An Apparent “Self” Is Involved in Kamma Generation / Một “Cái Tôi” Biểu Kiến Tham Gia Vào Việc Tạo Kamma

November 2, 2019; revised November 6, 2019; September 10, 2022; October 14, 2022 (#18); February 3, 2023

Ngày 2/11/2019; chỉnh sửa ngày 6/11/2019; 10/9/2022; 14/10/2022 (#18); 3/2/2023

Introduction

Giới thiệu

  1. Here, we will discuss why someone with sakkāya diṭṭhi believes in a “self” (knowingly or unknowingly) and accumulates kamma with that wrong view.

Ở đây chúng ta sẽ bàn vì sao một người có sakkāya diṭṭhi tin vào một “cái tôi” (dù có ý thức hay vô thức) và tích lũy kamma với tà kiến đó.

  • In previous posts in this series, we discussed why there is no “Experiencer.” Thus, there is no need for the existence of a “self” to describe an INITIAL sensory experience.

Trong các bài trước của loạt bài này, chúng ta đã bàn vì sao không có “người trải nghiệm.” Do đó không cần giả định có một “cái tôi” để giải thích trải nghiệm giác quan ban đầu.

  • However, anyone with sakkāya diṭṭhi has the wrong view of a “self” experiencing sensory inputs. Based on that mistaken view, steps are taken to maintain a “good experience” or to stop a “bad experience.” Therefore, we could say there is a wrong view of a “Doer” as long as there is sakkāya diṭṭhi. That is why it is incorrect to say that there is “no-self” either.

Tuy nhiên, bất kỳ ai có sakkāya diṭṭhi đều có tà kiến rằng có một “cái tôi” đang trải nghiệm các dữ liệu giác quan. Dựa trên nhận thức sai đó, người ta hành động để duy trì trải nghiệm tốt hoặc tránh trải nghiệm xấu. Vì vậy có thể nói rằng có tà kiến về một “người làm” chừng nào còn sakkāya diṭṭhi. Đó là lý do vì sao cũng không đúng khi nói đơn giản rằng “không có tự ngã.”

  • That does not mean we do not need to take action to prevent bad outcomes. The key idea is to realize the unfruitfulness of doing immoral deeds (including conscious thoughts and speech) in response to sensory inputs.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta không cần hành động để ngăn chặn kết quả xấu. Ý chính là nhận ra sự vô ích của việc tạo kamma bất thiện (bao gồm cả suy nghĩ và lời nói có ý thức) để phản ứng với các dữ liệu giác quan.

  • The Chachakka Sutta (MN 148) describes in detail what happens when a new ārammaṇa (thought object) comes to the mind. The mind may “attach” (taṇhā) automatically to that ārammaṇa via greed, anger, or ignorance. Let us briefly summarize those steps. It is critical to follow these steps. All relevant posts are at “Worldview of the Buddha.” The main subsection is “Origin of Life.”

Chachakka Sutta (MN 148) mô tả chi tiết những gì xảy ra khi một ārammaṇa mới (đối tượng của tâm) xuất hiện. Tâm có thể tự động bám chấp (taṇhā) vào ārammaṇa đó qua tham, sân, hoặc si. Hãy tóm tắt ngắn gọn các bước đó. Việc theo dõi các bước này là rất quan trọng. Tất cả các bài liên quan nằm trong phần “Worldview of the Buddha,” đặc biệt là mục “Origin of Life.”

Posts on the Background Material

Các Bài Viết Về Kiến Thức Nền Tảng

  1. In earlier posts, we discussed that INITIAL sensory experiences DO NOT require a “self.” However, they do not happen arbitrarily or randomly either. Those sensory experiences have causes (or reasons); they are kamma vipāka.

Trong các bài trước, chúng ta đã thảo luận rằng các trải nghiệm giác quan ban đầu KHÔNG cần đến một “cái tôi.” Tuy nhiên, chúng cũng không xảy ra một cách tùy tiện hay ngẫu nhiên. Những trải nghiệm giác quan đó đều có nguyên nhân (hay lý do); chúng là kamma vipāka.

  • Some kamma vipāka bring in suffering, such as injuries, sickness, etc., while other vipāka results in pleasurable experiences, such as good food, comfortable living, etc. Those are ALL experienced via the physical body (kāya). They are NOT illusions. There is real suffering (and some pleasures too).

Một số kamma vipāka mang lại đau khổ, như chấn thương, bệnh tật, v.v., trong khi các vipāka khác mang lại trải nghiệm dễ chịu, như thức ăn ngon, cuộc sống thoải mái, v.v. Tất cả những điều này đều được trải nghiệm qua thân thể vật lý (kāya). Chúng KHÔNG phải là ảo giác. Có đau khổ thật sự (và cũng có một số niềm vui thật).

  • All other INITIAL sensory experiences do not DIRECTLY lead to pain or pleasure. Seeing, hearing, smelling, tasting, and recalling memories are “neutral” sensory experiences at that moment.

Tất cả các trải nghiệm giác quan ban đầu khác không trực tiếp dẫn đến đau hay vui. Thấy, nghe, ngửi, nếm và nhớ lại ký ức đều là trải nghiệm giác quan trung tính tại thời điểm đó.

  1. However, based on those sensory inputs, somanassa or domanassa vedanā arise automatically in mind. Those are “mind-generated” vedanā based on “kāma guṇa.” All humans (including Arahants) experience the sweetness of sugar or bitterness of some medicines. These are not “samphassa-jā-vedanā.” However, for others, “samphassa-jā-vedanā” arise due to such somanassa or domanassa vedanā. See “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā).”

Tuy nhiên, dựa trên các dữ liệu giác quan đó, somanassa hoặc domanassa vedanā tự động sinh khởi trong tâm. Đây là vedanā do tâm tạo ra, dựa trên kāma guṇa. Tất cả con người (kể cả Arahant) đều cảm nhận vị ngọt của đường hoặc vị đắng của một số loại thuốc. Những điều này không phải là samphassa-jā-vedanā. Tuy nhiên, đối với những người khác, samphassa-jā-vedanā sinh khởi do các somanassa hoặc domanassa vedanā đó. Xem bài “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā).”

  • Thus, based on somanassa or domanassa vedanā due to “kāma guṇa,” a given person may attach (taṇhā) to that particular sensory event (ārammaṇa) and generate samphassa-jā-vedanā. Only an Arahant is guaranteed not to attach.

Vì vậy, dựa trên somanassa hoặc domanassa vedanā do kāma guṇa, một người có thể bám chấp (taṇhā) vào sự kiện giác quan đó (ārammaṇa) và tạo ra samphassa-jā-vedanā. Chỉ có Arahant là chắc chắn không bám chấp.

  • That is the summary of about a fourth of the Pāli text in the Chachakka Sutta (MN 148). That completes the six sets of six.

Đây là phần tóm tắt của khoảng một phần tư văn bản Pāli trong Chachakka Sutta (MN 148). Phần này hoàn tất sáu nhóm sáu.

No “Self” Involved in the Initial Sensory Experiences

Không Có “Cái Tôi” Tham Gia Vào Trải Nghiệm Giác Quan Ban Đầu

  1. As we have discussed, the next verse in the sutta is,

Như chúng ta đã thảo luận, câu kinh tiếp theo trong sutta là:

’Cakkhu attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘cakkhu attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā.

Loosely translated: “If anyone says, ‘cakkhu is self,’ (or ‘seeing is mine’ or ‘it is I who sees’) that is not tenable. An arising and ceasing of cakkhu (not the physical eye) is evident. If cakkhu is ‘self,’ that would imply: ‘my self arises and ceases’ OR ‘I come into being momentarily and cease to exist.’ Therefore one cannot claim that ‘cakkhu is self.’ Thus cakkhu is ‘not-self’ or ‘anattā.’” (“na attā” for “not attā” rhymes as “anattā,” just as “na āgāmi” rhymes as “Anāgāmi.”)

Dịch nghĩa: “Nếu ai nói rằng cakkhu là tự ngã (hoặc ‘việc thấy là của tôi’, ‘tôi là người thấy’) thì điều đó không hợp lý. Sự sinh khởi và diệt đi của cakkhu (không phải con mắt vật lý) là điều hiển nhiên. Nếu cakkhu là ‘tự ngã’, thì điều đó có nghĩa là tự ngã của tôi sinh rồi diệt hoặc tôi xuất hiện rồi biến mất trong từng khoảnh khắc. Vì vậy không thể nói rằng ‘cakkhu là tự ngã.’ Do đó cakkhu là anattā (không phải tự ngã).”(“na attā” nghĩa là “không phải attā” và đọc thành “anattā”, giống như “na āgāmi” đọc thành “Anāgāmi.”)

  • Then the next fourth of the Pāli text in the Chachakka Sutta (MN 148) states that the above conclusion holds for all 36 entities (“six sets of sixes”) involved in the initial sensory experience. Six internal āyatana, six external āyatana, six classes of (vipāka) viññāṇa, six classes of phassa, six classes of vedanā, six classes of taṇhā.

Sau đó phần tư tiếp theo của văn bản Pāli trong Chachakka Sutta (MN 148) khẳng định rằng kết luận trên áp dụng cho tất cả 36 thực thể (“sáu nhóm sáu”) liên quan đến trải nghiệm giác quan ban đầu. Đó là: sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu loại (vipāka) viññāṇa, sáu loại phassa, sáu loại vedanā, và sáu loại taṇhā.

  • See “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa” for details on that.

Xem bài “Chachakka Sutta – Six Types of Vipāka Viññāṇa” để biết chi tiết.

  • Then we discussed the following verse in the sutta starting with, “Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā..

Sau đó chúng ta đã thảo luận sutta tiếp theo bắt đầu bằng: Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā..

Attā Translated as “Self” Is Not Correct

Dịch Attā là “Bản Ngã” Không Hoàn Toàn Chính Xác

  1. The Pāli word “attā” does not mean “self,” even though I used that translation above. That translation is quite common these days. We will go with that until we finish discussing Paṭicca Samuppāda because it does help to get the idea of sakkāya diṭṭhi across below. If I try to discuss the real meaning of attā right now, that could lead to confusion.

Từ “attā” trong Pāli thực ra không có nghĩa là “self”, dù tôi đã dùng cách dịch đó ở trên. Cách dịch này hiện nay khá phổ biến. Chúng ta sẽ tạm dùng nó cho đến khi hoàn tất phần thảo luận về Paṭicca Samuppāda, vì nó giúp dễ hiểu khái niệm sakkāya diṭṭhi. Nếu giải thích nghĩa thật của attā ngay lúc này, có thể sẽ gây nhầm lẫn.

That is why the Buddha refused to answer Vaccagotta’s question about whether or not there is an “attā.” See “WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 44.10).”

Đó là lý do Đức Phật đã từ chối trả lời câu hỏi của Vaccagotta về việc có hay không có attā. Xem “WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 44.10).”

  • Vacchagotta comes to the Buddha and asked: “Kiṁ nu kho, bho gotama, atthattā?” OR “Master Gotama, is it correct to say that there is an ‘attā’?”

Vacchagotta đến gặp Đức Phật và hỏi: “Kiṁ nu kho, bho gotama, atthattā?” nghĩa là: “Thưa ngài Gotama, có đúng không khi nói rằng có một ‘attā’?”

  • Note that “atthattā” is “atthi attā,” where “atthi” means “exists.” Vacchagotta meant in this case “attā” to be “self.” Thus, Vacchagotta meant: “Is it correct to say that a ‘self’ exists?”

Lưu ý rằng “atthattā” là “atthi attā”, trong đó “atthi” nghĩa là “tồn tại.” Trong trường hợp này Vacchagotta hiểu attā là “cái tôi.” Vì vậy câu hỏi của ông thực chất là: “Có đúng không khi nói rằng có một ‘cái tôi’ tồn tại?”

  • The Buddha remained silent, and Vacchagotta asked the question in the negative form. The second time, he asked: “Kiṁ pana, bho gotama, natthattāti?” or, “Master Gotama, is it not correct to say that there is a ‘self’?” The Buddha refused to answer his question, so Vacchagotta got up and left.

Đức Phật giữ im lặng, và Vacchagotta hỏi lại dưới dạng phủ định. Lần thứ hai ông hỏi: “Kiṁ pana, bho gotama, natthattā?” tức là: “Thưa ngài Gotama, chẳng phải là không có ‘cái tôi sao?” Đức Phật vẫn không trả lời nên Vacchagotta đứng dậy và rời đi.

  • Note that “natthattā” is made up of three words: “na atthi attā,” which negates “atthattā.” Just as these days, many people are confused about the Pāli word “attā” and the Sanskrit word “ātma.” The latter meaning is closer to a “soul.”

Lưu ý rằng “natthattā” gồm ba từ: “na atthi attā,” nghĩa là phủ định “atthattā.” Cũng giống như ngày nay, nhiều người nhầm lẫn giữa từ Pāli “attā” và từ Sanskrit “ātma.” Từ sau có nghĩa gần với “linh hồn.”

  • I will discuss this sutta when I discuss “attā” in detail after discussing Paṭicca Samuppāda. By the way, Vacchagotta understood the concept later on and became an Arahant

Tôi sẽ bàn chi tiết về sutta này khi giải thích sâu hơn về attā sau khi thảo luận Paṭicca Samuppāda. Nhân tiện, về sau Vacchagotta đã hiểu được khái niệm này và cũng chứng quả Arahant.

The Origin of the Wrong View of Sakkāya DiṭṭhiSakkāya Samudaya

Nguồn Gốc Của Tà Kiến Sakkāya Diṭṭhi – Sakkāya Samudaya

  1. The sutta then states that the wrong view of sakkāya diṭṭhi arises BECAUSE one does not realize the above facts. Without knowing those facts, one tends to BELIEVE that a “self” is experiencing those first sensory events.

Sutta tiếp tục nói rằng tà kiến sakkāya diṭṭhi sinh khởi BỞI VÌ người ta không hiểu những sự thật trên. Khi không biết những điều đó, người ta có xu hướng TIN rằng một “cái tôi” đang trải nghiệm các sự kiện giác quan ban đầu.

  • Then, if it were a “good experience,” one would try to maintain that pleasant experience and also plan to experience it again in the future. In the case of a “bad experience,” one would do the opposite to avoid such “bad experiences.”

Nếu đó là một trải nghiệm tốt, người ta sẽ cố duy trì trải nghiệm dễ chịu đó và còn lên kế hoạch trải nghiệm lại trong tương lai. Nếu đó là trải nghiệm xấu, người ta sẽ làm điều ngược lại để tránh những trải nghiệm xấu như vậy.

  • The more one engages in either activity, the wrong VIEW of a “self” (sakkāya diṭṭhi) grows.

Càng tham gia vào những hành động đó, tà kiến về “cái tôi” (sakkāya diṭṭhi) càng tăng trưởng.

  1. That explanation is in a short verse starting with:

Điều này được giải thích trong câu kệ ngắn bắt đầu bằng:

Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; rūpe ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; …”

  • We discussed this verse in detail in the last post, “Sakkāya Diṭṭhi in Terms of Attā or ‘Self’ or ‘Ātma.’”

Chúng ta đã thảo luận câu này chi tiết trong bài trước: “Sakkāya Diṭṭhi in Terms of Attā or ‘Self’ or ‘Ātma.’

  • So far I have summarized the discussion up to now. Now, we can discuss the next verse of the sutta.

Cho đến đây tôi đã tóm tắt phần thảo luận trước đó. Bây giờ chúng ta có thể bàn về câu tiếp theo của sutta.

Next Verse in the Chachakka SuttaSakkāya Nirodhaya

Câu tiếp theo trong Chachakka Sutta – Sakkāya Nirodhaya

The verse in #7 above explains how sakkāya diṭṭhi arises. The new verse below explains how sakkāya diṭṭhi stops arising.

Câu ở mục #7 giải thích sakkāya diṭṭhi sinh khởi như thế nào. Câu mới dưới đây giải thích làm sao sakkāya diṭṭhi chấm dứt.

  1. The next verse in the Chachakka Sutta (MN 148) starts with:

Câu tiếp theo trong Chachakka Sutta (MN 148) bắt đầu bằng:

Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyanirodhagāminī paṭipadācakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Rūpe ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati…

The word Nirodha comes from “nir + udaya.”, where “nir” means to stop and “udaya” means “arise.” Thus nirodha means to prevent something from arising.

Từ Nirodha xuất phát từ “nir + udaya,” trong đó “nir” nghĩa là chấm dứt/ngăn lại và “udaya” nghĩa là sinh khởi. Vì vậy nirodha có nghĩa là ngăn chặn sự sinh khởi của một điều gì đó.

  • Gāmini means “path.” Paṭipadā means an “action plan” or behavior. Thus sakkāyanirodhagāminī paṭipadā means the behavior that leads to stopping sakkāya diṭṭhi from arising.

Gāmini nghĩa là “con đường.” Paṭipadā nghĩa là cách hành xử hay phương pháp thực hành. Vì vậy sakkāyanirodhagāminī paṭipadā nghĩa là hành vi dẫn đến sự chấm dứt của sakkāya diṭṭhi.

  • Then it says that this will happen when one “SEES” that “cakkhu is NOT mine, cakkhu is NOT what I am, cakkhu is NOT my ‘self.’” Here, “netaṁ” means “na” + “etaṁ,” or “it is not.”

Sau đó sutta nói rằng điều này xảy ra khi một người “THẤY” rằng “cakkhu không phải của tôi, cakkhu không phải là tôi, cakkhu không phải là ‘tự ngã’ của tôi.” Ở đây “netaṁ” nghĩa là “na” + “etaṁ,” tức là “không phải cái này.”

  • That is because, in reality, there is no “self,” no “soul,” and no “ātma” associated with a living being. Sensory experiences arise due to past causes. Yet, we cannot explain the response of an average human to those sensory experiences without the assumption of a “self.” The reactions of an average person to such sensory inputs can only be understood by considering that his or her mindset believes in a “self.”

Đó là vì trong thực tế không có “cái tôi,” không có “linh hồn,” cũng không có “ātma” gắn với một chúng sinh. Các trải nghiệm giác quan sinh khởi do những nguyên nhân trong quá khứ. Tuy nhiên, chúng ta không thể giải thích phản ứng của một con người bình thường đối với các trải nghiệm giác quan đó nếu không giả định rằng có một “cái tôi.” Phản ứng của một người bình thường trước những kích thích giác quan như vậy chỉ có thể được giải thích khi xét đến tâm thức của họ tin rằng có một “cái tôi.”

  • (Once we discuss Paṭicca Samuppāda, it will become clear why future suffering arises because of that wrong view of sakkāya diṭṭhi. That is how sakkāya diṭṭhi can be removed. Only then can we understand the real meaning of atta/attā and anatta/anattā. I do not want to get into that issue right now because it may confuse many people.)

(Khi chúng ta thảo luận về Paṭicca Samuppāda – Duyên khởi, sẽ trở nên rõ ràng tại sao khổ trong tương lai phát sinh do tà kiến sakkāya diṭṭhi. Đó cũng là cách sakkāya diṭṭhi được loại bỏ. Chỉ khi đó chúng ta mới hiểu được ý nghĩa thật của atta/attā và anatta/anattā. Tôi chưa muốn đi sâu vào vấn đề này ngay lúc này vì có thể gây nhầm lẫn cho nhiều người.)

  1. The sutta repeats that for all the other five entities associated with “seeing.” They are rūpa, cakkhu viññāṇa, cakkhu samphassa, cakkhu samphassa-jā vedanā, and taṇhā (which arises from cakkhu samphassa-jā vedanā).

Sutta lặp lại điều này cho năm yếu tố còn lại liên quan đến việc thấy, gồm: rūpa, cakkhu viññāṇa, cakkhu samphassa, cakkhu samphassa-jā vedanā và taṇhā (taṇhā phát sinh từ cakkhu samphassa-jā vedanā).

  • Then it is repeated for the other five internal āyatana: sota, ghāna, jivhā, kāya, and mano. Please go through those verses.

Sau đó điều này được lặp lại cho năm nội xứ còn lại: sota (tai), ghāna (mũi), jivhā (lưỡi), kāya (thân), và mano (ý). Hãy đọc các đoạn kinh tương ứng.

  • However, it may not be easy to “see” that no “self” is involved in sensory experiences. We have held the wrong view of sakkāya diṭṭhi virtually forever! That is why we remain in this endless rebirth process.

Tuy nhiên, không dễ để nhận ra rằng không có “cái tôi” nào tham gia vào các trải nghiệm giác quan. Chúng ta đã mang tà kiến sakkāya diṭṭhi gần như từ vô thủy! Đó là lý do chúng ta vẫn ở trong vòng luân hồi không dứt.

  • To remove that strong diṭṭhi, we must see the true nature of things, i.e., we need to cultivate “yathābhūta ñāṇa.” A major part of this understanding is realizing that there is no experiencer, as we discussed using the movie analogy. There are only causes and results. That is Paṭicca Samuppāda. See: “Vision Is a Series of ‘Snapshots’ – Movie Analogy.”

Để loại bỏ tà kiến mạnh mẽ này, chúng ta cần thấy bản chất thật của các pháp, tức là phát triển yathābhūta ñāṇa. Một phần quan trọng của sự hiểu biết này là nhận ra rằng không có “người trải nghiệm”, như đã giải thích qua ví dụ bộ phim. Chỉ có nhân và quả. Đó là Paṭicca Samuppāda. Xem: “Vision Is a Series of ‘Snapshots’ – Movie Analogy.”

  • We will examine this in detail in upcoming posts. This sutta only briefly states the primary process.

Chúng ta sẽ phân tích chi tiết hơn trong các bài viết tiếp theo. Sutta này chỉ trình bày tiến trình chính một cách ngắn gọn.

Sakkāya Nirodhaya Starts With Vedanā

Sự Chấm Dứt Sakkāya Bắt Đầu Từ Vedanā

  1. The key to arriving at that UNDERSTANDING is given in the following verse of the sutta, starting with, “Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ; tiṇṇaṁ saṅgati phasso; phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.”

Chìa khóa để đạt được sự HIỂU BIẾT đó được nêu trong câu kinh sau, bắt đầu bằng: Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ; tiṇṇaṁ saṅgati phasso; phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.”

Translated: Bhikkhus, dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises; then the mind makes contact with saṅ gati; that contact with “saŋ gati” leads to the arising of “mind-made” feelings that are pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful.”

Dịch: “Này các Bhikkhu, do mắt và các sắc làm duyên, nhãn thức sinh khởi; sau đó tâm tiếp xúc với saṅ gati; sự tiếp xúc với saṅ gati đó dẫn đến sự sinh khởi của những cảm thọ do tâm tạo ra, có thể là lạc, khổ, hoặc không lạc không khổ.”

  • Regardless of which sense faculty is involved, these mind-generated feelings or samphassa-jā vedanā CAN ARISE based on kāma guṇa AND one’s gati.

Bất kể căn nào liên quan, những cảm thọ do tâm tạo ra (samphassa-jā vedanā) CÓ THỂ PHÁT SINH dựa trên kāma guṇa VÀ gati của mỗi người.

This part was discussed earlier in the posts: “Indriya Make Phassa and Āyatana Make Samphassa,” “Vipāka Vedanā and ‘Samphassa jā Vedanā’ in a Sensory Event,” “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā)”.

Phần này đã được thảo luận trước đó trong các bài viết: “Indriya Make Phassa and Āyatana Make Samphassa,” “Vipāka Vedanā and ‘Samphassa jā Vedanā’ in a Sensory Event,” “Kāma Guṇa – Origin of Attachment (Taṇhā)”.

Getting Attached to Vedanā Leads to the Growth of Anusaya

Bám Chấp Vào Vedanā Làm Tăng Trưởng Anusaya

  1. Then the subsequent verses introduce a critical word, anusaya. Based on sukha vedanā, dukkha vedanā, and adukkhamasukha vedanā, three corresponding types of anusaya result: rāgānusaya, paṭighānusaya, and avijjānusaya.

Sau đó các câu kinh tiếp theo giới thiệu một thuật ngữ quan trọng là anusaya. Dựa trên sukha vedanā, dukkha vedanā và adukkhamasukha vedanā, ba loại anusaya tương ứng phát sinh: rāgānusaya, paṭighānusaya và avijjānusaya.

  • Let us start with the verse that explains the origins of rāgānusaya: “So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo anuseti.”

Hãy bắt đầu với câu kệ giải thích nguồn gốc của rāgānusaya: “So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo anuseti.”

  • Translated: “When one experiences a sukha vedanā, if one delights in it, welcomes it, and thinks and speaks highly of it, gets absorbed in it, then the underlying tendency for rāga (rāgānusaya) gets stronger (i.e., rāgānusaya will grow).”

Dịch: “Khi một người trải nghiệm sukha vedanā, nếu người đó hoan hỷ với nó, chào đón nó, suy nghĩ và nói tốt về nó, rồi chìm đắm trong nó, thì khuynh hướng tiềm ẩn của tham (rāgānusaya) sẽ trở nên mạnh hơn (tức là rāgānusaya sẽ tăng trưởng).”

  • Here, rāgānusaya comes from “rāga” + “anusaya.” Now we need to get an idea about the meaning of anusaya

Ở đây rāgānusaya được tạo thành từ “rāga” + “anusaya.” Bây giờ chúng ta cần hiểu trước ý nghĩa của anusaya.

What is Anusaya?

Anusaya là gì?

  1. Anusaya is usually translated as “latent tendencies.” That translation gives the basic idea. Such latent tendencies exist in our gati. Anusaya and gati are closely related. See: “The Law of Attraction, Habits, Character (Gati), and Cravings (Asavas)” and “Āsava, Anusaya, and Gati (Gathi).”

Anusaya thường được dịch là “khuynh hướng tiềm ẩn.” Cách dịch này nêu được ý nghĩa cơ bản. Những khuynh hướng tiềm ẩn này nằm trong gati của chúng ta. Anusaya và gati có mối liên hệ rất chặt chẽ. Xem thêm các bài: “The Law of Attraction, Habits, Character (Gati), and Cravings (Asavas)” và “Āsava, Anusaya, and Gati (Gathi).”

  • Everyone has a set of gati (habits or character traits). Each person has their own set of things or activities that they like and dislike. Some of these are neither moral nor immoral.

Mỗi người đều có một tập hợp gati (thói quen hoặc đặc tính tính cách). Mỗi người có những thứ hoặc hoạt động mà họ thích và không thích. Một số trong đó không phải là thiện hay bất thiện.

  • But we also have moral (ethical) gati and corrupt (bad) gati. Here “moral” and “immoral” cover a wide range, which we will discuss later. Those deeds have kammic consequences, and those are the gati that matter here.

Nhưng chúng ta cũng có gati đạo đức (thiện) và gati xấu (bất thiện). Ở đây thiện và bất thiện có nhiều mức độ khác nhau, sẽ được bàn sau. Những hành động này tạo ra quả kamma, và đó là những gati quan trọng trong bối cảnh này.

  1. By the way, notice that now we are talking about a “person” or a “self” who has sakkāya diṭṭhi (and gati and anusaya)! That is why it is incorrect to say that there is “no-self” either.

Nhân tiện, hãy chú ý rằng bây giờ chúng ta đang nói về “một con người” hay “một cái tôi” có sakkāya diṭṭhi (và có gati và anusaya)! Vì vậy nói rằng “không có cái tôi” cũng không hoàn toàn chính xác.

  • When we keep doing what we are used to, that habit will only grow stronger. That also means anusaya will grow, and that growth due to repeated activity is called “anuseti.”

Khi chúng ta tiếp tục làm những gì mình quen làm, thói quen đó sẽ ngày càng mạnh hơn. Điều đó cũng có nghĩa là anusaya tăng trưởng, và sự tăng trưởng này do hoạt động lặp lại được gọi là “anuseti.”

  • Arahants do not have moral or immoral gati, but they still have kammically neutral gati (habits). Such habits include doing things in particular ways.

Arahant không còn gati thiện hay bất thiện, nhưng vẫn có gati trung tính về kamma (những thói quen đơn thuần), chẳng hạn như làm việc theo một cách quen thuộc nào đó.

Rāga Anusaya Grows by Getting Attached to Mind-Made Sukha Vedanā or Somanassa Vedanā

Rāga Anusaya Tăng trưởng khi Bám chấp vào Sukha Vedanā Do tâm tạo hay Somanassa Vedanā

  1. What the sutta states in verse #10 is the following. When a “pleasing ārammaṇa” comes to the mind, the mind may delight in that ārammaṇa. If so, it will welcome that ārammaṇa and get absorbed in it. That means the person will think highly of it, speak highly of it, and act to maintain that ārammaṇa.

Điều sutta nói trong câu #10 là như sau. Khi một ārammaṇa dễ chịu xuất hiện trong tâm, tâm có thể thích thú với ārammaṇa đó. Nếu vậy, người đó sẽ đón nhận và chìm đắm trong nó. Điều này có nghĩa là người đó nghĩ tốt về nó, nói tốt về nó và hành động để duy trì ārammaṇa đó.

  • For example, if X sees an object that X likes, X will keep looking at it and start thinking about how good it is. X may tell another person how good it is. Even later, X may plan to experience that sight again. Those activities involve vacī saṅkhāra and kāya saṅkhāra.

Ví dụ, nếu X nhìn thấy một vật mà X thích, X sẽ tiếp tục nhìn nó và bắt đầu nghĩ rằng nó thật tuyệt. X có thể kể với người khác rằng nó tốt thế nào. Sau đó X còn có thể lên kế hoạch để trải nghiệm nó lần nữa. Những hoạt động này liên quan đến vacī saṅkhāra (tư duy/lời nói trong tâm) và kāya saṅkhāra (hành động thân).

  • That is how Paṭicca Samuppāda starts with “avijjā paccayā saṅkhāra” and “saṅkhāra paccayā viññāṇa.”

Đó chính là cách Paṭicca Samuppāda bắt đầu với “avijjā paccayā saṅkhāra” và “saṅkhāra paccayā viññāṇa.”

  • Here avijjā is the ignorance of believing that there is a “self” experiencing that sensory input.

Ở đây avijjā (vô minh) là niềm tin sai lầm rằng có một “cái tôi” đang trải nghiệm cảm giác đó.

Those Viññāṇa Are Kamma Viññāṇa

Những Viññāṇa này là Kamma Viññāṇa

  1. We remember that there could be six types of viññāṇa in the INITIAL sensory event that takes place due to kamma vipāka. Those are cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya, or mano viññāṇa. They are ALL vipāka viññāṇa, which makes one aware of the sensory input.

Chúng ta nhớ rằng trong trải nghiệm giác quan ban đầu xảy ra do kamma vipāka, có thể có sáu loại viññāṇa: cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya hoặc mano viññāṇa. Tất cả đều là vipāka viññāṇa, tức là những thức giúp một người nhận biết dữ liệu giác quan.

  • However, viññāṇa in “saṅkhāra paccayā viññāṇa” generates kamma viññāṇa. Such saṅkhāra are specifically abhisaṅkhāra. Such kamma viññāṇa can ONLY be mano viññāṇa, i.e., they involve only the mind. They have embedded energy because that person has decided to take further steps to enjoy that sensory experience again and again.

Tuy nhiên viññāṇa trong “saṅkhāra paccayā viññāṇa” tạo ra kamma viññāṇa. Những saṅkhāra này cụ thể là abhisaṅkhāra. Loại kamma viññāṇa này CHỈ có thể là mano viññāṇa, tức là chỉ liên quan đến tâm. Chúng chứa năng lượng kamma, vì người đó đã quyết định tiếp tục thực hiện các bước để tận hưởng lại trải nghiệm giác quan đó nhiều lần.

  • In the Abhidhamma language, saṅkhāra have javana They create kammic energy for that kamma viññāṇa.

Trong ngôn ngữ Abhidhamma, saṅkhāra có lực javana. Chúng tạo ra năng lượng kamma cho kamma viññāṇa đó.

  • In other words, that “person” has to spend time and effort to enjoy that sensory experience again. He has now created a “kamma bīja” or expects a specific outcome.

Nói cách khác, “người” đó phải bỏ thời gian và công sức để tiếp tục tận hưởng trải nghiệm giác quan đó. Khi đó người ấy đã tạo ra một “kamma bīja” (hạt giống nghiệp) và mong đợi một kết quả cụ thể.

  1. For example, if a person X saw and “attached” to an expensive item in a store, X would talk about it with the spouse and make plans to come up with the money to pay for it. Until X buys that item, that “viññāṇa” will be there. The critical point here is that X already HAD a rāga anusaya for it, and by engaging in those follow-up activities, X “added” more energy to that. That addition is “anuseti.”

Ví dụ, nếu một người X nhìn thấy và bám chấp vào một món đồ đắt tiền trong cửa hàng, X sẽ nói chuyện với vợ/chồng về nó và lên kế hoạch tìm tiền để mua. Cho đến khi X mua được món đồ đó, “viññāṇa” đó vẫn còn tồn tại. Điểm quan trọng ở đây là X đã có sẵn rāga anusaya đối với nó, và bằng cách thực hiện các hoạt động tiếp theo đó, X đã “bổ sung” thêm năng lượng cho nó. Sự bổ sung đó được gọi là “anuseti.”

  • Different people have different types of anusaya. That is why not everyone attaches to a given ārammaṇa. Furthermore, each person’s levels of anusaya CAN change with time. That anusaya can be REMOVED too, which is the way to Nibbāna.

Mỗi người có những loại anusaya khác nhau. Vì vậy không phải ai cũng bám chấp vào cùng một ārammaṇa. Hơn nữa, mức độ anusaya của mỗi người CÓ THỂ thay đổi theo thời gian. Những anusaya này cũng có thể được loại bỏ, và đó chính là con đường dẫn đến Nibbāna.

  • As you can imagine, the other two types of anusaya will “build up” in the same way. With a “bad” ārammaṇa, dosa (anger) arises, and paṭighānusaya (paṭigha anusaya) strengthens.

Như bạn có thể hình dung, hai loại anusaya còn lại cũng tăng trưởng theo cách tương tự. Khi một ārammaṇa xấu xuất hiện, dosa (sân) sinh khởi và paṭighānusaya (tùy miên sân) trở nên mạnh hơn.

  • Finally, the avijjānusaya (avijjā anusaya) builds up when one acts with avijjā (ignorance). We will discuss more about that in the next post.

Cuối cùng, avijjānusaya (avijjā anusaya) tăng trưởng khi một người hành động với avijjā (vô minh). Chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn về điều này trong bài viết tiếp theo.

Difference Between Diṭṭhi Vipallāsa and Saññā Vipallāsa

Sự khác nhau Giữa Diṭṭhi Vipallāsa và Saññā Vipallāsa

I do not want to leave this post without clarifying the following point.

Tôi không muốn kết thúc bài viết này mà không làm rõ điểm sau.

  1. In the discussion forum at puredhamma.net, a legitimate question was asked: “Since a Sotāpanna has removed sakkāya diṭṭhi, why would a Sotāpanna still value sensory pleasures and may even commit some immoral deeds?”

Trong diễn đàn thảo luận tại puredhamma.net, có một câu hỏi hợp lý được đặt ra: “Vì một Sotāpanna đã loại bỏ sakkāya diṭṭhi, tại sao một Sotāpanna vẫn có thể coi trọng các khoái lạc giác quan và thậm chí vẫn có thể làm một số hành vi bất thiện?”

  • As we know, a Sotāpanna is incapable of doing ONLY apāyagāmi deeds that could lead to rebirth in the apāyā (plural of apāya).

Như chúng ta biết, một Sotāpanna chỉ không thể thực hiện những hành động apāyagāmi, tức là những hành động dẫn đến tái sinh vào các cõi khổ (apāyā).

  • There is a difference between “seeing” (diṭṭhi) the real nature of the world and having corresponding perceptions (saññā) about that real nature. It is essential to understand what is meant by saññā; see “Saññā – What It Really Means.”

Có sự khác biệt giữa “thấy” (diṭṭhi) bản chất thật của thế giới và nhận thức (saññā) tương ứng với bản chất đó. Điều quan trọng là phải hiểu saññā nghĩa là gì; xem bài “Saññā – What It Really Means.”

  • The Pāli word “vipallāsa” means “confusions” or “distortions.” Wrong views lead to diṭṭhi vipallāsa and wrong perceptions lead to saññā vipallāsa. More details at “Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Affect Saṅkhāra.”

Từ Pāli “vipallāsa” có nghĩa là “sự nhầm lẫn” hoặc “sự méo mó.” Tà kiến dẫn đến diṭṭhi vipallāsa, và nhận thức sai dẫn đến saññā vipallāsa. Xem chi tiết tại bài “Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Affect Saṅkhāra.”

  • With that terminology, a Sotāpanna has removed diṭṭhi vipallāsa but still has saññā vipallāsa.

Theo cách hiểu này, một Sotāpanna đã loại bỏ diṭṭhi vipallāsa, nhưng vẫn còn saññā vipallāsa.

  1. In other words, the wrong views about a “self” (sakkāya diṭṭhi) disappear at the Sotāpanna But the perception of a “self” (asmi māna) disappears gradually and is completely removed only at the Arahant stage.

Nói cách khác, tà kiến về “cái tôi” (sakkāya diṭṭhi) biến mất ở giai đoạn Sotāpanna. Nhưng cảm nhận về “cái tôi” (asmi māna) mất dần theo từng giai đoạn và chỉ biến mất hoàn toàn ở giai đoạn Arahant.

  • Saññā vipallāsa disappears at the Anāgāmi stage, and citta vipallāsa (together with asmi māna) is removed at the Arahant See “Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Affect Saṅkhāra.”

Saññā vipallāsa được loại bỏ ở giai đoạn Anāgāmi, còn citta vipallāsa (cùng với asmi māna) được loại bỏ ở giai đoạn Arahant. Xem bài “Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Affect Saṅkhāra.”

  • That is also why we cannot say that “there is no-self.” Until the attainment of Arahanthood, there is still a perception of a “self.”

Đó cũng là lý do chúng ta không thể nói rằng “không có cái tôi.” Cho đến khi đạt Arahant, vẫn còn nhận thức về “cái tôi.”

  • The critical point is that it is wrong to analyze sensory experiences based on “self” or “no-self.” Instead, everything can be explained through causes and effects, that is Paṭicca Samuppāda.

Điểm then chốt là không nên phân tích các trải nghiệm giác quan dựa trên “cái tôi” hay “không có cái tôi.” Thay vào đó, mọi thứ có thể được giải thích bằng nhân và quả, tức là Paṭicca Samuppāda (Duyên khởi).

  • Then it will also become clear that the Pāli word “attā” does not truly mean a “self,” “soul,” or “ātma.”

Khi đó cũng sẽ trở nên rõ ràng rằng từ Pāli “attā” thực ra không có nghĩa là “cái tôi”, “linh hồn” hay “ātma.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *