February 13, 2018; revised July 3, 2022; October 9, 2022; November 14, 2022 (#7, #11, #13); December 14, 2022; June 12, 2024; last revised May 18, 2025 (#11, added #12)
Ngày 13/02/2018; chỉnh sửa ngày 03/07/2022; ngày 09/10/2022; ngày 14/11/2022 (#7, #11, #13); ngày 14/12/2022; ngày 12/06/2024; chỉnh sửa lần cuối ngày 18/05/2025 (#11, thêm #12)
Nirodha samāpatti and various phala samāpatti are related to Nibbāna. Jhāna and jhāna samāpatti belong to “this world.”
Nirodha samāpatti và các loại phala samāpatti có liên hệ đến Nibbāna. Jhāna và jhāna samāpatti thuộc về “thế gian này”.
Introduction
Giới thiệu
- Nirodha samāpatti and various phala samāpatti are different, and they are very different from jhāna and jhānā samāpatti.
Nirodha samāpatti và các loại phala samāpatti là khác nhau, và chúng rất khác so với jhāna và jhāna samāpatti.
- The first two are related to Nibbāna.
Hai loại đầu có liên hệ đến Nibbāna.
- Jhānā belong to “this world.” Jhānā are the mindsets that rūpāvacara and arūpāvacara Brahmā
Jhānā thuộc về “thế gian này”. Jhānā là các trạng thái tâm mà các Brahmā thuộc rūpāvacara và arūpāvacara trải nghiệm.
- Before starting the discussion, I would like to emphasize the following. The concepts we deal with in this post and that of Nibbāna (Arahanthood, in particular) are virtually impossible to imagine for most people. However, a few people could have studied these concepts in detail and may have some “nagging questions.” Hopefully, this information will be helpful.
Trước khi bắt đầu thảo luận, tôi muốn nhấn mạnh điều sau đây. Các khái niệm được bàn trong bài viết này, cũng như khái niệm về Nibbāna (đặc biệt là quả vị Arahant), hầu như không thể hình dung đối với đa số mọi người. Tuy nhiên, một số ít người có thể đã nghiên cứu kỹ các khái niệm này và vẫn còn những “câu hỏi day dứt”. Hy vọng rằng những thông tin này sẽ hữu ích.
- These concepts are contrary to ideas that normal humans are familiar with. Normal humans crave things in the material world so much that it is almost impossible to rationalize why one would want to stop rebirth (i.e., to attain Arahanthood). Therefore, it is a waste of time to spend too much time thinking about such abstract concepts until one reaches the Sotāpanna stage; these concepts start making sense only when one gets closer to the Anāgāmī
Những khái niệm này đi ngược lại với các ý niệm quen thuộc của con người bình thường. Con người bình thường khao khát các đối tượng vật chất mạnh đến mức gần như không thể lý giải vì sao một người lại muốn chấm dứt tái sinh (tức là chứng quả vị Arahant). Do đó, việc dành quá nhiều thời gian suy nghĩ về các khái niệm trừu tượng như vậy là không cần thiết cho đến khi đạt tầng Sotāpanna; các khái niệm này chỉ bắt đầu trở nên có ý nghĩa khi tiến gần đến tầng Anāgāmī.
- In the same way, it is hard for an average human to imagine how nirodha samāpatti (where all thoughts are stopped) can provide happiness. This is why I have explained in the “Nibbāna” subsection that Nibbānic bliss is NOT a feeling of pleasure (that would involve the vedanā cetasika and thus would belong to this world). It is more like the relief one would feel when a long-lasting migraine headache goes away.
Tương tự, con người bình thường rất khó hình dung làm thế nào nirodha samāpatti (nơi mọi tư duy đều chấm dứt) lại có thể mang lại hạnh phúc. Vì vậy, trong mục “Nibbāna”, tôi đã giải thích rằng hỷ lạc Nibbāna KHÔNG phải là cảm thọ khoái lạc (vì điều đó sẽ liên quan đến vedanā cetasika và do đó vẫn thuộc về thế gian). Nó giống như cảm giác nhẹ nhõm khi một cơn đau nửa đầu kéo dài cuối cùng cũng chấm dứt.
- With that out of the way, let us start the discussion.
Sau khi làm rõ điểm này, chúng ta hãy bắt đầu thảo luận.
Life Maintained by Kammic Energy
Sự sống Được duy trì bởi Năng lực Kamma
- Humans have four types of “kāya”: kammaja, cittaja, utuja, and karaja (or āhāraja) kāya. That last one is our physical body. Such a physical body is absent in rūpāvacara and arūpāvacara
Con người có bốn loại “kāya”: kammaja, cittaja, utuja và karaja (hay āhāraja) kāya. Loại cuối cùng chính là thân vật chất của chúng ta. Thân vật chất như vậy không tồn tại trong các cõi rūpāvacara và arūpāvacara.
- It is essential to remember that life is maintained by kammic energy, not via citta vīthi. Therefore, kammaja kāya is present at ALL TIMES. Kammaja (“kamma” + “ja”) means “created by kamma (vipāka).”
Điều thiết yếu cần ghi nhớ là sự sống được duy trì bởi năng lực kamma, chứ không phải bởi citta vīthi. Vì vậy, kammaja kāya luôn hiện hữu ở MỌI THỜI ĐIỂM. Kammaja (“kamma” + “ja”) có nghĩa là “được tạo ra bởi kamma (vipāka)”.
- The kammaja kāya (hadaya vatthu plus a set of pasāda rūpa) is created at the cuti-paṭisandhi
Kammaja kāya (bao gồm hadaya vatthu cùng với một tập hợp pasāda rūpa) được tạo ra tại khoảnh khắc cuti-paṭisandhi.
- When kammaja kāya for the present bhava runs out of kammic energy, a new kammaja kāya matching the next bhava is initiated by kammic energy for the new bhava, at the cuti-paṭisandhi
Khi kammaja kāya của bhava hiện tại cạn năng lực kamma, thì tại khoảnh khắc cuti-paṭisandhi, năng lực kamma sẽ khởi tạo một kammaja kāya mới tương ứng với bhava kế tiếp.
- Therefore, each of us has had a kammaja kāya corresponding to most of the realms in this world from a time that cannot be traced to a beginning!
Do đó, mỗi chúng ta đã từng có kammaja kāya tương ứng với hầu hết các cõi trong thế gian này từ một thời điểm không thể truy nguyên về khởi đầu.
- Kammaja kāya in human or animal realms is also called gandhabba kāya or simply gandhabba.
Kammaja kāya trong cõi người hay cõi súc sinh còn được gọi là gandhabba kāya, hay đơn giản là gandhabba.
- The blueprint for the human physical body is in the kammaja kāya (gandhabba). Thus, the physical body grows according to the kammaja kāya (gandhabba).
Bản thiết kế cho thân vật chất của con người nằm trong kammaja kāya (gandhabba). Vì vậy, thân vật chất phát triển theo kammaja kāya (gandhabba).
Cittaja Kāya Is Present Only With Active Citta Vīthi
Cittaja Kāya Chỉ Hiện Hữu Khi Có Citta Vīthi Đang Hoạt Động
- Cittaja kāya means the flow of citta vīthi. Remember that kāya is a “collection.” Citta arise in the hadaya vatthu in the kammaja kāya.
Cittaja kāya có nghĩa là dòng chảy của citta vīthi. Cần nhớ rằng kāya là một “tập hợp”. Citta sinh khởi tại hadaya vatthu trong kammaja kāya.
- Cittā always run in “series” or vīthi. Each pañcadvāra (arising due to the five physical senses) citta vīthi ALWAYS has 17 cittā.
Cittā luôn vận hành theo “chuỗi” hay vīthi. Mỗi pañcadvāra citta vīthi (sinh khởi do năm căn vật lý) LUÔN có 17 cittā.
- A manodvāra (arising directly in mind) citta vīthi typically has 10–12 cittā. However, as discussed below, when in a samāpatti, manodvāra citta vīthi can run continuously.
Một manodvāra citta vīthi (sinh khởi trực tiếp nơi tâm) thường có 10–12 cittā. Tuy nhiên, như sẽ bàn ở dưới, khi ở trong samāpatti, manodvāra citta vīthi có thể vận hành liên tục.
- While the kammaja kāya is active AT ALL TIMES, there can be gaps in the cittaja kāya.
Trong khi kammaja kāya hoạt động MỌI LÚC, thì cittaja kāya có thể có những khoảng gián đoạn.
- In the absence of citta vīthi (i.e., active citta flow), the mind is in a bhavaṅga
Khi không có citta vīthi (tức không có dòng citta đang hoạt động), tâm ở trong trạng thái bhavaṅga.
- While the mind is in a bhavaṅga state, cittaja kāya is absent.
Khi tâm ở trạng thái bhavaṅga, cittaja kāya không hiện hữu.
Citta Absent in the Asaññā Realm
Citta Không Hiện Hữu Trong Cõi Asaññā
- In the asaññā realm, there is no cittaja kāya or even a bhavaṅga One does not even know that one is alive. There is a fine physical body that is kept alive by kammic energy. So, the kammaja kāya is there.
Trong cõi asaññā, không có cittaja kāya, thậm chí cũng không có trạng thái bhavaṅga. Chúng sinh ở đó thậm chí không biết mình đang sống. Có một thân vật chất vi tế được duy trì bởi năng lực kamma. Vì vậy, kammaja kāya vẫn hiện hữu.
- This is why the Buddha said it is a waste of time to be born in the asaññā realm by cultivating asaññā meditation techniques. One will live in the asaññā realm for 500 mahā kappa (that is trillions of years) and comes back to the human realm and start all over.
Đây là lý do Đức Phật nói rằng việc tái sinh vào cõi asaññā bằng cách tu các pháp thiền asaññā là uổng phí thời gian. Một chúng sinh sẽ sống ở cõi asaññā suốt 500 mahā kappa (tức hàng nghìn tỷ năm), rồi quay trở lại cõi người và bắt đầu lại từ đầu.
- In a previous post, I provided evidence that viññāṇa cannot exist without a rūpakkhandha; see #10 of “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka.” However, rūpakkhandha can exist without viññāṇa.
Trong một bài viết trước, tôi đã đưa ra bằng chứng rằng viññāṇa không thể tồn tại nếu không có rūpakkhandha; xem mục #10 của “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka.” Tuy nhiên, rūpakkhandha có thể tồn tại mà không có viññāṇa.
- If we become unconscious for some reason, that is like living in the asaññā realm during that time.
Nếu vì lý do nào đó chúng ta bị bất tỉnh, thì trong khoảng thời gian ấy cũng giống như đang sống trong cõi asaññā.
Bhavaṅga State – Not a Citta
Trạng thái Bhavaṅga – Không phải là Citta
- Bhavaṅga is a “state of mind” (other than bhavaṅga citta that sometimes appears inside a citta vīthi); see, “Bhava and Bhavaṅga – Simply Explained!”
Bhavaṅga là một “trạng thái của tâm” (khác với bhavaṅga citta đôi khi xuất hiện bên trong một citta vīthi); xem “Bhava and Bhavaṅga – Simply Explained!”
- When in a bhavaṅga state, there are no citta vīthi running, so not even universal cetasika One only knows that one is living, but there is no thought object (ārammaṇa). No citta vīthi run inside a bhavaṅga state.
Khi ở trạng thái bhavaṅga, không có citta vīthi nào vận hành, nên ngay cả các cetasika phổ quát cũng không hiện diện. Chỉ có sự “biết rằng đang sống”, nhưng không có đối tượng tư duy (ārammaṇa). Không có citta vīthi nào hoạt động trong trạng thái bhavaṅga.
- A crude analogy of the bhavaṅga state is a TV set that is not tuned to a station. We can see the flickering white dots on the screen and hear a background “hum.” But there is no picture. So, the mind is “on” but has no thought object.
Một ví dụ thô để hình dung trạng thái bhavaṅga là một chiếc TV chưa dò đúng kênh. Ta thấy các chấm trắng nhấp nháy trên màn hình và nghe tiếng “ù” nền, nhưng không có hình ảnh. Vì vậy, tâm ở trạng thái “bật”, nhưng không có đối tượng tư duy.
- When an ārammaṇa comes to the mind, the mind captures that sound, picture, smell, etc., with the help of citta vīthi. It is like that TV being tuned to a station, and one can see the picture.
Khi một ārammaṇa đến với tâm, tâm nắm bắt âm thanh, hình ảnh, mùi vị… với sự trợ giúp của citta vīthi. Điều này giống như chiếc TV được dò đúng kênh và ta có thể thấy hình ảnh.
- Now that we have covered the basics, let us discuss jhāna and samāpatti.
Giờ khi đã nắm được các điểm cơ bản, chúng ta hãy bàn về jhāna và samāpatti.
What Is a Jhāna?
Jhāna là gì?
- When a mind transcends the kāma loka, it gets to the mindset of rūpāvacara Brahmā. Those are the jhānic Lower Brahma realms have lower jhānic states and higher Brahma realms have higher jhānic states.
Khi tâm vượt qua kāma loka, nó đạt đến trạng thái tâm của các Brahmā thuộc rūpāvacara. Đó chính là các trạng thái jhāna. Các cõi Brahma thấp có các trạng thái jhāna thấp hơn, và các cõi Brahma cao có các trạng thái jhāna cao hơn.
- But when a human enters a jhāna (especially without much practice), the mind does not stay continuously in the jhāna citta It alternates between jhānic citta vīthi and pañcadvāra citta vīthi belonging to the kāma loka. Thus, the yogi may see and hear while in a jhānic state.
Nhưng khi một con người nhập vào một jhāna (đặc biệt là khi chưa có nhiều tu tập), tâm không duy trì liên tục trong dòng jhāna citta. Nó xen kẽ giữa jhānic citta vīthi và pañcadvāra citta vīthi thuộc kāma loka. Vì vậy, hành giả vẫn có thể thấy và nghe khi đang ở trong trạng thái jhānic.
- Initially, only 2–3 jhānic citta vīthi flow before a pañcadvāra citta vīthi comes in. As one cultivates the jhānā, fewer pañcadvāra citta vīthi will come in between successive jhānic citta vīthi.
Ban đầu, chỉ có 2–3 jhānic citta vīthi vận hành trước khi một pañcadvāra citta vīthi xen vào. Khi tiếp tục tu tập jhāna, sẽ có ít pañcadvāra citta vīthi xen kẽ hơn giữa các jhānic citta vīthi liên tiếp.
What Is a Jhāna Samāpatti?
Jhāna Samāpatti Là Gì?
- With practice, one could be experiencing jhānā citta vīthi continuously for many minutes. That means the yogi will not be aware of any sensory inputs through the five physical senses; thus, he will not see, hear, etc. During that time, the yogi is in a jhāna samāpatti.
Khi có tu tập, hành giả có thể kinh nghiệm jhānā citta vīthi liên tục trong nhiều phút. Điều đó có nghĩa là hành giả sẽ không còn nhận biết các kích thích giác quan qua năm căn vật lý; do đó, sẽ không thấy, không nghe, v.v. Trong khoảng thời gian ấy, hành giả đang ở trong jhāna samāpatti.
- With more practice, the yogi can lengthen the time in the samāpatti to many hours.
Với sự tu tập nhiều hơn, hành giả có thể kéo dài thời gian ở trong samāpatti đến nhiều giờ.
Difference Between Samāpatti and Jhānā
Sự Khác Biệt Giữa Samāpatti và Jhānā
- Therefore, the main difference between any samāpatti and jhāna is that jhāna citta do not run continuously. When one is in a jhāna, jhāna citta vīthi are interrupted by pañcadvāra citta vīthi running in between. Pañcadvāra citta vīthi are those coming through the five physical senses. Therefore, when one is in jhāna, one can see, hear, etc.
Do đó, sự khác biệt chính giữa bất kỳ samāpatti nào và jhāna là ở chỗ jhāna citta không vận hành liên tục. Khi đang ở trong một jhāna, các jhāna citta vīthi bị gián đoạn bởi các pañcadvāra citta vīthi xen vào. Pañcadvāra citta vīthi là các dòng tâm sinh khởi qua năm căn vật lý. Vì vậy, khi ở trong jhāna, người ta vẫn có thể thấy, nghe, v.v.
- But when in any samāpatti, the corresponding manodvāra citta vīthi runs continuously. Therefore, there is no set upper limit to the number of jhāna cittā running continuously in a samāpatti. Also, there is no opportunity for pañcadvāra citta vīthi to run; thus, one in a samāpatti is unaware of the external environment.
Ngược lại, khi ở trong bất kỳ samāpatti nào, manodvāra citta vīthi tương ứng sẽ vận hành liên tục. Vì vậy, không có giới hạn trên cố định cho số lượng jhāna cittā có thể hoạt động liên tục trong một samāpatti. Đồng thời, không có cơ hội cho pañcadvāra citta vīthi sinh khởi; do đó, người đang ở trong samāpatti sẽ không nhận biết môi trường bên ngoài.
- It takes a lot of practice to turn a regular jhāna into a jhāna samāpatti, i.e., to maintain the jhāna cittā continuously for a long time.
Cần rất nhiều tu tập để biến một jhāna thông thường thành jhāna samāpatti, tức là duy trì các jhāna cittā một cách liên tục trong thời gian dài.
- There are only four jhānic states (rūpāvacara jhāna).
Chỉ có bốn trạng thái jhāna (rūpāvacara jhāna).
Arūpa Samāpatti (Not Arūpa Jhāna)
Arūpa Samāpatti (Không Phải Arūpa Jhāna)
- A yogi who has mastered all four rūpāvacara jhāna samāpatti can cultivate the higher-lying arūpāvacara samāpatti. There are no arūpāvacara jhāna. That means those cittā run continuously. That means an arūpāvacara Brahma stays in the same samāpatti state for life!
Một yogi đã thuần thục cả bốn rūpāvacara jhāna samāpatti có thể tu tập các arūpāvacara samāpatti cao hơn. Không tồn tại arūpāvacara jhāna. Điều đó có nghĩa là các cittā ấy vận hành liên tục. Và điều đó cũng có nghĩa là một arūpāvacara Brahma an trú trong cùng một trạng thái samāpatti suốt cả đời sống của mình.
- A yogi in the highest rūpāvacara jhāna samāpatti (fourth jhāna samāpatti) can train to transition into the first arūpāvacara samāpatti (ākāsānañcāyatana). Subsequently, they can attain higher arūpāvacara samāpatti.
Một yogi đang ở rūpāvacara jhāna samāpatti cao nhất (tức jhāna samāpatti thứ tư) có thể tu tập để chuyển sang arūpāvacara samāpatti đầu tiên (ākāsānañcāyatana). Sau đó, vị ấy có thể đạt các arūpāvacara samāpatti cao hơn.
- Today, many English texts incorrectly label the “arūpāvacara samāpatti” as the fifth through the eighth jhāna. There are no arūpāvacara jhāna.
Ngày nay, nhiều tài liệu tiếng Anh gán nhãn sai các “arūpāvacara samāpatti” là jhāna thứ năm đến thứ tám. Thực ra không hề có arūpāvacara jhāna.
- In the Tipiṭaka, the four arūpāvacara samāpatti are labeled as ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana, and nevasaññānāsaññāyatana samāpatti. There are no arūpāvacara jhānic
Trong Tipiṭaka, bốn arūpāvacara samāpatti được gọi là ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana và nevasaññānāsaññāyatana samāpatti. Không tồn tại các trạng thái arūpāvacara jhānic.
Phala Samāpatti
Phala samāpatti
- Of course, only those who have attained magga phala (Sotāpanna, Sakadāgāmi, Anāgāmi, Arahant) can get into phala samāpatti.
Dĩ nhiên, chỉ những ai đã chứng magga phala (Sotāpanna, Sakadāgāmi, Anāgāmi, Arahant) mới có thể nhập phala samāpatti.
- When in a phala samāpatti, that phala citta runs continuously. Again, one will not see or hear during that samāpatti since only manodvāra cittā flow continuously.
Khi ở trong phala samāpatti, phala citta tương ứng vận hành liên tục. Một lần nữa, trong samāpatti ấy người ta sẽ không thấy hay nghe gì, vì chỉ có manodvāra cittā vận hành liên tục.
- For example, if one is in the Arahant phala samāpatti, one has the Arahant phala citta running continuously.
Ví dụ, nếu đang ở trong Arahant phala samāpatti, thì phala citta của Arahant sẽ vận hành liên tục.
- Not everyone with a magga phala can get into phala samāpatti Just like jhāna, they require a lot of practice unless one has cultivated jhāna in recent lives.
Không phải ai đã chứng magga phala cũng tự động nhập được phala samāpatti. Giống như jhāna, điều này đòi hỏi rất nhiều tu tập, trừ khi người ấy đã tu jhāna trong các đời gần đây.
Nirodha Samāpatti Versus Asaññā Realm
Nirodha Samāpatti So với Cõi Asaññā
- In nirodha samāpatti, there is no citta vīthi or a bhavaṅga It is sort of like in the asaññā realm.
Trong nirodha samāpatti, không có citta vīthi cũng không có trạng thái bhavaṅga. Điều này phần nào giống như tình trạng ở cõi asaññā.
- But of course, there is a vast difference between nirodha samāpatti and being in the asaññā One who can get to nirodha samāpatti has removed ALL DEFILEMENTS (and thus avijjā), but one in the asaññā realm has not. So, at the end of the life in the asaññā realm, that person would come back to the human realm and can be reborn even in the apāyā in later rebirths.
Tuy nhiên, dĩ nhiên có một sự khác biệt rất lớn giữa nirodha samāpatti và việc ở trong cõi asaññā. Người có thể đạt nirodha samāpatti đã đoạn trừ TẤT CẢ CÁC NHIỄM Ô (và do đó cả avijjā), còn người ở cõi asaññā thì không. Vì vậy, khi kết thúc đời sống ở cõi asaññā, người ấy sẽ trở lại cõi người và trong các lần tái sinh về sau thậm chí có thể sinh vào các cõi apāyā.
- This point explains why it is so peaceful not to have any citta running through the mind. That is the closest explanation that can be given to an average human as to how having no citta can be so peaceful. But this is hard even to imagine for an average human, as I mentioned initially. Those who cultivate jhāna and get to higher rūpāvacara jhānic and arūpāvacara samāpatti states can start seeing that this is true. That is why they cultivate arūpāvacara samāpatti up to the neva saññā nā saññā
Điểm này giải thích vì sao việc không có bất kỳ citta nào vận hành trong tâm lại an tịnh đến vậy. Đây là cách giải thích gần nhất có thể dành cho con người bình thường về việc vì sao “không có citta” lại có thể an lạc như thế. Tuy nhiên, như đã nói ban đầu, điều này ngay cả tưởng tượng cũng rất khó đối với người bình thường. Những ai tu tập jhāna và đạt đến các trạng thái rūpāvacara jhānic cao hơn cùng các arūpāvacara samāpatti có thể dần dần thấy rằng điều này là đúng. Vì vậy, họ tiếp tục tu tập arūpāvacara samāpatti cho đến trạng thái neva saññā nā saññā.
Nirodha Samāpatti
Nirodha Samāpatti
- Nirodha samāpatti is succinctly described in a verse in the WebLink: suttacentral: Mahāvedalla Sutta (MN 43), where the difference between a dead body and the body of one in nirodha samāpatti is described:
Nirodha samāpatti được mô tả ngắn gọn trong một đoạn kệ ở WebLink: suttacentral: Mahāvedalla Sutta (MN 43), ở đây trình bày sự khác biệt giữa một thi thể và thân của người đang ở trong nirodha samāpatti: “Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni paribhinnāni. Yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno tassapi kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu na parikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni. Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—idaṁ nesaṁ nānākaraṇan’ti.”
Translated: “āvuso, a dead body does not generate any kāya saṅkhārā, vacī saṅkhārā, or citta saṅkhārā; its lifetime expired, and it does not breathe, and the body gets cold with all sense organs dead. But that bhikkhu in saññāvedayita-nirodha samāpatti, even though his kāya saṅkhārā, vacī saṅkhārā, and citta saṅkhārā all have ceased, and does not breathe, his body does not get cold, and all sense organs are kept alive. This, āvuso, is the difference between a dead body and that bhikkhu in nirodha samāpatti.”
Dịch: “Này hiền giả, một thi thể thì không còn sinh khởi kāya saṅkhārā, vacī saṅkhārā hay citta saṅkhārā; thọ mạng đã chấm dứt, không còn hơi thở, thân thể lạnh đi và các căn đều hoại. Nhưng vị bhikkhu đang ở trong saññāvedayita-nirodha samāpatti, tuy kāya saṅkhārā, vacī saṅkhārā và citta saṅkhārā đều đã chấm dứt và cũng không còn thở, nhưng thân thể không bị lạnh và các căn vẫn được duy trì. Này hiền giả, đó chính là sự khác biệt giữa một thi thể và vị bhikkhu đang ở trong nirodha samāpatti.”
- Here, saññāvedayitanirodha (saññā avedayita nirodha) means “both saññā and vedanā” Without saññā and vedanā there are not even citta saṅkhāra.
Ở đây, saññāvedayitanirodha (saññā avedayita nirodha) có nghĩa là cả saññā và vedanā đều chấm dứt. Khi không còn saññā và vedanā thì ngay cả citta saṅkhāra cũng không tồn tại.
- Thus, there are no cittā arising when in saññāvedayita nirodha samāpatti.
Do đó, khi ở trong saññāvedayita nirodha samāpatti thì không có bất kỳ cittā nào sinh khởi.
Getting into Nirodha Samāpatti
Nhập Nirodha Samāpatti
- Not all Arahants can get into nirodha samāpatti (only Ubhatovimutti Arahants can). Access to nirodha samāpatti is NOT by taking Nibbāna as the thought object but via the arūpāvacara samāpatti. As one gets to higher jhāna, the number of cetasika in a citta gets smaller, i.e., cittā become less and less “burdened.”
Không phải tất cả các bậc Arahant đều có thể nhập nirodha samāpatti (chỉ các Arahant thuộc loại Ubhatovimutti mới có thể). Việc nhập nirodha samāpatti KHÔNG phải bằng cách lấy Nibbāna làm đối tượng tư duy, mà thông qua các arūpāvacara samāpatti. Khi đạt đến các jhāna cao hơn, số lượng cetasika trong một citta ngày càng giảm, tức là cittā ngày càng “nhẹ gánh” hơn.
- An Arahant has to go through the following sequence to get to nirodha samāpatti. Cultivate all the jhānā, get to the the fourth jhāna samāpatti, and access all arūpāvacara samāpatti up to the neva saññā nā saññā. The neva saññā nā saññā state is just a step away from stopping the arising of any citta.
Một bậc Arahant phải đi qua trình tự sau để đạt nirodha samāpatti: tu tập đầy đủ các jhāna, đạt đến jhāna samāpatti thứ tư, rồi đi vào tất cả các arūpāvacara samāpatti cho đến neva saññā nā saññā. Trạng thái neva saññā nā saññā chỉ còn cách việc chấm dứt hoàn toàn sự sinh khởi của citta một bước nữa.
- From there, the Arahant can determine how long to stay in nirodha samāpatti and make the transition from the neva saññā nā saññā state to nirodha samāpatti.
Từ đó, bậc Arahant có thể quyết định thời gian an trú trong nirodha samāpatti và thực hiện sự chuyển tiếp từ trạng thái neva saññā nā saññā sang nirodha samāpatti.
- While anāriya yogis can get to the neva saññā nā saññā state, they CANNOT make the transition to saññāvedayita nirodha samāpatti. Only an Arahant who has cultivated arūpāvacara samāpatti can get into saññāvedayita nirodha samāpatti.
Trong khi các anāriya yogi có thể đạt đến trạng thái neva saññā nā saññā, họ KHÔNG THỂ chuyển sang saññāvedayita nirodha samāpatti. Chỉ một bậc Arahant đã tu tập arūpāvacara samāpatti mới có thể nhập saññāvedayita nirodha samāpatti.
- By the way, this process of getting to nirodha samāpatti is described in the “WebLink: suttacentral: Anupada Sutta (MN 111)” and in the “WebLink: suttacentral: Pañcakaṅga Sutta (SN 36.19).”
Nhân đây, tiến trình đi vào nirodha samāpatti này được mô tả trong “WebLink: suttacentral: Anupada Sutta (MN 111)” và trong “WebLink: suttacentral: Pañcakaṅga Sutta (SN 36.19).”
- More details in “Samādhi, Jhāna, and Sammā Samādhi.”
Chi tiết hơn xem “Samādhi, Jhāna, và Sammā Samādhi.”
Nibbānic Bliss Is not a Cetasika Vedanā
Hỷ lạc Nibbāna không phải là Cetasika Vedanā
- The “WebLink: suttacentral: Pañcakaṅga Sutta (SN 36.19)” also clarifies another critical point. If there are no cittā (with saññā or vedanā) when one is in saññāvedayita nirodha samāpatti, how can one say that it is the ultimate happiness (Nibbānic bliss)?
“WebLink: suttacentral: Pañcakaṅga Sutta (SN 36.19)” cũng làm sáng tỏ thêm một điểm then chốt khác. Nếu khi ở trong saññāvedayita nirodha samāpatti không có cittā (kèm saññā hay vedanā), thì làm sao có thể nói đó là hạnh phúc tối hậu (hỷ lạc Nibbāna)?
- Nibbānic bliss is not a cetasika vedanā, which would belong to this world. I have compared it to the relief one feels when a long-experienced migraine headache finally goes away; see “Nibbāna” subsection. The above sutta, in the last verse, put it this way:
Hỷ lạc Nibbāna không phải là vedanā cetasika, vốn thuộc về thế gian này. Tôi đã so sánh nó với cảm giác nhẹ nhõm khi một cơn đau nửa đầu kéo dài cuối cùng cũng chấm dứt; xem mục “Nibbāna”. Sutta trên, ở đoạn cuối, diễn đạt như sau:
“Ṭhānaṁ kho panetaṁ, ānanda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘saññāvedayitanirodhaṁ samaṇo gotamo āha, tañca sukhasmiṁ paññapeti. Tayidaṁ kiṁsu, tayidaṁ kathaṁsū’ti?
Evaṁvādino, ānanda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘na kho, āvuso, bhagavā sukhaññeva vedanaṁ sandhāya sukhasmiṁ paññapeti. Yattha yattha, āvuso, sukhaṁ upalabbhati, yahiṁ yahiṁ taṁ taṁ tathāgato sukhasmiṁ paññapetī’”ti.”
Translated: “It may happen, Ānanda, that Wanderers of other sects will be saying this: ‘The recluse Gotama speaks of the saññāvedayita nirodha and describes it as pleasure. What is this pleasure and how is this a pleasure?’
‘Those who say so should be told: The Blessed One describes as pleasure, not the feeling of pleasure. But a Tathāgata describes as Nibbānic pleasure absence of suffering.’ ”
Dịch: “Này Ānanda, có thể các Du sĩ ngoại đạo sẽ nói như sau: ‘Sa-môn Gotama nói về saññāvedayita nirodha và gọi đó là hạnh phúc. Vậy hạnh phúc ấy là gì, và vì sao lại là hạnh phúc?’
Những ai nói như vậy cần được trả lời: ‘Đức Thế Tôn gọi là hạnh phúc không phải cảm thọ hạnh phúc. Như Lai gọi sự vắng mặt của khổ đau là hỷ lạc Nibbāna.’”
Nirodha Samāpatti and Parinibbāna
Nirodha Samāpatti và Parinibbāna
- No citta vīthi run in nirodha samāpatti, and bhavaṅga state is not present either. Life in the body is maintained with kammic No vedanā, saññā, etc. The maximum time in nirodha samāpatti is seven days. The Arahant can determine, before getting into nirodha samāpatti, how long (up to 7 days) to stay in that state.
Trong nirodha samāpatti, không có citta vīthi nào vận hành, và cũng không có trạng thái bhavaṅga. Sự sống của thân được duy trì bằng năng lực kamma. Không có vedanā, saññā, v.v. Thời gian tối đa ở trong nirodha samāpatti là bảy ngày. Trước khi nhập nirodha samāpatti, bậc Arahant có thể quyết định sẽ an trú trong trạng thái ấy bao lâu (tối đa 7 ngày).
- Parinibbāna state is just like nirodha samāpatti. The only difference is that there is no “coming back” to this world upon entering Parinibbāna.
Trạng thái Parinibbāna giống như nirodha samāpatti. Khác biệt duy nhất là khi đã vào Parinibbāna thì không còn “trở lại” thế gian này nữa.
- Therefore, Arahants tend to get to nirodha samāpatti whenever possible to experience the “Nibbānic bliss” and to escape from the “burdensome worldly thoughts.” As I said, it is hard for normal humans to imagine this.
Vì vậy, các bậc Arahant thường nhập nirodha samāpatti khi có thể, để kinh nghiệm “hỷ lạc Nibbāna” và thoát khỏi “những tư tưởng thế gian nặng nề”. Như tôi đã nói, điều này rất khó để người bình thường hình dung.
Nirodha Samāpatti and Arahant Phala Samāpatti
Nirodha samāpatti và Arahant Phala Samāpatti
- In other types of samāpatti (other than the nirodha samāpatti), manodvāra citta vīthi will flow continuously. There is no falling to bhavaṅga or taking an external object with a pañcadvāra citta vīthi. Thus, one cannot see, hear, etc. Usually, samāpatti will eventually break on its own, or (when one gets good at it) one can pre-set the time to be in samāpatti.
Trong các loại samāpatti khác (ngoài nirodha samāpatti), manodvāra citta vīthi sẽ vận hành liên tục. Không có sự rơi vào bhavaṅga, cũng không có việc nắm bắt đối tượng bên ngoài bằng pañcadvāra citta vīthi. Do đó, người ở trong samāpatti sẽ không thấy, không nghe, v.v. Thông thường, samāpatti sẽ tự kết thúc, hoặc (khi đã thuần thục) người ta có thể định trước thời gian an trú trong samāpatti.
- Arahant phala samāpatti is where an Arahant experiences the pabhassara citta, a pure citta with just the universal cetasika, where the saññā cetasika is not contaminated. Nibbāna is the thought object made contact with phassa cetasika, and vedanā and saññā are based on that (we have no idea about that). One does not hear or see anything there, just like in jhāna samāpatti.
Arahant phala samāpatti là nơi một bậc Arahant kinh nghiệm pabhassara citta, một citta thanh tịnh chỉ có các cetasika phổ quát, trong đó saññā cetasika không bị ô nhiễm. Nibbāna là đối tượng tư duy được tiếp xúc qua phassa cetasika, và vedanā cùng saññā nương trên đó (chúng ta không thể biết rõ điều này). Trong trạng thái ấy, không có thấy hay nghe gì, tương tự như trong jhāna samāpatti.
- When an Arahant is not in nirodha samāpatti or Arahant phala samāpatti, his/her citta gets only to the “mānasaṁ” state, in the sequence that usually ends up in the viññāṇakkhandha state for an average human; see #4 of “Pabhassara Citta, Radiant Mind, and Bhavaṅga.”
Khi một bậc Arahant không ở trong nirodha samāpatti hay Arahant phala samāpatti, citta của vị ấy chỉ đạt đến trạng thái “mānasaṁ”, trong chuỗi tiến trình mà ở người bình thường thường dẫn đến trạng thái viññāṇakkhandha; xem mục #4 của “Pabhassara Citta, Radiant Mind, and Bhavaṅga.”
