Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi – A Critical Verse / Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi – Một Câu Kệ Then Chốt

September 22, 2023; revised #1 March 14, 2024

Ngày 22/09/2023; chỉnh sửa lần 1 ngày 14/03/2024

Aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” is a verse that succinctly states the unfruitfulness of pursuing sensory pleasures. Understanding its true meaning can get one to the Sotāpanna stage of Nibbāna.

“Aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” là một câu kệ cô đọng nêu rõ tính không mang lại kết quả của việc theo đuổi lạc thú giác quan. Hiểu được ý nghĩa chân thật của câu này có thể đưa một người đến bậc Sotāpanna của Nibbāna.

Anicca Nature – Connection to the Five Aggregates

Bản Chất Anicca – Liên Hệ Với Năm Uẩn

  1. In the previous post, “Anicca Nature – Chasing Worldly Pleasures Is Pointless,” we discussed that average humans who have not understood Buddha’s teachings have only one option to overcome disliked sensory experiences or depressing situations: They seek more sensory pleasures.

Trong bài trước, “Anicca Nature – Chasing Worldly Pleasures Is Pointless,” chúng ta đã bàn rằng những người bình thường chưa hiểu giáo pháp của Đức Phật chỉ có một lựa chọn để vượt qua những trải nghiệm giác quan khó chịu hoặc hoàn cảnh gây buồn chán: họ tìm kiếm thêm lạc thú giác quan.

  • However, as pointed out there, the Buddha has explained a previously unknown option. There is a “suffering-free pure mind” hidden underneath our defiled minds. When we seek worldly/sensory pleasures, our actions tend to conceal the “pure mind” further.

Tuy nhiên, như đã nêu ở đó, Đức Phật đã chỉ ra một lựa chọn chưa từng được biết đến trước đây. Có một “tâm trong sáng không còn khổ đau” ẩn dưới tâm bị ô nhiễm của chúng ta. Khi ta tìm kiếm lạc thú thế gian/giác quan, hành động của ta có xu hướng che phủ “tâm trong sáng” ấy sâu hơn nữa.

  • Thus, we concluded that seeking sensory pleasures, like building sandcastles, is unproductive. Even though children enjoy building sandcastles, growing up, they realize it is unproductive. So, they voluntarily give up that and focus on productive activities like studying or learning a specific trade. Building sandcastles is of “anicca nature,” meaning it is unproductive. The Buddha discussed this analogy in the “WebLink: suttacentral: Satta Sutta (SN 23.2).” In the same way, chasing sensory pleasures is an unproductive (and also dangerous) activity, as we will discuss in this series of posts.

Vì vậy, chúng ta kết luận rằng việc tìm kiếm lạc thú giác quan, giống như xây lâu đài cát, là không mang lại kết quả. Dù trẻ em thích xây lâu đài cát, khi lớn lên chúng nhận ra đó là việc không có ích. Do đó, chúng tự nguyện từ bỏ và tập trung vào những hoạt động có ích như học tập hoặc học một nghề cụ thể. Xây lâu đài cát mang “bản chất anicca,” nghĩa là không sinh lợi ích lâu dài. Đức Phật đã nói đến ví dụ này trong “WebLink: suttacentral: Satta Sutta (SN 23.2).” Tương tự như vậy, việc chạy theo lạc thú giác quan là một hoạt động không mang lại kết quả (và còn nguy hiểm), như chúng ta sẽ bàn trong loạt bài này.

  • The Buddha described how we move away from the “pure mind” when we seek sensory pleasures. Let us discuss that now. The Buddha described sensory experiences in terms of five aggregates (pañcakkhandha.) He explained that attaching to sensory experiences is the same as craving/upādāna for pañcakkhandha, i.e., craving sensory pleasures is the same as pañcupādānakkhandha.

Đức Phật đã mô tả cách chúng ta rời xa “tâm trong sáng” khi tìm kiếm lạc thú giác quan. Bây giờ hãy bàn về điều đó. Đức Phật mô tả các trải nghiệm giác quan theo năm uẩn (pañcakkhandha.) Ngài giải thích rằng dính mắc vào các trải nghiệm giác quan cũng chính là tham ái/upādāna đối với pañcakkhandha, tức là tham ái lạc thú giác quan cũng chính là pañcupādānakkhandha.

Each Sensory Contact Adds to the “Five Aggregates” (Pañcakkhandha)

Mỗi Sự Xúc Chạm Giác Quan Làm Gia Tăng “Năm Uẩn” (Pañcakkhandha)

  1. Each sensory experience involves two types of rūpa: an external rūpa (like a visual or a “vaṇṇa rūpa”) and an internal rūpa (like “cakkhu pasāda rūpa”; it is not physical eyes that actually “see.”) There are six such pairs.

Mỗi trải nghiệm giác quan bao gồm hai loại rūpa: một rūpa bên ngoài (như hình sắc hay “vaṇṇa rūpa”) và một rūpa bên trong (như “cakkhu pasāda rūpa”; không phải chính đôi mắt vật lý là thứ thực sự “thấy.”) Có sáu cặp như vậy.

  • In a sensory event, an external rūpa comes into contact with an internal rūpa at hadaya vatthu (seat of the mind.) That leads to the rise of a number of mental phenomena: vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa. Briefly, vedanā is the sukha, dukkha, or neutral “feeling;” saññā is the recognition of the sense object; saṅkhāra includes a variety of mental factors (cetasika) that arise in the mind; viññāṇa is the totality of all those mental phenomena and also a possible expectation regarding the sensory input (whether to seek more or to avoid it.)

Trong một sự kiện giác quan, một rūpa bên ngoài tiếp xúc với một rūpa bên trong tại hadaya vatthu (nơi trú của tâm.) Điều đó dẫn đến sự sinh khởi của nhiều hiện tượng tâm: vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa. Tóm lược, vedanā là cảm thọ sukha, dukkha hoặc trung tính; saññā là sự nhận biết đối tượng giác quan; saṅkhāra bao gồm nhiều tâm sở (cetasika) khởi lên trong tâm; viññāṇa là tổng thể của tất cả các hiện tượng tâm đó và cũng bao gồm một khuynh hướng phản ứng đối với kích thích giác quan (tìm kiếm thêm hay tránh né.)

  • Those five entities — rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa — are traditionally called the five aggregates (pañcakkhandha.) Here, they are called “aggregates” or “collections” (khandha) because the mind is not only aware of those entities arising at a given moment but also 11 types of them, including past experiences of them. Thus, pañcakkhandha (more correctly, pañcupādānakkhandha) provides a measure of our attachment to sensory inputs.

Năm yếu tố đó — rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa — theo truyền thống được gọi là năm uẩn (pañcakkhandha.) Ở đây, chúng được gọi là “uẩn” hay “tập hợp” (khandha) vì tâm không chỉ nhận biết những yếu tố đang sinh khởi trong khoảnh khắc hiện tại mà còn mười một loại của chúng, bao gồm cả những kinh nghiệm trong quá khứ. Do đó, pañcakkhandha (chính xác hơn là pañcupādānakkhandha) phản ánh mức độ chấp thủ của chúng ta đối với các kích thích giác quan.

  • We can also look at it in a slightly different way as follows.

Chúng ta cũng có thể nhìn vấn đề này theo một cách hơi khác như sau.

  1. We experience pleasure/joy or displeasure/pain with thoughts, and thoughts arise with sensory input (ārammaṇa.) Thoughts arise when an internal rūpa comes into contact with an external rūpa. The “rūpa aggregate” encompasses those two kinds of rūpa ever experienced (in the sense that even though we don’t recall all of them, our current state of mind is influenced by them.) Thoughts encompass how we understand the external world, i.e., our sensory experiences.

Chúng ta trải nghiệm khoái lạc/niềm vui hoặc khó chịu/đau khổ thông qua các ý nghĩ, và các ý nghĩ khởi lên cùng với kích thích giác quan (ārammaṇa.) Ý nghĩ sinh khởi khi một rūpa bên trong tiếp xúc với một rūpa bên ngoài. “Rūpa uẩn” bao hàm cả hai loại rūpa đã từng được trải nghiệm (theo nghĩa là dù chúng ta không nhớ hết, trạng thái tâm hiện tại vẫn chịu ảnh hưởng bởi chúng.) Các ý nghĩ bao gồm cách chúng ta hiểu thế giới bên ngoài, tức là các trải nghiệm giác quan của mình.

  • The “mental factors” (cetasika) that arise with our thoughts embed multiple facets of each experience. We feel a sensory input (vedanā), recognize and form our perceptions about it (saññā), and then “mind-made vedanā” (saṁphassa-jā-vedanā) arise based on those initial vedanā and saññā. That is the basis of the vedanā and saññā aggregates (vedanākkhandha and saññākkhandha.)

Các “tâm sở” (cetasika) sinh khởi cùng với ý nghĩ của chúng ta bao hàm nhiều khía cạnh của mỗi trải nghiệm. Chúng ta cảm nhận một kích thích giác quan (vedanā), nhận biết và hình thành tri giác về nó (saññā), rồi “vedanā do tâm tạo” (saṁphassa-jā-vedanā) sinh khởi dựa trên những vedanā và saññā ban đầu đó. Đó là nền tảng của vedanā uẩn và saññā uẩn (vedanākkhandha và saññākkhandha.)

  • Various other mental factors (like greed, joy, anger, etc.) arise based on vedanā and saññā, and the saṅkhāra aggregate (saṅkhārakkhandha) represents those.

Nhiều tâm sở khác (như tham, hỷ, sân, v.v.) sinh khởi dựa trên vedanā và saññā, và saṅkhāra uẩn (saṅkhārakkhandha) biểu trưng cho những yếu tố đó.

  • The total sensory experience is viññāṇa; it also includes our expectations regarding what we experience. That is the fifth aggregate of viññāṇakkhandha.

Tổng thể trải nghiệm giác quan là viññāṇa; nó cũng bao gồm những mong đợi của chúng ta đối với điều đang trải nghiệm. Đó là uẩn thứ năm, viññāṇakkhandha.

Each Sensory Experience Helps Hide the “Pure Mind” or “Pabhassara Citta

Mỗi Trải Nghiệm Giác Quan Đều Góp Phần Che Phủ “Tâm trong sáng” hay “Pabhassara Citta”

  1. If we attach to any sensory input (ārammaṇa), we start accumulating saṅkhāra (or abhisaṅkhāra.) That means “kamma

Nếu chúng ta dính mắc vào bất kỳ kích thích giác quan nào (ārammaṇa), chúng ta bắt đầu tích lũy saṅkhāra (hay abhisaṅkhāra.) Điều đó có nghĩa là “tích lũy kamma.”

  • That strengthens our saṁsāric bonds (saṁyojana) and hidden defilements (anusaya.)

Điều đó làm mạnh thêm các trói buộc luân hồi (saṁyojana) và các ô nhiễm tiềm ẩn (anusaya.)

  • Even if they don’t accumulate significant kamma or add to saṁyojana or anusaya, an average person (puthujjana) can NEVER start “cleansing existing defilements.”

Ngay cả khi không tích lũy kamma đáng kể hay không làm tăng thêm saṁyojana hoặc anusaya, một người bình thường (puthujjana) cũng KHÔNG BAO GIỜ có thể bắt đầu “thanh lọc các ô nhiễm hiện có.”

  • To put it another way: A puthujjana ALWAYS moves in one direction, away from the “pure mind” or Nibbāna, sometimes slowly and other times faster, depending on the level of attachment to sensory inputs. In Pāli, this is called “ācayagāmi (pronounced “aachayagaami”) or “moving away from Nibbāna.”

Nói cách khác: Một puthujjana LUÔN di chuyển theo một hướng, rời xa “tâm trong sáng” hay Nibbāna, khi chậm khi nhanh tùy theo mức độ dính mắc vào các kích thích giác quan. Trong tiếng Pāli, điều này được gọi là “ācayagāmi” (phát âm “aachayagaami”), nghĩa là “đi xa khỏi Nibbāna.”

  • One can go the other way (apacayagāmi; pronounced “apachayagaami”; see 1) only when one becomes a Noble Person (Ariya) and starts following the Noble Path.

Chỉ khi trở thành một bậc Thánh (Ariya) và bắt đầu thực hành Thánh Đạo, người ta mới có thể đi theo hướng ngược lại (apacayagāmi; phát âm “apachayagaami”; xem Tài liệu tham khảo 1.)

  • The Buddha gave an analogy in several suttās: A flood (“ogha” in Pāli) will carry a person away from refuge. A puthujjana (an average human) is like that helpless person, getting carried away by the “flood” or the saṁsāric When one becomes at least a Sotāpanna Anugāmi, one can start seeing how to go against the flood and reach safety. See, for example, “WebLink: suttacentral: Oghapañhā Sutta (SN 38.11).”

Đức Phật đã đưa ra một ví dụ trong nhiều sutta: Một trận lũ (“ogha” trong tiếng Pāli) sẽ cuốn một người rời khỏi nơi an toàn. Một puthujjana (phàm phu) giống như người bất lực ấy, bị cuốn trôi bởi “dòng lũ” hay hành trình saṁsāra. Khi ít nhất trở thành Sotāpanna Anugāmi, người ta mới bắt đầu thấy cách đi ngược dòng lũ để đến nơi an toàn. Xem, ví dụ, “WebLink: suttacentral: Oghapañhā Sutta (SN 38.11).”

Adding to the Pañcakkhandha Is of “Anicca Nature”

Việc Gia Tăng Pañcakkhandha Mang “Bản Chất Anicca”

  1. Therefore, it should be clear by now the following fact: Each time one attaches to a sensory input (ārammaṇa), that only helps one move AWAY from the suffering-free “pure mind” or the “pabhassara citta.” Any action or anything that causes one to move away from the ultimate release from suffering is unfruitful, i.e., of “anicca nature,” just as building sand castles is!

Vì vậy, đến đây điều sau hẳn đã rõ: Mỗi lần một người dính mắc vào một kích thích giác quan (ārammaṇa), điều đó chỉ khiến họ đi XA hơn khỏi “tâm trong sáng” không còn khổ đau hay “pabhassara citta.” Bất kỳ hành động hay điều gì khiến một người rời xa sự giải thoát tối hậu khỏi khổ đau đều không mang lại kết quả, tức là mang “bản chất anicca,” giống như việc xây lâu đài cát vậy!

  • If one can understand that, one would have made significant progress in reaching the Sotāpanna Anugāmi

Nếu có thể hiểu được điều đó, người ấy đã đạt được bước tiến quan trọng trên con đường đến bậc Sotāpanna Anugāmi.

  • In numerous suttās, you have probably seen the Buddha asking a bhikkhu the following question: cakkhuṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā” ti? The correct translation of that verse is: “Is the eye (cakkhu) of nicca or anicca nature?” Then, the question is repeated for the other five sense elements: ear (sota), nose (ghāna), tongue (jivhā), body (kāya), and mind (mano.) See, for example, “WebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 18.1).” (Note: The English translation in the link is incorrect, as is the case with many critical translations at Sutta Central and generally with most English translations.)

Trong nhiều sutta, có lẽ bạn đã thấy Đức Phật hỏi một vị bhikkhu câu hỏi sau: “cakkhuṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā” ti?” Bản dịch đúng của câu này là: “Con mắt (cakkhu) có bản chất nicca hay anicca?” Sau đó, câu hỏi được lặp lại đối với năm căn còn lại: tai (sota), mũi (ghāna), lưỡi (jivhā), thân (kāya) và ý (mano.) Xem, ví dụ, “WebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 18.1).” (Lưu ý: Bản dịch tiếng Anh trong đường dẫn đó là không chính xác, cũng như nhiều bản dịch quan trọng tại Sutta Central và nói chung trong phần lớn các bản dịch tiếng Anh.)

Tùy theo sutta, câu hỏi tương tự cũng có thể được đặt ra đối với các rūpa bên ngoài tương ứng (rūpa, sadda, gandha, rasa, phoṭṭhabba, dhammā); xem, ví dụ, “WebLink: suttacentral: Rūpa Sutta (SN 18.2).”

  • In other suttās, the question is asked of the five aggregates (rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa); see, for example, “WebLink: suttacentral: Anicca Sutta (SN 22.12).” Here, all six types of rūpa are bundled under “rūpa” (i.e., the rūpa aggregate or rūpakkhandha), and the same is true for the other four aggregates.

Trong các sutta khác, câu hỏi được đặt ra đối với năm uẩn (rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa); xem, ví dụ, “WebLink: suttacentral: Anicca Sutta (SN 22.12).” Ở đây, cả sáu loại rūpa được gộp chung dưới “rūpa” (tức là rūpa uẩn hay rūpakkhandha), và điều tương tự cũng áp dụng cho bốn uẩn còn lại.

  • The point here is that every time we attach to a sensory input not only the internal and external rūpa come into play, but the pañcupādānakkhandha grows too — in the “ācayagāmi” or the “wrong direction” away from Nibbāna.

Điểm cốt lõi ở đây là mỗi lần chúng ta dính mắc vào một kích thích giác quan, không chỉ rūpa bên trong và bên ngoài tham dự, mà pañcupādānakkhandha cũng tăng trưởng — theo hướng “ācayagāmi” hay “hướng sai lạc,” rời xa Nibbāna.

Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi – Correct Meaning

Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi – Ý Nghĩa Đúng

  1. The “WebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 25.1)” explains how understanding the above leads to the Sotāpanna It is a short sutta; we can cover its key points.

WebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 25.1)” giải thích cách việc hiểu những điều trên dẫn đến bậc Sotāpanna. Đây là một sutta ngắn; chúng ta có thể điểm qua những ý chính.

The Buddha says: “Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” which is INCORRECTLY translated in the above link as “Mendicants, the eye is impermanent, decaying, and perishing.” Then, the verse is repeated for sota, ghāna, jivhā, kāya, and mano, the other types of sense faculties or “internal rūpa.“

Đức Phật dạy: “Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi,” nhưng trong đường dẫn trên lại bị dịch SAI thành: “Này các Tỷ-kheo, con mắt là vô thường, suy hoạitiêu vong.” Sau đó, câu kệ được lặp lại đối với sota, ghāna, jivhā, kāya và mano, tức các căn khác hay “rūpa nội tại.”

  • The correct interpretation can be understood by seeing that any time cakkhu (eye) is used to enjoy sensory pleasures (as a puthujjana), one moves away from Nibbāna or is carried by the “flood” away from the refuge, as explained in #4.

Cách hiểu đúng có thể nắm được khi thấy rằng bất cứ khi nào cakkhu (con mắt) được sử dụng để hưởng thụ lạc thú giác quan (như một puthujjana), người ấy đang rời xa Nibbāna hoặc bị “dòng lũ” cuốn khỏi nơi nương tựa, như đã giải thích ở mục #4.

  • Using eyes to enjoy sensory pleasures is like building sandcastles for a “fleeting momentary pleasure,” i.e., it is an unproductive activity. That is the meaning of “aniccaṁ” in that verse.

Việc dùng mắt để hưởng thụ lạc thú giác quan giống như xây lâu đài cát để có “niềm vui thoáng qua nhất thời,” tức là một hoạt động không mang lại kết quả lâu dài. Đó chính là ý nghĩa của “aniccaṁ” trong câu kệ ấy.

  • Vipariṇāma is the opposite of pariṇāma. Let us understand the meanings of those two words. In English, evolution (pariṇāma) means the time progression of something where it gets better with time. For example, Darwin’s “theory of evolution” (“pariṇāma vāda” in Pāli/Sinhala) says monkeys progressed with time to become humans. Vipariṇāma is the opposite of evolution (devolution), where things move in the wrong/opposite direction with time. When one uses the eyes to enjoy sensory pleasures, one moves away from Nibbāna.

Vipariṇāma là đối nghĩa của pariṇāma. Hãy hiểu ý nghĩa của hai từ này. Trong tiếng Anh, evolution (pariṇāma) nghĩa là sự tiến hóa theo thời gian, nơi sự vật trở nên tốt hơn theo thời gian. Ví dụ, “thuyết tiến hóa” của Darwin (“pariṇāma vāda” trong Pāli/Sinhala) cho rằng loài khỉ đã tiến hóa dần thành con người. Vipariṇāma là điều ngược lại với tiến hóa (thoái hóa), nơi sự vật đi theo chiều hướng sai lạc/ngược lại theo thời gian. Khi một người dùng mắt để hưởng thụ lạc thú giác quan, người ấy đang rời xa Nibbāna.

  • Aññathābhāvi means “to move away from its natural/preferred state,” whereas “aññatha” means “deviate for the worse” and is the opposite of “ittha” or the “stable state of Nibbāna.” In many suttās, the following verse indicates attaining the Arahanthood: “Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā” ti abbhaññāsi.” See, for example, “WebLink: suttacentral: Dutiyaanuruddha Sutta (AN 3.130).” .” Thus, aññathābhāvi is the opposite of “itthattāya” and has a very similar meaning to “vipariṇāmi.”

Aññathābhāvi nghĩa là “di chuyển rời khỏi trạng thái tự nhiên/ưu thích của nó,” trong khi “aññatha” nghĩa là “lệch hướng theo chiều xấu đi” và đối lập với “ittha” hay “trạng thái ổn định của Nibbāna.” Trong nhiều sutta, câu kệ sau biểu thị sự chứng đắc quả vị Arahant: “Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā” ti abbhaññāsi.” Xem, ví dụ, “WebLink: suttacentral: Dutiyaanuruddha Sutta (AN 3.130).” Vì vậy, aññathābhāvi đối lập với “itthattāya” và có ý nghĩa rất gần với “vipariṇāmi.”

  • Therefore, the correct meaning of that verse, stated very briefly, is: “Bhikkhus, using cakkhu to achieve sensory pleasures is like building sand castles; thus cakkhu is of anicca nature; it will take you away from Nibbāna (the pure mind) and toward more suffering (on a downward path).”

Do đó, ý nghĩa đúng của câu kệ ấy, nói ngắn gọn, là: “Này các bhikkhu, việc sử dụng cakkhu để đạt được lạc thú giác quan giống như xây lâu đài cát; vì vậy cakkhu mang bản chất anicca; nó sẽ đưa các ông rời xa Nibbāna (tâm trong sáng) và hướng về nhiều khổ đau hơn (trên con đường đi xuống).”

  • We must never forget that if we don’t start “moving TOWARD Nibbāna” or become apacayagāmi (see #4),” future rebirth in an apāya remains open.

Chúng ta không bao giờ được quên rằng nếu không bắt đầu “di chuyển HƯỚNG VỀ Nibbāna” hay trở thành apacayagāmi (xem mục #4), thì khả năng tái sinh trong một apāya ở tương lai vẫn còn rộng mở.

  1. The suttās SN 25.2 through SN 25.9 repeat the same verse for various entities that arise in a sensory contact: each of the following entities that arise in such sensory contacts: rūpa, viññāṇa, phassa (saṁphassa), vedanā, saññā, cetanā, taṇhā, and dhātu. The last sutta in the series (SN 25.10) makes a summary by repeating the verse for the five aggregates: rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa.

Các sutta từ SN 25.2 đến SN 25.9 lặp lại cùng một câu kệ cho nhiều yếu tố sinh khởi trong một sự tiếp xúc giác quan: từng yếu tố sau đây phát sinh trong các sự tiếp xúc ấy: rūpa, viññāṇa, phassa (saṁphassa), vedanā, saññā, cetanā, taṇhā và dhātu. Sutta cuối trong loạt này (SN 25.10) tóm lược bằng cách lặp lại câu kệ cho năm uẩn: rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa.

  • That critical error in translating the key verse in #6 appears in almost all conventional English translations. Unless explained by a Noble Person, that interpretation makes sense for the average human (puthujjana) who has not heard the correct explanation.

Lỗi nghiêm trọng trong việc dịch câu kệ then chốt ở mục #6 xuất hiện trong hầu hết các bản dịch tiếng Anh thông thường. Nếu không được một bậc Thánh giải thích, cách hiểu đó có vẻ hợp lý đối với một người bình thường (puthujjana) chưa từng nghe lời giải thích đúng đắn.

  • It is essential to realize that most terms discussed in the suttās refer to mental phenomena. When the Buddha discusses “cakkhu,” it is not about the physical eyes but about using the eyes as an “āyatana” (i.e., cakkhāyatana) for enjoying sensory pleasures; same with the other five “internal āyatana.” When referring to the six types of “rūpa,” it is not about external rūpa, but the ‘mind-made versions” of them created by the mind, i.e., rūpāyatana, saddāyatana, gandhāyatana, rasāyatana, phoṭṭhabbāyatana, and manāyatana.

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng phần lớn các thuật ngữ được bàn trong kinh điển đều chỉ các hiện tượng tâm. Khi Đức Phật nói về “cakkhu,” không phải Ngài nói đến đôi mắt vật lý, mà là việc sử dụng mắt như một “āyatana” (tức cakkhāyatana) để hưởng thụ lạc thú giác quan; điều tương tự cũng áp dụng cho năm “āyatana nội tại” còn lại. Khi nói đến sáu loại “rūpa,” không phải là các rūpa bên ngoài, mà là các “phiên bản do tâm tạo” của chúng, tức rūpāyatana, saddāyatana, gandhāyatana, rasāyatana, phoṭṭhabbāyatana và manāyatana.

  • That should be clear from the above series of suttās, which apply the verse in question to strictly mental entities (viññāṇa, phassa (saṁphassa), vedanā, saññā, cetanā, etc.) as well as for the internal and external rūpa.

Điều đó phải rõ ràng qua loạt kinh trên, vốn áp dụng câu kệ đang bàn không chỉ cho các rūpa bên trong và bên ngoài mà còn cho các thực thể hoàn toàn thuộc về tâm như viññāṇa, phassa (saṁphassa), vedanā, saññā, cetanā, v.v.

Incorrect Interpretation of “Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi

Cách Hiểu Sai Về “Aniccaṁ Vipariṇāmi Aññathābhāvi”

  1. In most English translations, the above verse refers to the physical eye or a physical rūpa. Thus, many people think it is about the physical body getting old and dying. For example, the English translation of “WebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 25.1)” discussed in #6 above translates “Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” as “Mendicants, the eye is impermanent, decaying, and perishing.”

Trong phần lớn các bản dịch tiếng Anh, câu kệ trên được hiểu là nói về con mắt vật lý hay một rūpa vật lý. Vì vậy, nhiều người nghĩ rằng nó chỉ nói về thân thể vật lý già đi và chết. Ví dụ, bản dịch tiếng Anh của “WebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 25.1)” được đề cập ở mục #6 dịch “Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” thành “Này các khất sĩ, con mắt là vô thường, suy tàn và hoại diệt.”

  • Most translators mechanically translate the verse for mental attributes such as viññāṇa the same way. For example, in the “WebLink: suttacentral: Viññāṇa Sutta (SN 25.3),” the verse “Cakkhuviññāṇaṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” is translated as “Mendicants, eye-consciousness is impermanent, decaying, and perishing.”

Phần lớn các dịch giả máy móc dịch câu kệ tương tự đối với các thuộc tính tâm như viññāṇa theo cùng một cách. Ví dụ, trong “WebLink: suttacentral: Viññāṇa Sutta (SN 25.3),” câu “Cakkhuviññāṇaṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” được dịch là “Này các khất sĩ, nhãn thức là vô thường, suy tàn và hoại diệt.”

  • However, any viññāṇa rises and perishes (or a physical body is born and dies). Does a Buddha need to explain such an obvious fact?

Tuy nhiên, bất kỳ viññāṇa nào cũng sinh rồi diệt (cũng như thân thể vật lý sinh rồi chết). Một vị Phật có cần phải giải thích một sự thật hiển nhiên như vậy hay không?

Those Who Begin to Understand the Above are, at Minimum, Sotāpanna Anugāmis

Những Người Bắt Đầu Hiểu Được Điều Trên Tối Thiểu Là Sotāpanna Anugāmi

  1. Continuing with theWebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 25.1)the Buddha says:Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ saddahati adhimuccati—ayaṁ vuccati saddhānusārī..” That means, “If someone understands the meaning of that verse (in #6) with faith (based on understanding), then that person is a saddhānusārī.” (Note: Again, the English translation is not entirely clear). Then the Buddha further clarifies: “A saddhānusārī is incapable of any deed which would make them be reborn in hell, the animal realm, or the ghost realm. Also, they will not die without becoming Sotāpannās.”

Tiếp tục với “WebLink: suttacentral: Cakkhu Sutta (SN 25.1),” Đức Phật dạy: “Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ saddahati adhimuccati—ayaṁ vuccati saddhānusārī..” Nghĩa là: “Nếu ai hiểu ý nghĩa của câu kệ đó (ở mục #6) với niềm tin dựa trên sự hiểu biết, thì người ấy được gọi là saddhānusārī.” (Lưu ý: Một lần nữa, bản dịch tiếng Anh chưa hoàn toàn rõ ràng.) Sau đó, Đức Phật giải thích thêm: “Một saddhānusārī không thể thực hiện bất kỳ hành vi nào dẫn đến tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh hay cõi ngạ quỷ. Hơn nữa, họ sẽ không chết mà chưa trở thành Sotāpanna.”

  • In the next verse (at marker 2.1), the Buddha says: “Yassa kho, bhikkhave, ime dhammā evaṁ paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti, ayaṁ vuccati: ‘dhammānusārī..” meaning, “If someone understands the meaning of that verse (in #6) after contemplating with a degree of wisdom, then that person is a dhammānusārī.” Then, the Buddha further clarifies that a dhammānusārī will also become a Sotāpanna before death.

Trong câu kệ kế tiếp (tại mục 2.1), Đức Phật dạy: “Yassa kho, bhikkhave, ime dhammā evaṁ paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti, ayaṁ vuccati: ‘dhammānusārī..” Nghĩa là: “Nếu ai hiểu ý nghĩa của câu kệ đó (ở mục #6) sau khi quán chiếu bằng một mức độ trí tuệ, thì người ấy được gọi là dhammānusārī.” Sau đó, Đức Phật xác nhận rằng một dhammānusārī cũng sẽ trở thành Sotāpanna trước khi qua đời.

  • In the final verse (at marker 2.4), the Buddha states: “Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ pajānāti evaṁ passati, ayaṁ vuccati: ‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano’” ti OR “A Sotāpanna who has fully comprehended the meaning of the above verse is guaranteed to be released from rebirth in the apāyās, and is destined to attain the Arahanthood.”

Trong câu cuối (tại mục 2.4), Đức Phật tuyên bố: “Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ pajānāti evaṁ passati, ayaṁ vuccati: ‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano’” ti HOẶC: “Một Sotāpanna đã hoàn toàn thấu hiểu ý nghĩa của câu kệ trên chắc chắn được giải thoát khỏi tái sinh vào các apāyā và được định hướng đạt đến quả vị Arahant.”

  • I have discussed saddhānusārī and dhammānusārī in the post “Sotāpanna Anugāmi – No More Births in the Apāyā.”

Tôi đã bàn về saddhānusārī và dhammānusārī trong bài “Sotāpanna Anugāmi – No More Births in the Apāyā.”

Understanding the Above Verse Is One Way to Remove Sakkāya Diṭṭhi

Hiểu Câu Kệ Trên Là Một Cách Để Đoạn Trừ Sakkāya Diṭṭhi

  • If one has started comprehending the verse “Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi” then one has seen (with wisdom) that chasing sensory pleasures is an activity of “anicca nature” and will never be able to embark on the Noble Path to go “against the flood” and towards the pure mind. That understanding is the same as the removal of sakkāya diṭṭhi and also the other two saṁyojana of vicikicchā and sīlabbata parāmāsa.

Nếu một người bắt đầu thấu hiểu câu kệ “Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi,” thì người ấy đã thấy (bằng trí tuệ) rằng việc chạy theo lạc thú giác quan là một hoạt động mang “bản chất anicca” và sẽ không bao giờ có thể khởi sự Thánh Đạo để đi “ngược dòng lũ” hướng về tâm trong sáng. Sự hiểu biết đó cũng chính là sự đoạn trừ sakkāya diṭṭhi và đồng thời đoạn trừ hai saṁyojana còn lại là vicikicchā và sīlabbata parāmāsa.

  • There are many ways of getting to the Sotāpanna stage or getting rid of sakkāya diṭṭhi. So, there is no need to worry if you had previously not thought about stating the “anicca nature” as described above. But once explained, it should be understandable if one had already been a Sotāpanna/Sotāpanna Anugāmi.

Có nhiều cách để đạt đến bậc Sotāpanna hay đoạn trừ sakkāya diṭṭhi. Vì vậy, không cần lo lắng nếu trước đây bạn chưa từng nghĩ đến việc trình bày “bản chất anicca” như đã mô tả ở trên. Nhưng một khi đã được giải thích, điều đó sẽ trở nên dễ hiểu nếu người ấy đã là một Sotāpanna hoặc Sotāpanna Anugāmi.

References

Tài liệu tham khảo

  1. Those who are unaware of the unique “Tipiṭaka English” writing format adopted many years ago, see ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1.” The English version of the Tipiṭaka was written in this format in the early 1900s, and that is the version used today in most English websites, including Sutta Central. It is essential to understand how to pronounce Pāli words correctly.

Những ai chưa biết về định dạng viết “Tiếng Anh Tipiṭaka” đặc thù được áp dụng từ nhiều năm trước, hãy xem ““Tipiṭaka English” Convention Adopted by Early European Scholars – Part 1.” Bản tiếng Anh của Tipiṭaka được viết theo định dạng này vào đầu những năm 1900, và đó là phiên bản được sử dụng ngày nay trên hầu hết các trang web tiếng Anh, bao gồm cả Sutta Central. Điều quan trọng là phải hiểu cách phát âm đúng các từ Pāli.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *