suttā in the Tipiṭaka. That is how living-beings become helpless in the rebirth process (by engaging in immoral deeds) in their quest of seeking “sensory pleasures.”

Câu kệ “yad aniccaṁ taṁ dukkhaṁ, yaṁ dukkhaṁ tad anattā” xuất hiện trong rất nhiều suttā trong Tipiṭaka. Đó chính là cách chúng sinh trở nên bất lực trong vòng tái sinh (do tạo bất thiện nghiệp) khi theo đuổi “dục lạc giác quan.”

  • That is the “previously unheard Dhamma” of the Buddha.

Đó chính là “Dhamma chưa từng được nghe trước đây” của Đức Phật.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *