Ascendance to Nibbāna via Jhāna (Dhyāna) / Tiến trình đi đến Nibbāna qua Jhāna (Dhyāna)

October 4, 2017; #14 revised on October 5, 2017; November 15, 2017; November 30, 2018 (including #8); October 9, 2022; November 11, 2022; October 31, 2023

Ngày 4/10/2017; bản #14 chỉnh sửa ngày 5/10/2017; 15/11/2017; 30/11/2018 (bao gồm #8); 9/10/2022; 11/11/2022; 31/10/2023

Jhāna and magga phala are two separate entities, but they can be related.

Jhāna và magga phala là hai thực thể khác nhau, nhưng chúng có thể liên hệ với nhau.

  1. There are four categories: One can attain magga phala without jhāna; one can attain (anāriya) jhāna and not have magga phala; one can attain magga phala from any anāriya jhāna; one can attain magga phala and then cultivate Ariya jhāna. To sort these out, one needs to understand the difference between Ariya (supramundane) and anāriya (mundane) jhāna and whether (and how) they are related to magga phala.

Có bốn trường hợp: có người chứng đắc magga phala mà không cần jhāna; có người chứng đắc (anāriya) jhāna nhưng không có magga phala; có người chứng đắc magga phala từ bất kỳ anāriya jhāna nào; và có người chứng đắc magga phala rồi sau đó mới tu tập Ariya jhāna. Để phân biệt rõ các trường hợp này, cần hiểu sự khác nhau giữa jhāna Ariya (siêu thế) và jhāna anāriya (thế gian), cũng như mối liên hệ (và cách liên hệ) của chúng với magga phala.

 

  • In a series of posts based on material from the Tipiṭaka, I will try to put together a consistent picture.

Trong một loạt bài viết dựa trên tư liệu từ Tipiṭaka, tôi sẽ cố gắng trình bày một bức tranh nhất quán.

  • Even before the Buddha, ancient yogis cultivated jhāna and attained what they believed to be cetovimutti (liberation via calming the mind). But the Buddha showed that such cetovimutti is temporary; one would not attain akuppā cetovimutti (true and unshakable liberation) until Nibbāna is realized; see, “Tapussa Sutta (AN 9.41)– Akuppā Cetovimutti.”

Ngay cả trước thời Đức Phật, các yogi cổ đại đã tu tập jhāna và đạt được điều mà họ tin là cetovimutti (giải thoát nhờ làm lắng dịu tâm). Nhưng Đức Phật đã chỉ ra rằng cetovimutti như vậy chỉ là tạm thời; người ta sẽ không đạt được akuppā cetovimutti (sự giải thoát chân thật và không lay chuyển) cho đến khi Nibbāna được chứng ngộ; xem “Tapussa Sutta (AN 9.41) – Akuppā Cetovimutti.”

  1. Nibbāna can be approached two ways via jhāna: (i) through any of the rūpavacara anāriya (mundane) jhāna, (ii) first attaining the Sotāpanna stage and then through Ariya (supramundane) jhāna.

Nibbāna có thể được tiếp cận theo hai cách thông qua jhāna: (i) thông qua bất kỳ rūpavacara anāriya (thế gian) jhāna nào, (ii) trước tiên chứng đắc Sotāpanna rồi sau đó thông qua Ariya (siêu thế) jhāna.

  • Of course, there is another way to attain Nibbāna, without any jhāna, in paññāvimutti (liberation with wisdom); see below.

Dĩ nhiên, còn có một con đường khác để chứng đắc Nibbāna mà không cần bất kỳ jhāna nào, đó là paññāvimutti (giải thoát bằng trí tuệ); sẽ được đề cập bên dưới.

  • If one takes the path via Ariya jhāna, one would attain unshakable/unbreakable cetovimutti (akuppā cetovimutti.) That is what the Buddha attained on the night of the Enlightenment. [ubhato : [ind.] in both ways or sides; twofold.][It is also called ‘unshakable deliverance of mind’ (akuppa-cetovimutti)] [akuppa: [adj.] steadfast; unshakable.]

Nếu đi theo con đường Ariya jhāna, người ấy sẽ đạt được cetovimutti không lay chuyển, không thể phá vỡ (akuppā cetovimutti). Đó chính là điều Đức Phật đã chứng đạt trong đêm Giác Ngộ. [ubhato: theo cả hai cách hay hai mặt; hai chiều.] [Điều này cũng được gọi là “sự giải thoát tâm không lay chuyển” (akuppa-cetovimutti).] [akuppa: vững chắc; không lay chuyển.]

  • Those yogis who attain cetovimutti via anāriya jhāna have not removed avijjā anusaya; that is why they are not liberated. Then they can be reborn in the kāma loka; see #4 below.

Những yogi đạt cetovimutti thông qua anāriya jhāna vẫn chưa đoạn trừ avijjā anusaya; đó là lý do vì sao họ chưa được giải thoát. Do vậy, họ vẫn có thể tái sinh trở lại kāma loka; xem mục #4 bên dưới.

 

  1. As the table below shows, the level of suffering decreases as one moves successively to higher realms.

Như bảng bên dưới cho thấy, mức độ khổ đau giảm dần khi người ta lần lượt đi lên các cõi cao hơn.

