October 13, 2023
Ngày 13/10/2023
Attā can mean either a “person”/“oneself” (mundane meaning) or “of benefit/value” (deeper meaning as the opposite of “anatta” in Tilakkhaṇa), depending on the context. In many English translations, it is always used with the mundane meaning. That leads to much confusion.
Attā có thể mang nghĩa “một người”/“chính mình” (nghĩa thông thường) hoặc “có lợi/có giá trị” (nghĩa sâu hơn, đối lập với “anatta” trong Tilakkhaṇa), tùy theo ngữ cảnh. Trong nhiều bản dịch tiếng Anh, từ này luôn được dùng với nghĩa thông thường, điều đó dẫn đến nhiều nhầm lẫn.
Ātman/Anātman Are Not the Same as Attā/Anattā
Ātman/Anātman Không Giống Attā/Anattā
- Ātman and anātman are Sanskrit words meaning “self” and “no-self” in Hinduism. Here, a “self” means the same as a “soul” in Christianity, a permanent entity. See “WebLink: encyclopedia.com: Anatman/Atman (No-Self/Self).”
Ātman và anātman là các từ Sanskrit có nghĩa “bản ngã” và “vô ngã” trong Ấn Độ giáo. Ở đây, “bản ngã” có nghĩa tương tự “linh hồn” trong Kitô giáo, tức một thực thể vĩnh hằng. Xem “WebLink: encyclopedia.com: Anatman/Atman (No-Self/Self).”
- That article starts with the following: “The Vedic Sanskrit term ātman (Pāli, attā), literally meaning breath or spirit, is often translated into English as self, soul, or ego. Etymologically, anātman (Pāli, anattā) consists of the negative prefix an, plus, ātman (i.e., without ātman) and is translated as no-self, no-soul, or no-ego.” That is completely wrong!
Bài viết đó mở đầu như sau: “Thuật ngữ Sanskrit Vệ-đà ātman (Pāli, attā), theo nghĩa đen là hơi thở hay tinh thần, thường được dịch sang tiếng Anh là self, soul, hoặc ego. Về mặt từ nguyên, anātman (Pāli, anattā) gồm tiền tố phủ định an cộng với ātman (tức không có ātman) và được dịch là không có ngã, không có linh hồn, hoặc không có cái tôi.” Điều đó hoàn toàn sai!
- That sentence explains the problem. The Vedic “anātman” was adopted to explain the meaning of the Buddhist “anattā” (in Pāli) in Mahāyāna Buddhism that took root in India a mere 500 years after the passing away of the Buddha. It then got incorporated into Theravāda Buddhism during the time Mahāyāna Buddhism flourished in India. By the time the British Empire took over most of Asia, that interpretation had spread to other Asian countries as well. See “Misinterpretation of Anicca and Anatta by Early European Scholars.”
Câu đó cho thấy vấn đề. Thuật ngữ Vệ-đà “anātman” đã được sử dụng để giải thích ý nghĩa của “anattā” (trong Pāli) của Phật giáo trong Phật giáo Đại thừa, vốn phát triển ở Ấn Độ chỉ khoảng 500 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Sau đó, cách hiểu này được đưa vào Phật giáo Theravāda trong thời kỳ Phật giáo Đại thừa hưng thịnh tại Ấn Độ. Đến khi Đế quốc Anh chiếm phần lớn châu Á, cách diễn giải đó đã lan rộng sang các quốc gia châu Á khác. Xem “Misinterpretation of Anicca and Anatta by Early European Scholars.”
- Unfortunately, now that incorrect interpretation is everywhere: “WebLink: en.wikipedia.org: Ātman (Buddhism).”
Thật không may, hiện nay cách diễn giải sai lầm đó xuất hiện khắp nơi: “WebLink: en.wikipedia.org: Ātman (Buddhism).”
- This has done immense damage to Theravāda Buddhism and has blocked the path for many over the past thousands of years.
Điều này đã gây tổn hại to lớn cho Phật giáo Theravāda và đã cản trở con đường tu tập của nhiều người trong suốt hàng ngàn năm qua.
- In the following, I will point out how that incorrect interpretation leads to inconsistencies in Sutta
Sau đây, tôi sẽ chỉ ra cách mà sự diễn giải sai đó dẫn đến những bất nhất trong các bản dịch Sutta.
- In the previous post, “‘Etaṁ Mama, Esohamasmi, Eso Me Attā’ti – Connection to Taṇhā, Māna, Diṭṭhi” I discussed that “attā” has two meanings, and the correct meaning must be used depending on the context. Furthermore, I pointed out that the absence of an “everlasting soul” or “an unchanging self” is built into the foundation of Buddha Dhamma.
Trong bài trước, “‘Etaṁ Mama, Esohamasmi, Eso Me Attā’ti – Connection to Taṇhā, Māna, Diṭṭhi,” tôi đã bàn rằng “attā” có hai nghĩa, và phải dùng đúng nghĩa tùy theo ngữ cảnh. Hơn nữa, tôi đã chỉ ra rằng sự vắng mặt của một “linh hồn vĩnh hằng” hay “cái tôi bất biến” đã được đặt nền tảng ngay trong Dhamma của Đức Phật.
- Even though an “unchanging/everlasting self” does not exist, the Buddha talked about a “person” in a conventional way. The Pāli word for indicating “a person,” “myself,” etc., in a conventional way, is “attā” (with a long “a.”)
Dù một “cái tôi bất biến/vĩnh hằng” không tồn tại, Đức Phật vẫn nói về “một con người” theo cách quy ước. Từ Pāli dùng để chỉ “một người,” “chính tôi,” v.v., theo nghĩa quy ước là “attā” (với nguyên âm “a” dài).
- The deeper meaning of “attā” (and also “atta” without the long “a”) is “beneficial,” “fruitful,” “meaningful,” etc. The opposite of that is “anatta/anattā” or “unfruitful.”
Nghĩa sâu hơn của “attā” (và cả “atta” không có “a” dài) là “có lợi,” “có kết quả,” “có ý nghĩa,” v.v. Đối nghĩa của nó là “anatta/anattā” hay “không có lợi/không mang lại kết quả.”
- The deeper meaning comes into play in Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta), where anatta is related to anicca and dukkha. All three indicate undesirable characteristics of the world of 31 realms.
Nghĩa sâu hơn này xuất hiện trong Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta), trong đó anatta liên hệ với anicca và dukkha. Cả ba đều chỉ những đặc tính bất như ý của thế giới 31 cõi.
- Both usages are discussed in “Atta Hi Attano Natho.” A longer discussion in “Anatta – the Opposite of Which Atta?”
Cả hai cách dùng được bàn trong “Atta Hi Attano Natho.” Phân tích dài hơn có trong “Anatta – the Opposite of Which Atta?”
- The deeper meaning must be used in the context of the suttās SN 22.33 AND SN 35.101 discussed below.
Nghĩa sâu hơn phải được sử dụng trong ngữ cảnh của các kinh SN 22.33 VÀ SN 35.101 được bàn dưới đây.
Natumhāka Sutta
Natumhāka Sutta
- I will focus on one sutta to point out the absurdity of translating atta/anatta (or attā/anattā) as “self/no-self” without paying attention to the context. Here is the Pāli version: “WebLink: suttacentral: Natumhāka Sutta (SN 22.33)”
Tôi sẽ tập trung vào một kinh để chỉ ra sự phi lý của việc dịch atta/anatta (hoặc attā/anattā) là “self/no-self” mà không chú ý đến ngữ cảnh. Đây là bản Pāli: “WebLink: suttacentral: Natumhāka Sutta (SN 22.33)”
The following is my translation with a few clarifications. You should try to follow it since it is not a long or complex sutta. I used the following meanings: tumha = you, tumhākaṁ = yours, pajahatha = to give up (in mind, pajahatha does not mean donate.)
Sau đây là bản dịch của tôi với một vài giải thích. Bạn nên cố theo dõi vì đây không phải là một sutta dài hay phức tạp. Tôi dùng các nghĩa sau: tumha = các ông, tumhākaṁ = của các ông, pajahatha = từ bỏ (trong tâm, pajahatha không có nghĩa là cho đi vật chất.)
At Sāvatthī.
Tại Sāvatthī.
“Bhikkhus, give up what’s not yours.”
“Này các bhikkhu, hãy từ bỏ những gì không phải của các ông.”
- “Giving up (the attachment to) such things will be for your welfare and happiness.”
“Việc từ bỏ (sự dính mắc vào) những điều ấy sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.”
“And what is not yours?
“Và cái gì không phải của các ông?
- Rūpās (whether internal or external) are not yours: give them up (meaning don’t generate taṇhā/upādāna for them.)
Các rūpa (dù bên trong hay bên ngoài) không phải của các ông: hãy từ bỏ chúng (nghĩa là đừng tạo taṇhā/upādāna đối với chúng.)
- Giving up attachment to them will be for your welfare and happiness (here, pahīna means to “lose attachment”).”
Từ bỏ sự dính mắc vào chúng sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông (ở đây, pahīna nghĩa là “mất đi sự dính mắc”).”
“In the same way, vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa are not yours: give them up (meaning don’t generate taṇhā/upādāna for them.)
“Tương tự, vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa không phải của các ông: hãy từ bỏ chúng (nghĩa là đừng tạo taṇhā/upādāna đối với chúng.)
- Giving up attachment to them will be for your welfare and happiness.”
Từ bỏ sự dính mắc vào chúng sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.”
“Suppose a person comes to this temple (jetavane) and carries off the grass, sticks, branches, and leaves on the temple grounds, burns them or does whatever they want with those grass, sticks, branches, and leaves.
“Giả sử một người đến ngôi chùa này (Jetavane) và mang đi cỏ, que, cành và lá trong khuôn viên chùa, đốt chúng hoặc làm bất cứ điều gì họ muốn với những cỏ, que, cành và lá ấy.
Would you think: This person is carrying off something of value to us, burning something of value to us (amhe)?”
Bạn có nghĩ rằng: Người này đang mang đi thứ gì đó có giá trị đối với chúng ta, đang đốt thứ gì đó có giá trị đối với chúng ta (amhe) không?”
- “There is no reason to say so, Bhante.”
“Không có lý do gì để nói như vậy, bạch Ngài.”
“Why is that?”
“Vì sao vậy?”
- @ marker 2.6: “Because those things (grass, sticks, branches, and leaves on the temple grounds) are not useful/beneficial (attā) or can provide to anything of value (attaniyaṁ).”
@ marker 2.6: “Bởi vì những thứ ấy (cỏ, que, cành và lá trong khuôn viên chùa) không hữu ích/có lợi (attā) cũng không đem lại bất cứ điều gì có giá trị (attaniyaṁ).”
“In the same way Bhikkhus, rūpās (whether internal or external) are not yours: give them up (meaning don’t generate taṇhā/upādāna for them.)
“Tương tự, này các bhikkhu, rūpa (dù bên trong hay bên ngoài) không phải của các ông: hãy từ bỏ chúng (nghĩa là đừng tạo taṇhā/upādāna đối với chúng.)
- Giving up attachment to them will be for your welfare and happiness.”
Việc từ bỏ sự dính mắc vào chúng sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.”
“In the same way, vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa are not yours: give them up (meaning don’t generate taṇhā/upādāna for them.)
“Tương tự, vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa không phải của các ông: hãy từ bỏ chúng (nghĩa là đừng tạo taṇhā/upādāna đối với chúng.)
- Giving up attachment to them will be for your welfare and happiness.”
Việc từ bỏ sự dính mắc vào chúng sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.”
That is the complete sutta.
Đó là toàn bộ bài sutta.
Absurd Translation of Natumhāka Sutta
Bản Dịch Phi Lý Của Natumhāka Sutta
- Here is the Sutta Central link with both Pāli and their English translations: “WebLink: suttacentral: Natumhāka Sutta (SN 22.33)”
Đây là đường dẫn Sutta Central có cả bản Pāli và bản dịch tiếng Anh: “WebLink: suttacentral: Natumhāka Sutta (SN 22.33)”
- You can read the English translation at Sutta Central in the above link.
Bạn có thể đọc bản dịch tiếng Anh tại Sutta Central trong đường dẫn trên.
- The critical verse is @marker 2.6: “Na hi no etaṁ, bhante, attā vā attaniyaṁ vā”ti.
Câu then chốt là @marker 2.6: “Na hi no etaṁ, bhante, attā vā attaniyaṁ vā”ti.
The Sutta Central English translation is: “Because to us that’s neither self nor belonging to self,” meaning “Because to us that (grass, sticks, branches, and leaves on the temple grounds) is neither self nor belonging to self.”
Bản dịch tiếng Anh của Sutta Central là: “Because to us that’s neither self nor belonging to self,” nghĩa là “Vì đối với chúng tôi, điều đó (cỏ, que, cành và lá trong khuôn viên chùa) không phải là cái ngã cũng không thuộc về cái ngã.”
- Does it make sense to say, “Grass is neither self nor belonging to self”?
Có hợp lý không khi nói rằng: “Cỏ không phải là cái ngã và cũng không thuộc về cái ngã”?
- Here, “Na hi no etaṁ” means “those things (grass, sticks, branches, and leaves on the temple grounds) are not.”
Ở đây, “Na hi no etaṁ” có nghĩa là “những thứ ấy (cỏ, que, cành và lá trong khuôn viên chùa) không phải là…”
- The translation of “attā vā attaniyaṁ vā” at Sutta Central is “neither self nor belonging to self.”
Cách dịch “attā vā attaniyaṁ vā” tại Sutta Central là “không phải là cái ngã cũng không thuộc về cái ngã.”
- This is an excellent example of the tragic outcome of translating “attā” as “self.” What does it mean to say, “Grass is neither self nor belonging to self”?
Đây là một ví dụ điển hình cho hậu quả đáng tiếc khi dịch “attā” là “cái ngã.” Nói “Cỏ không phải là cái ngã và cũng không thuộc về cái ngã” thì có nghĩa gì?
- Thus, the point is that “attā” in the context of the sutta refers to whether the grass, sticks, branches, and leaves on the temple grounds are of any value/substance/benefit.
Vì vậy, ý ở đây là “attā” trong ngữ cảnh của sutta này chỉ việc cỏ, que, cành và lá trong khuôn viên chùa có giá trị/thực chất/lợi ích gì hay không.
- A second translation at Sutta Central has the same problem: “WebLink: suttacentral: 22.33. Not Yours (1).”
Một bản dịch thứ hai tại Sutta Central cũng gặp vấn đề tương tự: “WebLink: suttacentral: 22.33. Not Yours (1).”
- There is a longer version in the “WebLink: suttacentral: Paṭhamanatumhāka Sutta (SN 35.101)” at Sutta Central with exactly the same verse translated the same wrong way.
Có một bản dài hơn trong “WebLink: suttacentral: Paṭhamanatumhāka Sutta (SN 35.101)” trên Sutta Central với đúng câu kệ đó nhưng cũng bị dịch sai theo cùng một cách.
- Here is the translation of that latter sutta at another website: “WebLink: accesstoinsight.org: Na Tumhaka Sutta: Not Yours.” Translation of the critical verses there are as follows:
Dưới đây là bản dịch của sutta sau đó trên một trang khác: “WebLink: accesstoinsight.org: Na Tumhaka Sutta: Not Yours.” Bản dịch các câu then chốt ở đó như sau:
“Suppose a person were to gather or burn or do as he likes with the grass, twigs, branches, & leaves here in Jeta’s Grove. Would the thought occur to you, ‘It’s us that this person is gathering, burning, or doing with as he likes’?”
“Giả sử một người gom lại, đốt, hoặc làm tùy ý với cỏ, que nhỏ, cành và lá ở đây trong Jeta’s Grove. Các ông có khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Người này đang gom/đốt/làm tùy ý chính chúng ta’ không?”
“No, lord. Why is that? Because those things are not our self nor do they pertain to our self.”
“Không, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì những thứ ấy không phải là cái ngã của chúng tôi, và cũng không liên quan đến cái ngã của chúng tôi.”
- It appears that they mechanically translate words without even trying to see whether what comes out makes any sense!
Có vẻ như họ dịch máy móc từng từ mà thậm chí không thử xem kết quả có hợp lý hay không!
Why Shouldn’t One Take Things Not “Belonging to Oneself”?
Vì Sao Không Nên Xem Những Thứ “Không Thuộc Về Mình” Là Của Mình?
- The deeper explanation is that nothing in this world (including one’s own physical body) truly belongs to “oneself,” and thus, one will not have control over such things. Even one’s own physical body (and, in general, the five aggregates) arises due to causes and conditions (Paṭicca Samuppāda.) Can we stop our bodies from aging, for example? No. A puthujjana (average human) tends to think of the physical body as “their own,” but that is only an illusion.
Lời giải thích sâu hơn là không có gì trong thế gian này (kể cả thân thể vật lý của chính mình) thật sự “thuộc về mình,” và do đó người ta không có quyền kiểm soát chúng. Ngay cả thân thể vật lý của chính mình (và nói chung là năm uẩn) cũng sinh khởi do các nhân và duyên (Paṭicca Samuppāda). Ví dụ, chúng ta có thể ngăn thân mình khỏi già đi không? Không. Một puthujjana (người bình thường) có xu hướng nghĩ thân thể vật lý là “của mình,” nhưng đó chỉ là một ảo tưởng.
- That aspect is described in another version of Natumhāka Sutta: “WebLink: suttacentral: Natumhāka Sutta (SN 12.37).”
Khía cạnh đó được mô tả trong một phiên bản khác của Natumhāka Sutta: “WebLink: suttacentral: Natumhāka Sutta (SN 12.37).”
- The English translation there is not as bad as in the previous case. However, it does not explain the concepts involved.
Bản dịch tiếng Anh ở đó không tệ như trường hợp trước. Tuy nhiên, nó không giải thích các khái niệm liên quan.
- Further explanations are in other versions of Natumhāka Sutta: “WebLink: suttacentral: Paṭhamanatumhāka Sutta (SN 35.101)” and “WebLink: suttacentral: Dutiyanatumhāka Sutta (SN 35.102).”
Các giải thích sâu hơn có trong những phiên bản khác của Natumhāka Sutta: “WebLink: suttacentral: Paṭhamanatumhāka Sutta (SN 35.101)” và “WebLink: suttacentral: Dutiyanatumhāka Sutta (SN 35.102).”
Those two suttās go into even more detail and point out that it is not wise to take anything internal (normally taken as one’s own, like one’s eyes, ears, different types of viññāṇa, etc.) as “one’s own.”
Hai sutta đó đi vào chi tiết hơn nữa và chỉ ra rằng không khôn ngoan khi xem bất cứ điều gì bên trong (thường được xem là của mình, như mắt, tai, các loại viññāṇa khác nhau, v.v.) là “của mình.”
- I have started discussing those issues in the current series of posts (see the recent update): “Does “Anatta” Refer to a “Self”?”
Tôi đã bắt đầu bàn những vấn đề đó trong loạt bài hiện tại (xem cập nhật gần đây): “Does “Anatta” Refer to a “Self”?”
Absurdities When Translating “Attā” as “Self” Under All Situations
Những Điều Phi Lý Khi Dịch “Attā” Là “Cái Ngã” Trong Mọi Trường Hợp
- In “WebLink: suttacentral: Attavagga,” “Attā hi attano nātho” is translated as “Self is indeed the lord of self”! What does that mean?
Trong “WebLink: suttacentral: Attavagga,” “Attā hi attano nātho” được dịch là “Self is indeed the lord of self”! Điều đó có nghĩa gì?
- The title “Attavagga” is translated there as “The Self.” This does not make sense since there is no “everlasting self” in Buddha Dhamma; see #2 above. The English title should indicate something like “What is Beneficial.” What is beneficial is Nibbāna, not anything in this world.
Tiêu đề “Attavagga” được dịch ở đó là “Cái Ngã.” Điều này không hợp lý vì không có “cái tôi vĩnh hằng” trong Dhamma của Đức Phật; xem mục #2 trên. Tiêu đề tiếng Anh đúng nên mang nghĩa như “Điều Gì Là Có Lợi.” Điều có lợi là Nibbāna, chứ không phải bất cứ điều gì trong thế gian này.
- That section of the Dhammapada is about what is “beneficial” (of the “atta” nature; the deeper meaning) for oneself (“attā” with the mundane meaning.)
Phần đó của Dhammapada nói về điều gì là “có lợi” (thuộc bản chất “atta” theo nghĩa sâu) cho chính mình (“attā” theo nghĩa thông thường).
- Therefore, throughout those verses, both meanings must be used correctly. I have explained the meaning of verse 160 in the post “Atta Hi Attano Natho.”
Vì vậy, xuyên suốt các câu kệ đó, cả hai nghĩa phải được sử dụng đúng cách. Tôi đã giải thích ý nghĩa của câu kệ 160 trong bài “Atta Hi Attano Natho.”
- There are four translations in that Sutta Central post; the other three translations are better but still do not provide the full meaning. See, for example, WebLink: suttacentral: Dhp 157–166: Attavagga—Bhante Suddhāso (suttacentral.net)
Có bốn bản dịch trong bài đăng trên Sutta Central; ba bản còn lại tốt hơn nhưng vẫn chưa truyền tải đầy đủ ý nghĩa. Xem, ví dụ, WebLink: suttacentral: Dhp 157–166: Attavagga—Bhante Suddhāso (suttacentral.net)
- The main issue is that it is not possible to translate certain verses in the Tipiṭaka word-by-word. There are two main reasons for that: (i) Some Pāli words cannot be translated as a single word to any language. One must understand the meaning of such a word and use the Pāli word. (ii) When a certain word has a “double meaning,” the translator must know the usage of both meanings.
Vấn đề chính là không thể dịch một số câu trong Tipiṭaka theo kiểu từng từ một. Có hai lý do chính: (i) Một số từ Pāli không thể được dịch sang bất kỳ ngôn ngữ nào chỉ bằng một từ đơn lẻ. Người dịch phải hiểu ý nghĩa của từ đó và giữ nguyên từ Pāli. (ii) Khi một từ có “hai nghĩa,” người dịch phải biết cách sử dụng đúng cả hai nghĩa đó.
- I have discussed that in a separate section since this problem is a common occurrence, especially in current English translations: “Elephant in the Room 1 – Direct Translation of the Tipiṭaka.”
Tôi đã bàn vấn đề đó trong một mục riêng vì đây là hiện tượng phổ biến, đặc biệt trong các bản dịch tiếng Anh hiện nay: “Elephant in the Room 1 – Direct Translation of the Tipiṭaka.”
- While “attā” has the mundane meaning of a “person” or “self,” that meaning is never associated with “atta” (with a short “a.”)
Trong khi “attā” có nghĩa thông thường là “một người” hay “cái ngã,” thì nghĩa đó không bao giờ gắn với “atta” (với nguyên âm “a” ngắn).
- Furthermore, the negation of “attā” as “no-self” is never used in the suttās as “anattā” (“na” + “attā”)
Hơn nữa, sự phủ định của “attā” theo nghĩa “vô ngã” không bao giờ được dùng trong các kinh dưới dạng “anattā” (“na” + “attā”).
- That negation usage is there only as “anatta” or “anattā” in relation to anicca and dukkha in Tilakkhaṇa. There, anicca, dukkha, and anatta describe the unsatisfactory/dangerous nature of worldly existences. Let us discuss that now.
Cách dùng phủ định đó chỉ xuất hiện dưới dạng “anatta” hoặc “anattā” trong mối liên hệ với anicca và dukkha trong Tilakkhaṇa. Ở đó, anicca, dukkha và anatta mô tả bản chất bất toại nguyện/nguy hiểm của các sự tồn tại trong thế gian. Bây giờ chúng ta hãy bàn về điều đó.
Atta/Anatta and Attā/Anattā are About Tilakkhaṇa
Atta/Anatta và Attā/Anattā Liên Quan Đến Tilakkhaṇa
- There is a series of suttās “WebLink: suttacentral: Anicca Sutta (SN 22.12),” “WebLink: suttacentral: Dukkha Sutta (SN 22.13),” “WebLink: suttacentral: Anatta Sutta (SN 22.14),” and “WebLink: suttacentral: Yadanicca Sutta (SN 22.15),” that clearly show the deeper meaning of anatta in relation to the anicca and dukkha nature of the world. There are more suttās in that series that go into further detail.
Có một loạt sutta gồm “WebLink: suttacentral: Anicca Sutta (SN 22.12),” “WebLink: suttacentral: Dukkha Sutta (SN 22.13),” “WebLink: suttacentral: Anatta Sutta (SN 22.14),” và “WebLink: suttacentral: Yadanicca Sutta (SN 22.15),” trình bày rõ ý nghĩa sâu xa của anatta trong mối liên hệ với bản chất anicca và dukkha của thế gian. Còn nhiều sutta khác trong loạt này đi vào chi tiết hơn.
- The first sutta (SN 22.12) says, “rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccaṁ” meaning “Bhikkhus, rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa are all of anicca Attachment to them will not lead to permanent happiness (i.e., absence of suffering).” The next verse says, “Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati” or “Seeing this, a learned noble disciple will start losing cravings for them.”
Sutta đầu tiên (SN 22.12) nói: “rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccaṁ,” nghĩa là: “Này các bhikkhu, rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa đều có bản chất anicca. Dính mắc vào chúng sẽ không dẫn đến hạnh phúc bền vững (tức là sự vắng mặt của khổ).” Câu tiếp theo nói: “Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati,” tức là: “Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp sẽ bắt đầu nhàm chán và giảm dần sự tham đắm đối với chúng.”
- The second sutta (SN 22.13) repeats the same verses, saying, rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa are all of dukkha nature (i.e., they lead to suffering), and thus, a learned noble disciple will start losing cravings for them.
Sutta thứ hai (SN 22.13) lặp lại các câu tương tự, nói rằng rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa đều có bản chất dukkha (tức là dẫn đến khổ), và do đó một vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp sẽ bắt đầu giảm dần sự tham đắm đối với chúng.
- The third sutta (SN 22.14) repeats the same verses, saying, rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa are all of anatta (worthless/unfruitful) nature, and thus, a learned noble disciple will start losing cravings for them. Both “atta” and “attā” are used in the context of Tilakkhaṇa to discuss whether this world of 31 realms can be of benefit or for the permanent removal of suffering. In those cases, “anatta” (“na” + “atta”) and “anattā” (“na” + “attā”) indicate the negation of the two terms respectively.
Sutta thứ ba (SN 22.14) cũng lặp lại các câu ấy, nói rằng rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa đều có bản chất anatta (vô giá trị/không mang lại kết quả rốt ráo), và do đó một vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp sẽ bắt đầu giảm dần sự tham đắm đối với chúng. Cả “atta” và “attā” được dùng trong ngữ cảnh Tilakkhaṇa để bàn về việc thế giới 31 cõi này có thể mang lại lợi ích hay có thể giúp đoạn tận khổ đau vĩnh viễn hay không. Trong những trường hợp đó, “anatta” (“na” + “atta”) và “anattā” (“na” + “attā”) lần lượt chỉ sự phủ định của hai thuật ngữ ấy.
- Then, the fourth sutta (SN 22.15) points to the relationship among them: “Rūpa is of anicca Attachment to them leads to suffering. Therefore, they are of anatta (worthless/unfruitful) nature.” Then, it is repeated for the other four aggregates:
Sau đó, sutta thứ tư (SN 22.15) chỉ ra mối liên hệ giữa chúng: “Rūpa có bản chất anicca. Dính mắc vào chúng dẫn đến khổ. Do đó, chúng có bản chất anatta (vô giá trị/không mang lại kết quả rốt ráo).” Rồi điều đó được lặp lại cho bốn uẩn còn lại:
“Vedanā is of anicca nature. Attachment to them leads to suffering. Therefore, they are of anatta (worthless/unfruitful) nature.”
“Vedanā có bản chất anicca. Dính mắc vào chúng dẫn đến khổ. Do đó, chúng có bản chất anatta (vô giá trị/không mang lại kết quả rốt ráo).”
“Saññā is of anicca nature. Attachment to them leads to suffering. Therefore, they are of anatta (worthless/unfruitful) nature.”
“Saññā có bản chất anicca. Dính mắc vào chúng dẫn đến khổ. Do đó, chúng có bản chất anatta (vô giá trị/không mang lại kết quả rốt ráo).”
“Saṅkhārā is of anicca nature. Attachment to them leads to suffering. Therefore, they are of anatta (worthless/unfruitful) nature.”
“Saṅkhārā có bản chất anicca. Dính mắc vào chúng dẫn đến khổ. Do đó, chúng có bản chất anatta (vô giá trị/không mang lại kết quả rốt ráo).”
“Viññāṇa is of anicca nature. Attachment to them leads to suffering. Therefore, they are of anatta (worthless/unfruitful) nature.”
“Viññāṇa có bản chất anicca. Dính mắc vào chúng dẫn đến khổ. Do đó, chúng có bản chất anatta (vô giá trị/không mang lại kết quả rốt ráo).”
Absurdity of the Wrong Translations of Anicca and Anatta
Sự Phi Lý Trong Các Bản Dịch Sai Về Anicca và Anatta
- The English translation in the “WebLink: suttacentral: Yadanicca Sutta (SN 22.15)” states (describing the relationship among anicca, dukkha, and anatta): “Form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self.” Then, it is repeated for the other four aggregates:
Bản dịch tiếng Anh trong “WebLink: suttacentral: Yadanicca Sutta (SN 22.15)” viết (mô tả mối liên hệ giữa anicca, dukkha và anatta): “Sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì là khổ thì không phải là tự ngã.” Sau đó, điều này được lặp lại cho bốn uẩn còn lại:
“Feeling is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self.”
“Thọ là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì là khổ thì không phải là ngã.”
“Perception is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self.”
“Tưởng là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì là khổ thì không phải là ngã.”
“Choices are impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self.”
“Hành là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì là khổ thì không phải là ngã.”
“Consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self.”
“Thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì là khổ thì không phải là ngã.”
- Of course, all those five entities are impermanent; anyone can see that, but only a Buddha can discover the anicca
Dĩ nhiên, cả năm yếu tố đó đều vô thường; ai cũng có thể thấy điều đó, nhưng chỉ có một vị Phật mới khám phá ra bản chất anicca theo nghĩa sâu xa của nó.
- The next part, “What’s impermanent is suffering,” is not even true in the mundane sense (e.g., a headache leads to more suffering if it becomes permanent!)
Phần tiếp theo, “Cái gì vô thường thì là khổ,” thậm chí còn không đúng theo nghĩa thông thường (ví dụ, một cơn đau đầu nếu trở thành thường hằng thì sẽ dẫn đến khổ nhiều hơn!)
- Finally, does it make any sense to say, “What’s suffering is not-self”?
Cuối cùng, có hợp lý không khi nói: “Cái gì là khổ thì là không-self”?
Further details at “Anatta – A Systematic Analysis”
Chi tiết thêm xem tại “Anatta – A Systematic Analysis”