  • In the post “The Grand Unified Theory of Dhamma – Introduction,” we described a model that consisted of 31 concentric “shells.” The actuality is close to that analogy, with some additional features. I have compiled a summary of the 31 realms in the “31 Realms of Existence” table.

Trong bài viết “The Grand Unified Theory of Dhamma – Introduction,” chúng tôi đã mô tả một mô hình gồm 31 “vỏ” đồng tâm. Thực tế khá gần với phép so sánh đó, dù có thêm một số đặc điểm khác. Tôi đã tổng hợp bảng tóm tắt 31 cõi trong bảng “31 Realms of Existence.”

  • From those posts, it is clear that as one goes from the apāyā through higher kāma loka to rūpa loka and finally to arūpa loka, attachments to “this world” get weaker AND actual suffering decreases too.

Từ các bài viết đó, có thể thấy rõ rằng khi đi từ apāyā, qua các cõi kāma loka cao hơn, đến rūpa loka và cuối cùng là arūpa loka, sự chấp thủ vào “thế gian này” dần yếu đi, ĐỒNG THỜI khổ đau thực sự cũng giảm xuống.

  • It seems that the highest arūpa realm is quite close to Nibbāna. In a way, it is — but technically, it is far away too.

Dường như cõi arūpa cao nhất rất gần với Nibbāna. Ở một khía cạnh nào đó thì đúng — nhưng về mặt kỹ thuật, nó vẫn còn rất xa.

  1. Today, many English texts incorrectly label the “higher rūpāvacara samāpatti” as the fifth through the eighth jhāna. In the Tipiṭaka, they are labeled as ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana, and nevasaññānāsaññāyatana samāpatti.

Ngày nay, nhiều tài liệu tiếng Anh gán nhãn sai các “rūpāvacara samāpatti cao hơn” là jhāna thứ năm đến thứ tám. Trong Tipiṭaka, chúng được gọi là ākāsānañcāyatana, viññāṇañcāyatana, ākiñcaññāyatana và nevasaññānāsaññāyatana samāpatti.

  • Yogis like Āḷāra Kālāma and Uddakarāmaputta, who had attained the highest jhāna and arūpa samāpatti at the time of the Buddha, believed that the highest arūpāvacara state was Nibbāna (or final release, vimutti). Indeed, at that highest realm of Ne’va saññā nā saññā, connection to “this world” is ALMOST cutoff, and one can experience the “highest bliss” that can be attained without realizing Nibbāna.

Những yogi như Āḷāra Kālāma và Uddakarāmaputta, những người đã chứng đạt các tầng jhāna cao nhất và arūpa samāpatti vào thời Đức Phật, tin rằng trạng thái arūpāvacara cao nhất chính là Nibbāna (hay sự giải thoát tối hậu, vimutti). Thật vậy, ở cõi tối cao Ne’va saññā nā saññā, sự liên hệ với “thế gian này” hầu như bị cắt đứt, và người ta có thể trải nghiệm “niềm an lạc tối thượng” có thể đạt được mà chưa chứng ngộ Nibbāna.

 

  • The Buddha (or rather the Bodhisattva), who learned to attain those highest jhānā and arūpa samāpatti from those yogis, realized that all living beings had attained those states many times in the rebirth process, and that is not the end of suffering.

Đức Phật (chính xác hơn là Bodhisattva), người đã học và chứng đạt các tầng jhāna cao nhất cùng arūpa samāpatti từ những yogi đó, đã nhận ra rằng tất cả chúng sinh đã đạt những trạng thái ấy vô số lần trong tiến trình tái sinh, và đó không phải là sự chấm dứt khổ đau.

  • He realized that until one completely removes all ten saṁsāric bonds (see, “Dasa Saṁyojana – Bonds in Rebirth Process”), one will never be free of ANY of the 31 realms. As discussed in that post, one SUCCESSIVELY and PERMANENTLY leaves the lowest realms (apāyā), higher kāma loka realms, and then rūpa and arūpa realms by breaking those bonds (saṁyojana) few at a time (by following the Noble Path).

Ngài nhận ra rằng chừng nào chưa đoạn trừ hoàn toàn cả mười sự ràng buộc saṁsāra (xem “Dasa Saṁyojana – Bonds in Rebirth Process”), thì người ấy sẽ không bao giờ thoát khỏi BẤT KỲ cõi nào trong 31 cõi. Như đã bàn trong bài đó, người ta rời bỏ DẦN DẦN và VĨNH VIỄN các cõi thấp nhất (apāyā), các cõi kāma loka cao hơn, rồi đến các cõi rūpa và arūpa bằng cách phá vỡ các sự ràng buộc (saṁyojana) đó từng phần một (theo Thánh Đạo).

  1. However, one can TEMPORARILY enjoy the highest arūpa realms existence by cultivating even the corresponding MUNDANE jhāna, i.e., those attained without removing ANY saṁyojana.

Tuy nhiên, người ta có thể TẠM THỜI hưởng thụ sự tồn tại ở các cõi arūpa cao nhất bằng cách tu tập ngay cả các jhāna THẾ GIAN tương ứng, tức là những jhāna đạt được mà không đoạn trừ BẤT KỲ saṁyojana nào.

  • For example, while we live in this human realm we are not subjected to the harsh sufferings in the apāyā, and we can enjoy the sensory pleasures, mixed in with some suffering.

Ví dụ, khi sống trong cõi người, chúng ta không phải chịu những khổ đau khắc nghiệt của apāyā, và có thể hưởng các dục lạc giác quan, xen lẫn với một phần khổ đau.

  • In the same way, when one is born in the rūpa realms, one will not be subjected to the sufferings in the human realm, and the suffering is even less going from rūpa to arūpa

Tương tự như vậy, khi sinh vào các cõi rūpa, người ấy sẽ không phải chịu những khổ đau của cõi người, và khổ đau còn giảm hơn nữa khi đi từ rūpa sang các cõi arūpa.

  • However, since no saṁyojana are broken, one can be reborn in any of the realms in the future (just like an average human can be born in the apāyā in the future).

Tuy nhiên, vì không có saṁyojana nào bị phá vỡ, người ấy vẫn có thể tái sinh vào bất kỳ cõi nào trong tương lai (giống như một người bình thường vẫn có thể sinh vào apāyā trong tương lai).

  1. The easiest way to understand jhānic and arūpa samāpatti states is to examine the properties of the rūpa and arūpa realms compared to those of the lower realms. The following table can be useful here.

Cách dễ nhất để hiểu các trạng thái jhāna và arūpa samāpatti là xem xét các đặc tính của các cõi rūpa và arūpa so với các cõi thấp hơn. Bảng dưới đây có thể hữu ích cho mục đích này.

Realm(s)

Cõi

Level of Suffering

Mức độ Khổ đau

Causes

Nguyên nhân

Generation/Stopping of Saṅkhāra

Tạo tác / Chấm dứt Saṅkhāra

Niraya (Hell)

Niraya (Địa ngục)

Incessant suffering

Khổ đau không gián đoạn

Dosa: Killing (especially humans), torture, rapes, etc.

Dosa: giết hại (đặc biệt là giết người), tra tấn, hiếp dâm, v.v.

 
Peta (Hungry Ghosts)

Peta (Ngạ quỷ)

Starvation

Đói khát

Lobha or Excess greed (may I get all, not others)

Lobha hay lòng tham quá mức (chỉ mình được tất cả, không cho người khác)

 
Vinipatha Asura

[‘demons’, titans, evil beings]

Vinipatha Asura [‘quỷ’, titan, chúng sinh hung ác)]

Spend time aimlessly; mostly heavy bodies not easily movable

Thời gian trôi qua vô định; thân nặng nề, khó vận động

Moha: Thina middha, vicikicchā (lazy, lacking energy)

Moha: Thina middha, vicikicchā (lười biếng, thiếu năng lượng)

 
Animal (Tirisan: “tiri” + “san” or with all 3 causes)

Súc sinh (Tirisan: “tiri” + “san” hoặc hội đủ cả ba nguyên nhân)

Combinations of above three types

Kết hợp của ba loại khổ đau ở trên

Combinations of lobha, dosa, moha

Kết hợp của lobha, dosa, moha

 
Human (Manussa: mana” + “ussa” or with advanced mind)

Con người (Manussa: “mana” + “ussa”, hay có tâm trí phát triển)

In between lower and higher realms

Trung gian giữa các cõi thấp và cõi cao

In between lower and higher realms

Trung gian giữa các cõi thấp và cõi cao

Almost all saṅkhāra responsible births in all realms occur here.

Hầu như tất cả saṅkhāra dẫn đến tái sinh ở mọi cõi đều được tạo ra tại đây.

 

Deva (similar to human bodies, but much less dense)

Deva (thân tương tự con người nhưng tinh tế hơn nhiều)

Mostly no physical suffering and abundant sense pleasures (kāma). But there is mental stress.

Hầu như không có khổ thân và có nhiều lạc thú giác quan (kāma). Tuy nhiên vẫn có khổ tâm.

Good kamma vipāka (done with alobha, adosa, amoha). Mental stress arises due to kāma rāga.

Kamma vipāka tốt (được tạo với alobha, adosa, amoha). Khổ tâm phát sinh do kāma rāga.

 
Rūpāvacara Brahma (only manomaya kāya; cannot be even seen with a microscope)

Rūpāvacara Brahma (chỉ có manomaya kāya; không thể quan sát ngay cả bằng kính hiển vi)

Mental stress is much reduced. Mainly jhānic pleasures. Vipariṇāma dukkha when close death.

Khổ tâm giảm rất nhiều. Chủ yếu là lạc thọ jhāna. Có vipariṇāma dukkha khi gần lúc chết.

Suppression of kāma rāga and cultivation of rūpāvacara jhāna (while in the human realm)

Sự chế ngự kāma rāga và tu tập rūpāvacara jhāna (khi còn ở cõi người)

 
Arūpāvacara Brahma (only hadaya vatthu and mind)

Arūpāvacara Brahma (chỉ có hadaya vatthu và tâm)

Only arūpāvacara samāpatti. Vipariṇāma dukkha when close death.

Chỉ có arūpāvacara samāpatti. Có vipariṇāma dukkha khi gần lúc chết.

Cultivation of arūpāvacara samāpatti (while in the human realm)

Tu tập arūpāvacara samāpatti (khi còn ở cõi người)

 
Nibbāna

Nibbāna

Permanent release from all suffering.

Giải thoát vĩnh viễn khỏi mọi khổ đau.

Elimination of all causes for existence, i.e., rāgakkhaya, dosakkhaya, mohakkhaya.

Diệt trừ hoàn toàn mọi nguyên nhân của hiện hữu, tức là rāgakkhaya, dosakkhaya, mohakkhaya.

Mostly attained in the human realm, but possible in higher realms, especially after the Sotāpanna stage.

Chủ yếu đạt được trong cõi người, nhưng cũng có thể đạt ở các cõi cao hơn, đặc biệt sau bậc Sotāpanna.

 

  1. If you look at any sutta describing Ariya jhāna, it always starts with verse, “..bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati..

 

Nếu xem bất kỳ sutta nào mô tả Ariya jhāna, ta sẽ thấy luôn bắt đầu bằng câu: “..bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati..”

 

We can see why the above table helps understand how one gets to jhānā by first abstaining from akusala kamma (vivicca akusalehi dhammehi) and then kāma rāga (vivicceva kāmehi).

Ta có thể thấy vì sao bảng trên giúp hiểu tiến trình đi vào jhāna: trước hết là từ bỏ akusala kamma (vivicca akusalehi dhammehi), rồi tiếp đến là lìa bỏ kāma rāga (vivicceva kāmehi).

 

  • Until one overcomes kāma rāga, one has no hope of escaping the kāma loka and ascending to the rūpāvacara

Chừng nào chưa vượt qua được kāma rāga, thì không có hy vọng thoát khỏi kāma loka và thăng lên các cõi rūpāvacara.

  • However, one does not need to REMOVE kāma rāga anusaya to attain mundane (anāriya) jhāna, even up to the highest in the arūpa loka; suppression of kāma rāga is enough. This is why Āḷāra Kālāma and Uddaka Rama Putta, who are in the arūpa realms right now, could even be reborn in the apāyā in future lives.

Tuy nhiên, không cần phải ĐOẠN TRỪ kāma rāga anusaya để chứng đắc các jhāna thế gian (anāriya), thậm chí cho đến mức cao nhất trong arūpa loka; chỉ cần đè nén kāma rāga là đủ. Chính vì vậy mà Āḷāra Kālāma và Uddaka Rama Putta, dù hiện đang ở các cõi arūpa, vẫn có thể tái sinh vào apāyā trong các đời tương lai.

  • All one needs to do is to have the mind focused on a neutral object to make the mind free of akusala thoughts and kāma rāga while in the jhāna.

Điều cần làm chỉ là đặt tâm trên một đối tượng trung tính, để khi đang ở trong jhāna, tâm không bị các ý nghĩ akusala và kāma rāga chi phối.

  1. We can summarize the above conclusions in the following way:

Ta có thể tóm tắt các kết luận trên như sau:

  • One frequently engaged in akusala kamma is LIKELY to be born in the four lowest realms (apāyā).

Người thường xuyên tạo akusala kamma thì KHẢ NĂNG CAO sẽ sinh vào bốn cõi thấp (apāyā).

  • One who abstains from akusala kamma and abstains from sensual pleasures (Āḷāra Kālāma and Uddaka Rama Putta) can cultivate rūpāvacara jhāna or arūpāvacara samāpatti. Since they are mahāggata kusala kamma (mahāggata means higher), one WILL be reborn in rūpa or arūpa loka at the death of this physical body BEFORE the next cuti-paṭisandhi transition. Getting to even an anāriya jhāna is ānantarika kamma.

Người từ bỏ akusala kamma và tránh xa dục lạc giác quan (như Āḷāra Kālāma và Uddaka Rama Putta) có thể tu tập rūpāvacara jhāna hoặc arūpāvacara samāpatti. Vì đây là mahāggata kusala kamma (mahāggata nghĩa là cao thượng), nên người ấy CHẮC CHẮN sẽ tái sinh vào rūpa hoặc arūpa loka ngay khi thân vật lý này hoại diệt, TRƯỚC KHI xảy ra tiến trình cuti–paṭisandhi kế tiếp. Chỉ riêng việc đạt được một anāriya jhāna cũng đã là ānantarika kamma.

  • However, if it is an anāriya jhāna or arūpāvacara samāpatti, one has not been released from the apāyā since one has not removed avijjā by comprehending Tilakkhaṇa.

Tuy nhiên, nếu đó chỉ là anāriya jhāna hay arūpāvacara samāpatti, thì người ấy vẫn chưa được giải thoát khỏi apāyā, vì avijjā chưa được đoạn trừ thông qua việc chứng ngộ Tilakkhaṇa.

  1. One can get to the first anāriya jhāna by focusing on a fixed mundane object (breath or a kasiṇa object).

Người ta có thể đạt được anāriya jhāna đầu tiên bằng cách chú tâm vào một đối tượng thế gian cố định (hơi thở hoặc một kasiṇa).

  • When one does this for long periods and also abstains from sensual pleasures (like ancient yogis did), one can get into the first jhāna, followed by successively higher jhāna, when one practice for longer times.

Khi thực hành như vậy trong thời gian dài, đồng thời tránh xa dục lạc giác quan (như các yogi cổ xưa đã làm), người ta có thể vào được tầng jhāna thứ nhất, rồi dần dần tiến đến các jhāna cao hơn với thời gian tu tập lâu hơn.

  • Conventional breath meditation is a kasiṇa meditation, since it focuses on the breath.

Pháp thiền hơi thở thông thường thực chất là một dạng thiền kasiṇa, vì nó lấy hơi thở làm đối tượng.

  1. This is how all living beings in the lower realms get into the Abhassara Brahma realm when our world system (Cakkavata) is destroyed in a “loka vināsaya.” When the Sun starts heating up, fine sense objects start being destroyed, and less sensual objects will be there to trigger kāma rāga. All humans and animals will move to higher realms (over an antakkappa which lasts billions of years).

Đây là cách mà tất cả chúng sinh ở các cõi thấp đi vào cõi Abhassara Brahma khi hệ thế giới của chúng ta (Cakkavata) bị hủy diệt trong một “loka vināsaya.” Khi Mặt Trời bắt đầu nóng lên, các đối tượng giác quan vi tế dần bị hủy hoại, và sẽ ngày càng ít các đối tượng mang tính dục lạc để kích hoạt kāma rāga. Tất cả loài người và động vật sẽ dần dần chuyển lên các cõi cao hơn (trong suốt một antakkappa kéo dài hàng tỷ năm).

  • When the human and animal realms are destroyed, all those beings would be reborn in the first rūpa When that is gradually destroyed, they will be reborn in the next higher realm, and so on, until they are all in the Abhassara realm.

Khi các cõi người và động vật bị hủy diệt, tất cả những chúng sinh đó sẽ tái sinh vào các cõi rūpa đầu tiên. Khi các cõi này dần dần bị hủy hoại, họ sẽ tái sinh vào cõi cao hơn kế tiếp, cứ như vậy cho đến khi tất cả đều ở trong cõi Abhassara.

  • Even though all dense material realms are destroyed at the destruction of the Sun and the Earth [loka vinasaya], all rūpa and arūpa realms at or above the Abhassara realm remain intact. When the Solar system is “re-formed” after billions of years, they all gradually come down to lower realms. See “Buddhism and Evolution – Aggañña Sutta (DN 27).”

Mặc dù tất cả các cõi vật chất thô bị hủy diệt khi Mặt Trời và Trái Đất bị phá hủy [loka vinasaya], tất cả các cõi rūpa và arūpa ở mức Abhassara trở lên vẫn còn nguyên vẹn. Khi hệ Mặt Trời được “tái hình thành” sau hàng tỷ năm, các chúng sinh đó sẽ dần dần đi xuống các cõi thấp hơn. Xem “Buddhism and Evolution – Aggañña Sutta (DN 27).”

  • Just like none of those living beings had removed their anusaya (or broken the saṁyojana), one engaged in mundane jhānā has not removed them either.

Cũng giống như các chúng sinh đó chưa hề loại bỏ anusaya (hay phá vỡ các saṁyojana), người thực hành jhāna thế tục cũng chưa loại bỏ được chúng.

  1. On the other hand, one gets to the first Ariya jhāna by focusing on the “cooling down” (Nibbāna) one has seen. This is usually done by reciting/contemplating the verse “etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ…”, and also recalling one’s own experience of Nibbāna (cooling down).

Mặt khác, người ta đạt đến Ariya jhāna thứ nhất bằng cách tập trung vào sự “nguội mát” (Nibbāna) mà mình đã thấy. Điều này thường được thực hiện bằng cách tụng niệm/quán chiếu câu kệ “etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ…”, đồng thời hồi tưởng lại chính kinh nghiệm Nibbāna (sự nguội mát) của bản thân.

The best example from the Tipiṭaka is Ven. Moggallāna. We all know that Ven. Moggallāna (Kolita before becoming a bhikkhu), attained the Sotāpanna stage upon hearing a single verse by Ven. Assaji and then conveyed to him by Upatissa.

Ví dụ điển hình nhất trong Tipiṭaka là Tôn giả Moggallāna. Chúng ta đều biết rằng Tôn giả Moggallāna (trước khi xuất gia có tên là Kolita) đã chứng đắc quả Sotāpanna chỉ sau khi nghe một bài kệ duy nhất do Tôn giả Assaji thuyết giảng và được Upatissa truyền đạt lại.

  • Then Kolita (and Upatissa) went to see the Buddha and were ordained. It took them a week to two weeks to attain Arahanthood. The WebLink: suttacentral: Moggallāna Saṁyutta in the Saṁyutta Nikāya has nine suttā that describe step-by-step how Ven. Moggallāna attained Ariya jhānā one by one starting with the first Ariya jhāna. Thus it is pretty clear that the Sotāpanna stage comes before any Ariya (supramundane) jhāna.

Sau đó Kolita (và Upatissa) đến gặp Đức Phật và được xuất gia. Chỉ trong vòng một đến hai tuần, họ đã chứng đắc Arahanthood. WebLink: suttacentral: Moggallāna Saṁyutta in the Saṁyutta Nikāya có chín bài sutta mô tả từng bước cách Tôn giả Moggallāna chứng đắc các Ariya jhāna, bắt đầu từ Ariya jhāna thứ nhất. Do đó, rất rõ ràng rằng bậc Sotāpanna đến trước bất kỳ Ariya (siêu thế) jhāna nào.

  • In particular, the very first sutta there describes how the Buddha came to him by iddhi bala and encouraged him to cultivate the first Ariya jhāna (WebLink: suttacentral: Paṭhamajhāna Pañhā Sutta; SN 40.1): “..Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iddhiyā upasaṅkamitvā etadavoca: ‘moggallāna, moggallāna. Mā, brāhmaṇa, paṭhamaṁ jhānaṁ pamādo, paṭhame jhāne cittaṁ saṇṭhapehi, paṭhame jhāne cittaṁ ekodiṁ karohi, paṭhame jhāne cittaṁ samādahā’ti..” OR “..the Buddha came to me by iddhi bala and told me: Moggallāna, Moggallāna, Brahmana, do not become delayed, cultivate the first jhāna…”

Đặc biệt, bài sutta đầu tiên mô tả việc Đức Phật đến với ngài bằng iddhi bala và khuyến khích ngài tu tập Ariya jhāna thứ nhất (WebLink: suttacentral: Paṭhamajhāna Pañhā Sutta; SN 40.1): “..Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iddhiyā upasaṅkamitvā etadavoca: ‘moggallāna, moggallāna. Mā, brāhmaṇa, paṭhamaṁ jhānaṁ pamādo, paṭhame jhāne cittaṁ saṇṭhapehi, paṭhame jhāne cittaṁ ekodiṁ karohi, paṭhame jhāne cittaṁ samādahā’ti..” Hoặc: “..Đức Phật đến với tôi bằng iddhi bala và nói: Moggallāna, Moggallāna, này Bà-la-môn, đừng chậm trễ, hãy tu tập jhāna thứ nhất…”

  • The subsequent suttā in the Moggallāna Saṁyutta describe how the Buddha instructed him through each successive rūpāvacara jhāna and arūpāvacara samāpatti up to nirodha samāpatti, where Ven. Moggallāna developed all iddhi bala and became second only to the Buddha in supernormal powers.

Các bài sutta tiếp theo trong Moggallāna Saṁyutta mô tả cách Đức Phật hướng dẫn ngài qua từng rūpāvacara jhāna và arūpāvacara samāpatti cho đến nirodha samāpatti, nơi Tôn giả Moggallāna phát triển đầy đủ iddhi bala và trở thành người chỉ đứng sau Đức Phật về thần thông.

  1. Thus, one needs to be an Anāgāmi to attain the first Ariya jhāna because one needs to remove kāma rāga anusaya to get to even the first Ariya jhāna; see, for example, “WebLink: suttacentral: Jhāna Sutta (Aṅguttara Nikāya 9.36).” See “Pannāvimutti – Arahanthood without Jhāna.”

Do đó, một người cần phải là Anāgāmi mới có thể đạt được Ariya jhāna thứ nhất, bởi vì cần phải loại bỏ kāma rāga anusaya để đạt được ngay cả Ariya jhāna thứ nhất; xem, chẳng hạn, “WebLink: suttacentral: Jhāna Sutta (Aṅguttara Nikāya 9.36).” Xem thêm “Pannāvimutti – Arahanthood without Jhāna.”

  • This means one is essentially an Anāgāmī by the time one is fully absorbed in the first Ariya jhāna. But a Sotāpanna could be in the vicinity of the first Ariya jhāna. There are three levels for a given jhāna: hīna (weak), majjhima (middle), and panīta (strong).

Điều này có nghĩa là về bản chất, một người đã là Anāgāmī khi hoàn toàn an trú trong Ariya jhāna thứ nhất. Tuy nhiên, một Sotāpanna có thể ở gần mức Ariya jhāna thứ nhất. Có ba mức độ cho một jhāna: hīna (yếu), majjhima (trung bình), và panīta (cao).

  • After that one gets to higher Ariya jhānā by doing vipassanā (insight meditation) on the anicca nature of that jhāna that one is already in, i.e., by eliminating successive jhāna factors OR one may be able to attain Nibbāna directly form there; see, “WebLink: suttacentral: Sallekha Sutta (MN 8).”

Sau đó, người ta đạt đến các Ariya jhāna cao hơn bằng cách thực hành vipassanā (thiền tuệ) trên bản chất anicca của chính jhāna mà mình đang ở trong đó, tức là bằng cách loại bỏ dần các jhānaṅga, HOẶC có thể trực tiếp chứng đắc Nibbāna ngay từ đó; xem “WebLink: suttacentral: Sallekha Sutta (MN 8).”

  • Since any jhāna is associated with either a rūpa realm or an arūpa realm, those states are subject to the anicca nature, just like everything else that belongs to this world of 31 realms.

Vì bất kỳ jhāna nào cũng gắn liền với một cõi rūpa hoặc arūpa, nên các trạng thái đó đều chịu sự chi phối của bản chất anicca, giống như mọi thứ khác thuộc thế giới 31 cõi này.

  1. Those who have higher wisdom can attain even the Arahant stage before getting to any jhāna or from lower Ariya or anāriya jhāna; they are called paññāvimutti Arahants. They may cultivate (Ariya) jhāna after the Arahanthood to seek relief until the end of their current life. Jhānic pleasures are the only “pleasures” recommended by the Buddha; of course, they are not sensory pleasures belonging to kāma loka.

Những người có trí tuệ cao có thể chứng đắc ngay cả quả Arahant trước khi đạt đến bất kỳ jhāna nào, hoặc từ các Ariya hay anāriya jhāna thấp hơn; họ được gọi là paññāvimutti Arahant. Sau khi chứng quả vị Arahant, họ có thể tu tập (Ariya) jhāna để tìm sự an lạc cho đến khi chấm dứt đời sống hiện tại. Lạc thọ của jhāna là những “lạc thọ” duy nhất được Đức Phật khuyến khích; dĩ nhiên, chúng không phải là các lạc thọ giác quan thuộc kāma loka.Top of Form

Bottom of Form

Top of Form

Bottom of Form

Top of Form

Bottom of Form

Top of Form

 

  • For example, minister Santati attained Arahanthood without any jhāna; he had just returned from fighting a war! See #4 of “Pannāvimutti – Arahanthood without Jhāna” for more examples. They are paññāvimutti Arahants.

Ví dụ, đại thần Santati đã chứng đắc Arahanthood mà không cần bất kỳ jhāna nào; ông vừa mới trở về sau khi tham chiến! Xem mục #4 của “Pannāvimutti – Arahanthood without Jhāna” để biết thêm các ví dụ khác. Những vị này là các bậc Arahant thuộc loại paññāvimutti.

  • On the other hand, some go through the Ariya jhānās to attain Arahanthood, as Ven Moggallāna did; see #11 above.) Such Arahants are called “liberated both ways” or ubhatovimutti Arahants.

Ngược lại, có những vị đi qua các Ariya jhāna để chứng đắc Arahanthood, như trường hợp của Trưởng lão Moggallāna; xem mục #11 ở trên. Những vị Arahant như vậy được gọi là “giải thoát theo cả hai con đường”, hay các bậc Arahant ubhatovimutti.

  1. A question arises as to whether one can get into anāriya jhāna while cultivating Ariya jhāna, i.e. while following kammaṭṭhāna that are based on contemplating the Tilakkhaṇa and taking Nibbāna as the ārammaṇa. The unknown factor here is whether the meditator is really focused on those things.

Một câu hỏi được đặt ra là liệu một người có thể rơi vào anāriya jhāna trong khi đang tu tập Ariya jhāna hay không, tức là khi hành trì các kammaṭṭhāna dựa trên việc quán chiếu Tilakkhaṇa và lấy Nibbāna làm ārammaṇa. Yếu tố chưa thể biết ở đây là người hành thiền có thực sự tập trung đúng vào những điều đó hay không.

  • Therefore, that is a question that can be answered only by the person in question. Just because one is reciting Ariya kammaṭṭhāna does not necessarily mean one will get to Ariya jhāna. What matters is whether one has attained the Sotāpanna stage first, because one needs to keep Nibbāna as the ārammaṇa, not a worldly object (even light).

Vì vậy, đây là câu hỏi chỉ chính người đang hành trì mới có thể tự trả lời. Chỉ vì một người đang tụng niệm hay thực hành Ariya kammaṭṭhāna không có nghĩa là người đó chắc chắn sẽ đạt được Ariya jhāna. Điều quan trọng là người ấy đã chứng đắc tầng Sotāpanna hay chưa, bởi vì cần phải giữ Nibbāna làm ārammaṇa, chứ không phải là một đối tượng thế gian (kể cả ánh sáng).

  • We know that Devadatta, who had cultivated anāriya jhāna AND attained iddhi powers, finally ended up in an apāya. Even though he had been exposed to the correct interpretation of Tilakkhaṇa, he had not grasped them.

Chúng ta biết rằng Devadatta, người đã tu tập anāriya jhāna VÀ thậm chí đạt được các năng lực iddhi, cuối cùng vẫn rơi vào một cõi apāya. Mặc dù đã từng được tiếp xúc với sự giải thích đúng đắn về Tilakkhaṇa, ông vẫn không thực sự thấu hiểu được chúng.

  • The best way to confirm is the following: If one has attained the first Ariya jhāna, one would have removed kāma rāga anusaya. Watch an adult movie and see whether sensual (sexual) thoughts arise!

Cách tốt nhất để tự kiểm chứng là như sau: nếu một người đã đạt được Ariya jhāna thứ nhất, thì người đó đã đoạn trừ kāma rāga anusaya. Hãy xem một bộ phim người lớn và quan sát xem các ý nghĩ dục lạc (tính dục) có khởi lên hay không!

  1. However, anāriya jhāna cannot be labeled as “bad.” They belong to higher (rūpāvacara) mental states, and those who have cultivated anāriya jhāna will have an easier time attaining magga phala. One needs to contemplate the anicca nature of jhānic

Tuy nhiên, không thể xem anāriya jhāna là “xấu”. Chúng thuộc về các trạng thái tâm cao hơn (thuộc rūpāvacara), và những ai đã tu tập anāriya jhāna sẽ có thuận lợi hơn trong việc chứng đắc magga phala. Điều cần thiết là phải quán chiếu bản chất anicca của các trạng thái jhāna.

  • One can attain any magga phala up to full Nibbāna (Arahanthood) from ANY of the anāriya jhāna. This is how the 89 cittā become 121 cittā; see “The 89 (121) Types of Citta.”

Người ta có thể chứng đắc bất kỳ magga phala nào, cho đến Nibbāna viên mãn (Arahanthood), từ BẤT KỲ anāriya jhāna nào. Đây chính là lý do vì sao 89 cittā trở thành 121 cittā; xem “The 89 (121) Types of Citta”.

  1. The critical question is “If mundane and supramundane jhāna seem to have similar characteristics that one feels, then how does one determine whether one has attained mundane or supramundane jhāna?”

Câu hỏi then chốt là: “Nếu jhāna thế gian và jhāna siêu thế có vẻ mang lại những cảm nhận tương tự nhau, thì làm sao để xác định mình đã đạt jhāna thế gian hay jhāna siêu thế?”

  • As we saw above, one gets to the first Ariya jhāna by REMOVING kāma rāga, not just by suppressing as in anāriya jhāna, i.e., one is essentially an Anāgāmī if one can be fully absorbed in the first Ariya jhāna.

Như đã thấy ở trên, người ta đạt được Ariya jhāna thứ nhất bằng cách ĐOẠN TRỪ kāma rāga, chứ không chỉ là đè nén như trong anāriya jhāna. Nói cách khác, nếu có thể hoàn toàn an trú trong Ariya jhāna thứ nhất, thì về bản chất người đó là một bậc Anāgāmī.

  • While it may not be straightforward to determine whether one is a Sotāpanna or not, it is relatively easy to determine whether one is an Anāgāmī, who has removed all kāma rāga: one’s CRAVING for ALL sensory pleasures (food, music, sex, etc) should not be there anymore. This DOES NOT mean, for example, that one should not eat tasty foods, or that one will not taste the sweetness of sugar. But one will not have the urge to drink or to engage in sex, for example.

Mặc dù không dễ để xác định một người đã là Sotāpanna hay chưa, nhưng lại tương đối dễ để nhận biết một bậc Anāgāmī, người đã đoạn trừ hoàn toàn kāma rāga: sự THAM ÁI đối với TẤT CẢ các lạc thú giác quan (thức ăn, âm nhạc, tình dục, v.v.) không còn nữa. Điều này KHÔNG có nghĩa là người đó không ăn thức ăn ngon hay không cảm nhận được vị ngọt của đường; mà là người đó không còn sự thôi thúc muốn uống rượu hay tham gia vào các hoạt động tình dục, chẳng hạn.

  1. Finally, a common problem is that some people get attached to mundane jhānic pleasures and get trapped there (for some, even a state of calmness is enough!). They must realize that anāriya (mundane) jhānic states belong to this world. Until those bonds to a given realm in this world are removed, one would remain in the rebirth process (and thus, future suffering in the apāyā is not eliminated). We have attained the highest anāriya jhānā numerous times in our deep past.

Cuối cùng, một vấn đề thường gặp là có những người bị dính mắc vào các khoái lạc của jhāna thế gian và bị kẹt lại ở đó (đối với một số người, chỉ cần trạng thái an tịnh là đủ!). Họ cần nhận ra rằng các trạng thái jhāna anāriya (thế gian) vẫn thuộc về thế giới này. Chừng nào các ràng buộc đối với một cõi nào đó trong thế gian này chưa được đoạn trừ, thì người ấy vẫn còn trong vòng luân hồi tái sinh (và do đó, khổ đau trong các cõi apāya trong tương lai vẫn chưa được loại bỏ). Trong quá khứ rất xa xưa, chúng ta đã từng đạt đến anāriya jhāna cao nhất vô số lần.

  • Those who can quickly get into anāriya (mundane) jhāna, can do so most likely because they had cultivated jhāna in recent lives, possibly in the current human bhava.

Những ai có thể nhanh chóng nhập vào anāriya jhāna (thế gian) rất có thể là do họ đã tu tập jhāna trong những đời gần đây, thậm chí có thể ngay trong bhava làm người hiện tại.

  • Furthermore, those who cannot get into even anāriya (mundane) jhāna, should not be concerned. It could just be that they had not cultivated jhāna in recent births. As discussed above, jhānā are not necessary to attain magga phala. Thus, some people may have even attained the Sotāpanna stage but may be stressed unnecessarily because of their inability to get into jhāna.

Hơn nữa, những ai thậm chí không thể đạt được anāriya jhāna (thế gian) cũng không nên lo lắng. Đơn giản có thể là họ chưa từng tu tập jhāna trong các đời gần đây. Như đã thảo luận ở trên, jhāna không phải là điều kiện bắt buộc để chứng đắc magga phala. Vì vậy, có những người thậm chí đã đạt đến tầng Sotāpanna nhưng lại tự gây căng thẳng không cần thiết chỉ vì họ không thể nhập jhāna.

  • The basic layout was presented in this post. Further details at “Samādhi, Jhāna (Dhyāna), Magga Phala.”

Bố cục cơ bản đã được trình bày trong bài viết này. Các chi tiết thêm có tại “Samādhi, Jhāna (Dhyāna), Magga Phala.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *