4.7.3 Jhānic Experience in Detail – Sāmaññaphala Sutta (DN 2) / Trải nghiệm Jhāna Chi tiết – Sāmaññaphala Sutta (DN 2)

March 2, 2019; revised January 3, 2021; revised #4 on February 14, 2022; February 1, 2023

Ngày 2/3/2019; sửa đổi ngày 3/01/2021; sửa đổi mục #4 ngày 14/2/2022; ngày 1/2/2023

Introduction

Giới thiệu

  1. The Buddha clearly describes the jhānic experiences in the first four jhāna in the “WebLink: suttacentral: Sāmaññaphala Sutta (DN 2).”

Đức Phật đã mô tả rõ ràng các trải nghiệm jhāna trong bốn tầng jhāna đầu tiên trong “WebLink: suttacentral: Sāmaññaphala Sutta (DN 2).”

  • There are many conceptions about what it feels like to be in different jhānic Therefore, it is good to have a description by the Buddha to get a good idea about the experience.

Có nhiều quan niệm khác nhau về cảm giác khi ở trong các trạng thái jhāna; vì vậy, mô tả trực tiếp từ Đức Phật giúp hình dung đúng đắn về trải nghiệm này.

  • It is a long sutta, and I will provide the English translation for its relevant sections. The Pāli version can be found in the link above.

Đây là một sutta dài; ở đây chỉ trình bày bản dịch các đoạn liên quan. Bản Pāli có thể xem tại đường dẫn trên.

  1. Jhānic experiences in Ariya and anāriya jhānā may have some standard features since these jhānā correspond to mental states of rūpāvacara Brahma However, the Buddha clearly stated that anāriya jhāna are “burdened” and not as peaceful as Ariya jhānā; see, “Tapussa Sutta (AN 9.41)– Akuppā Cetovimutti.”

Trải nghiệm jhāna trong Ariya jhāna và anāriya jhāna có thể có một số đặc điểm chung vì chúng tương ứng với các trạng thái tâm của các cõi rūpāvacara Brahma. Tuy nhiên, Đức Phật nói rõ rằng anāriya jhāna là “nặng nề” và không an tịnh bằng Ariya jhāna; xem “Tapussa Sutta (AN 9.41) – Akuppā Cetovimutti.”

  • To get into jhāna, one must transcend (elevate one’s mindset above) the sensual realms (kāma loka).

Để nhập jhāna, hành giả phải vượt lên trên các cõi dục (kāma loka).

  • This means one’s mind needs to be devoid of sensual thoughts (kāma rāga) and dasa akusala AND focused on renunciation and compassion (savitakka/savicāra). In any sutta describing the jhānic experience, there is this phrase: “So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati…”

Điều này có nghĩa là tâm phải vắng mặt các tư duy dục (kāma rāga) và dasa akusala, đồng thời an trú vào tư duy ly dục và từ bi (savitakka/savicāra).
Trong bất kỳ sutta
nào mô tả trải nghiệm jhāna đều có câu: “So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati…”

  • Translated:Withdrawn from sensuality, withdrawn from akusala thoughts, and engaged in thoughts of renunciation and compassion, he enters and remains in the first jhāna…”

Dịch: “Ly dục, ly các pháp bất thiện, an trú trong tư duy ly dục và từ bi, vị ấy nhập và an trú trong tầng jhāna thứ nhất…”

Experience in the First Jhāna

Trải nghiệm trong Tầng Jhāna Thứ Nhất

  1. “Withdrawn from sense pleasures, withdrawn from akusala thoughts, he enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by savitakka and savicāra (applied and sustained moral thoughts). His mind is filled with joy (pīti), and the whole body is suffused and filled with bodily happiness (sukha) born from withdrawal from sense pleasures (kāma) and akusala This rapture and happiness suffuse his entire body. (It should be noted that vitakka/vicāra or kāma and akusala thoughts are not completely removed in the first jhāna).”

“Ly các dục lạc, ly các tư duy bất thiện, vị ấy nhập và an trú trong tầng jhāna thứ nhất, được đi kèm với savitakkasavicāra (các tư duy thiện được khởi lên và duy trì). Tâm vị ấy tràn đầy hỷ (pīti), và toàn thân được thấm nhuần, tràn ngập lạc thân (sukha) phát sinh từ sự ly dục (kāma) và ly các tư duy akusala. Hỷ và lạc này thấm nhuần toàn bộ thân thể. (Cần lưu ý rằng vitakka/vicāra hoặc các tư duy về kāmaakusala chưa bị loại bỏ hoàn toàn trong tầng jhāna thứ nhất).”

  • “Great king, suppose a skilled bath attendant or his apprentice were to pour soap powder into a metal basin, sprinkle it with water, and knead it into a ball so that the ball of soap (used in those days) be pervaded by moisture, encompassed by moisture, suffused with moisture inside and out, yet would not trickle. Similarly, the great king, the bhikkhu, drenches, steeps, saturates, and suffuses his entire body with the rapture and happiness born of seclusion. This, great king, is a visible fruit of a life abstaining from kāma and akusala.

“Thưa Đại vương, ví như một người thợ tắm lành nghề hoặc người học việc của ông ta đổ bột xà phòng vào một chậu kim loại, rưới nước lên và nhào nặn thành một khối, sao cho khối xà phòng (được dùng vào thời ấy) thấm nhuần độ ẩm, được bao phủ bởi độ ẩm, ẩm thấm cả trong lẫn ngoài nhưng không chảy nhỏ giọt. Cũng vậy, thưa Đại vương, vị bhikkhu làm cho toàn thân mình được thấm đẫm, ngấm nhuần, bão hòa và lan tỏa bởi hỷ và lạc sinh từ viễn ly. Điều này, thưa Đại vương, là quả thấy rõ của một đời sống xa lìa kāma và akusala.

Experience in the Second Jhāna

Kinh nghiệm về Tầng Jhāna Thứ Hai

  1. “Further, great king, with the removal of vitakka/vicāra (but savitakka/savicāra remain), the bhikkhu enters and dwells in the second jhāna, which is accompanied by internal confidence and unification of mind, is without sensual (kāma) or immoral (akusala) thoughts [vitakka and vicāra], and is filled with the rapture and happiness born of concentration. He drenches, steeps, saturates, and suffuses his body with this rapture and happiness born of concentration so that this rapture and happiness suffuse his entire body. See, “Vitakka, Vicāra, Savitakka, Savicāra, and Avitakka, Avicāra.”

“Lại nữa, thưa Đại vương, với sự đoạn trừ vitakka/vicāra (nhưng savitakka/savicāra vẫn còn), vị bhikkhu chứng và an trú trong tầng jhāna thứ hai, được đi kèm với niềm tin nội tại và sự nhất tâm của tâm, không còn các tư tưởng dục (kāma) hay bất thiện (akusala) [vitakka và vicāra], và tràn đầy hỷ và lạc sinh từ định. Vị ấy làm cho toàn thân mình được thấm đẫm, ngấm nhuần, bão hòa và lan tỏa bởi hỷ và lạc sinh từ định, khiến hỷ và lạc ấy bao trùm toàn thân. Xem thêm “Vitakka, Vicāra, Savitakka, Savicāra, and Avitakka, Avicāra.”

  • “Great king, suppose there was a deep lake whose waters rose from below. It would have no inlet for water from the east, west, north, or south, nor would it be refilled from time to time with showers of rain; yet a current of cool water, seeping through underground channels, would maintain the water level, so that the entire lake is filled to the brim. Similarly, the great king, the bhikkhu, drenches, steeps, saturates and suffuses his body with the rapture and happiness born of concentration so that his entire body is suffused with this rapture and happiness. This great king is a visible fruit of a life abstaining from kāma and akusala.

“Thưa Đại vương, ví như có một hồ nước sâu, nước trong hồ dâng lên từ bên dưới; hồ ấy không có dòng nước chảy vào từ phương đông, tây, bắc hay nam, cũng không được bổ sung từng lúc bởi mưa rào; nhưng nhờ dòng nước mát thấm lên từ các mạch ngầm bên dưới mà mực nước vẫn được duy trì, khiến toàn bộ hồ đầy tràn đến miệng. Cũng vậy, thưa Đại vương, vị bhikkhu làm cho toàn thân mình được thấm đẫm, ngấm nhuần, bão hòa và lan tỏa bởi hỷ và lạc sinh từ định, khiến hỷ và lạc ấy bao trùm toàn thân. Điều này, thưa Đại vương, là quả thấy rõ của một đời sống xa lìa kāma và akusala.

Experience in the Third Jhāna

Kinh nghiệm về Tầng Jhāna Thứ Ba

  1. “Further, great king, with the fading away of rapture (pīti or joy is lost), the bhikkhu dwells in equanimity, mindful and comprehending, and experiences happiness with the body. Thus he enters and dwells in the third jhāna, of which the noble ones declare: ‘He dwells happily with equanimity and mindfulness.’ He drenches, steeps, saturates, and suffuses his body with this happiness free from rapture so that his entire body is suffused with this happiness.

“Lại nữa, thưa Đại vương, khi hỷ (pīti, niềm vui) phai nhạt, vị bhikkhu an trú trong xả, có chánh niệm và tỉnh giác, và cảm nhận lạc nơi thân. Như vậy, vị ấy chứng và an trú trong tầng jhāna thứ ba, mà các bậc Thánh tuyên bố rằng: ‘Vị ấy an trú hạnh phúc với xả và chánh niệm.’ Vị ấy làm cho toàn thân mình được thấm đẫm, ngấm nhuần, bão hòa và lan tỏa bởi lạc không còn hỷ, khiến toàn thân được bao trùm bởi lạc ấy.

  • “Great king, suppose in a lotus pond there were blue, white, or red lotuses that have been born in the water, grow in the water, and never rise above the water, but flourish immersed in the water. From their tips to their roots, they would be drenched, steeped, saturated, and suffused with cool water, so that there would be no part of those lotuses not suffused with cool water. Similarly, the great king, the bhikkhu, drenches, steeps, saturates and suffuses his body with happiness free from rapture so that this happiness suffuses his entire body. This great king is a visible fruit of a life abstaining from kāma and akusala.

“Thưa Đại vương, ví như trong một ao sen có những hoa sen xanh, trắng hay đỏ được sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước mà tươi tốt khi chìm trong nước. Từ ngọn đến rễ, chúng đều được thấm đẫm, ngấm nhuần, bão hòa và lan tỏa bởi nước mát, đến nỗi không có phần nào của những hoa sen ấy không được thấm nhuần bởi nước mát. Cũng vậy, thưa Đại vương, vị bhikkhu làm cho toàn thân mình được thấm đẫm, ngấm nhuần, bão hòa và lan tỏa bởi lạc không còn hỷ, khiến lạc ấy bao trùm toàn thân. Điều này, thưa Đại vương, là quả thấy rõ của một đời sống xa lìa kāma và akusala.

Experience in the Fourth Jhāna

Kinh nghiệm về Tầng Jhāna Thứ Tư

  1. “Further, great king, with the abandoning of bodily pleasure (sukha), the bhikkhu enters and dwells in the fourth jhāna, which is neither pleasant nor painful and contains mindfulness fully purified by equanimity. He sits suffusing his body with a pure bright mind so that there is no part of his entire body not suffused by a pure bright mind (one’s physical body no longer is felt, and only a “white light” is discerned; that white light is the only “rūpa” left to be cognized).

“Lại nữa, thưa Đại vương, với sự từ bỏ lạc nơi thân (sukha), vị bhikkhu chứng và an trú trong tầng jhāna thứ tư, trạng thái không khổ không lạc, có chánh niệm được thanh tịnh hoàn toàn nhờ xả. Vị ấy ngồi, làm cho toàn thân mình được lan tỏa bởi một tâm sáng trong thuần tịnh, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được lan tỏa bởi tâm sáng trong ấy (lúc này thân vật lý không còn được cảm nhận, và chỉ còn nhận biết một “ánh sáng trắng”; ánh sáng trắng ấy là “rūpa” duy nhất còn được nhận thức).

  • “Great king, suppose a man were to be sitting covered from the head down by a white cloth so that there would be no part of his entire body not suffused by the white cloth. In the same way, great king, the bhikkhu sits suffusing his body with a pure bright mind, so that there is no part of his entire body not suffused by a pure bright mind. This, too, is a visible fruit of a life abstaining from kāma and akusala.

“Thưa Đại vương, ví như có một người ngồi được phủ từ đầu đến chân bằng một tấm vải trắng, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được bao phủ bởi tấm vải trắng ấy. Cũng vậy, thưa Đại vương, vị bhikkhu ngồi làm cho toàn thân mình được lan tỏa bởi một tâm sáng trong thuần tịnh, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được lan tỏa bởi tâm sáng trong ấy. Điều này cũng là quả thấy rõ của một đời sống xa lìa kāma và akusala.

The sutta now proceeds to describe what the bhikkhu could further accomplish.

Kinh này tiếp tục mô tả những thành tựu sâu xa hơn mà vị bhikkhu có thể đạt được.

  • “With his mind thus concentrated, purified, bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to knowledge and vision. He discerns: ‘This body of mine is endowed with form, composed of the four primary elements, born from mother and father, nourished with rice and porridge, subject to inconstancy, rubbing, pressing, dissolution, and dispersion. And this consciousness of mine is supported here and bound up here.’

Với tâm đã được định tĩnh như vậy, được thanh tịnh, sáng chói, không cấu uế, không khuyết tật, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động, vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm đến tri kiến và tuệ kiến. Vị ấy quán sát: “Thân này của ta có hình sắc, do tứ đại hợp thành, sinh ra từ cha mẹ, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, chịu sự vô thường, bị cọ xát, đè ép, tan rã và phân tán. Và thức này của ta được nương tựa ở đây và bị ràng buộc ở đây.”

  • In other words, the bhikkhu can now see the ādīnava (drawbacks) and the burden of carrying one’s own physical body.

Nói cách khác, vị bhikkhu lúc này có thể thấy rõ ādīnava (những nguy hại, bất lợi) và gánh nặng của việc mang vác chính thân vật lý của mình.

Essential Background to Attain Jhāna

Nền tảng thiết yếu để chứng đắc Jhāna

  1. Sāmaññaphala Sutta is an excellent sutta that also discusses in detail how one can set up the necessary background to attain jhāna.

Sāmaññaphala Sutta là một sutta xuất sắc, trong đó cũng trình bày chi tiết cách thiết lập những nền tảng cần thiết để chứng đắc jhāna.

Bài sutta này quá dài để có thể bàn luận đầy đủ trong một bài viết. Người đọc có thể tham khảo bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Bodhi để có cái nhìn tổng quát: “WebLink: PDF Download: The Sāmaññaphala Sutta.” Đây là một tệp pdf có thể tải về.

  1. Also note that while the abandonment of the ten types of micchā diṭṭhi is needed for even anāriya jhānā.

Cũng cần lưu ý rằng, ngay cả để đạt được anāriya jhāna, việc đoạn trừ mười loại micchā diṭṭhi cũng là điều cần thiết.

  • Ariya jhānā require a level of comprehension of Tilakkhaṇa also, and thus only Ariyā (Noble Persons) can attain them; see, “Tapussa Sutta (AN 9.41)– Akuppā Cetovimutti.”

Ariya jhāna còn đòi hỏi một mức độ hiểu biết về Tilakkhaṇa, do đó chỉ các bậc Ariyā (Thánh nhân) mới có thể chứng đắc; xem “Tapussa Sutta (AN 9.41) – Akuppā Cetovimutti.”

Eventual Outcomes of Ariya and Anāriya Jhāna

Kết quả Rốt ráo của Ariya jhāna và Anāriya jhāna

 

  1. Both types of jhāna lead to rebirth in corresponding Brahma However, those with anāriya jhāna will return to the human realm at the end of their lifetime, and could subsequently be born in the apāyā.

Cả hai loại jhāna đều dẫn đến tái sinh vào các cõi Brahma tương ứng. Tuy nhiên, những người đạt anāriya jhāna sẽ trở lại cõi người khi hết tuổi thọ, và sau đó vẫn có thể sinh vào apāyā.

  • On the other hand, those who have cultivated Ariya jhānā will never come back to kāma loka, let alone apāyā. They will attain Nibbāna (Arahanthood) in Brahma

Ngược lại, những ai đã tu tập Ariya jhāna thì sẽ không bao giờ quay trở lại kāma loka, huống chi là apāyā. Họ sẽ chứng đắc Nibbāna (quả vị Arahant) ngay trong các cõi Brahma.

  1. This is clearly explained in the “WebLink: suttacentral: Paṭhamanānākaraṇa Sutta (AN 4.123)” and several other suttā.

Điều này được giải thích rõ ràng trong “WebLink: suttacentral: Paṭhamanānākaraṇa Sutta (AN 4.123)” và nhiều sutta khác.

For example, regarding those who have cultivated the first anāriya jhāna:

Ví dụ, đối với những người đã tu tập anāriya jhāna thứ nhất, sutta dạy như sau:

Idha, bhikkhave, ekacco puggalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So tadassādeti, taṁ nikāmeti, tena ca vittiṁ āpajjati. Tattha ṭhito tadadhimutto tabbahulavihārī aparihīno kālaṁ kurumāno brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Brahmakāyikānaṁ, bhikkhave, devānaṁ kappo āyuppamāṇaṁ. Tattha puthujjano yāvatāyukaṁ ṭhatvā yāvatakaṁ tesaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ taṁ sabbaṁ khepetvā nirayampi gacchati tiracchānayonimpi gacchati pettivisayampi gacchati.”

  • Translated: “An individual, withdrawn from kāma rāga, withdrawn akusala, enters and remains in the first jhāna filled with joy (pīti), and the whole body is suffused and filled with bodily happiness (sukha). If he does not lose the jhāna at death, he is born among the Brahmakāyika devas, who have a life span of an eon. These normal humans (puthujjano), having used up all the life-span of those devas, may go to hell (niraya), to the animal realm, and the state of the hungry ghosts (peta).”

Bản dịch: “Một người, sau khi lìa xa kāma rāga, lìa xa akusala, chứng và an trú trong tầng jhāna thứ nhất đầy hỷ (pīti), và toàn thân được thấm nhuần, tràn đầy lạc thân (sukha). Nếu khi chết người ấy không đánh mất jhāna đó, thì được sinh vào hàng Brahmakāyika deva, những vị có tuổi thọ một đại kiếp. Nhưng một phàm nhân (puthujjano), sau khi sống trọn tuổi thọ của các vị deva ấy, có thể rơi vào địa ngục (niraya), súc sinh giới, hoặc cõi ngạ quỷ (peta).”

On the other hand, those who have attained the first Ariya jhāna:

Ngược lại, đối với những ai đã chứng đắc Ariya jhāna thứ nhất, sutta dạy:

Bhagavato pana sāvako tattha yāvatāyukaṁ ṭhatvā yāvatakaṁ tesaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ taṁ sabbaṁ khepetvā tasmiṁyeva bhave parinibbāyati.”

 

  • Translated: “But a disciple of the Blessed One, having stayed there, attains Nibbāna from there.”

Bản dịch: “Còn vị đệ tử của bậc Thế Tôn, sau khi an trú tại đó và sống trọn tuổi thọ tương ứng, sẽ chứng đạt Nibbāna ngay trong chính cõi ấy.”

  1. The same is stated about those who have attained the second, third, and fourth anāriya jhāna. None of them is free from the apāyā.

Điều tương tự cũng được nói đến đối với những ai đã chứng đắc anāriya jhāna thứ hai, thứ ba và thứ tư. Không một ai trong số họ được hoàn toàn thoát khỏi apāyā.

  • On the other hand, those who have cultivated Ariya jhāna attain Nibbāna from those corresponding Brahma

Ngược lại, những ai đã tu tập Ariya jhāna sẽ chứng đạt Nibbāna ngay từ các cõi Brahma tương ứng đó.

  1. This discussion about getting rid of (or at least suppressing) any sensual thoughts or kāma rāga may discourage those new to Buddha Dhamma.

Cuộc thảo luận này về việc loại bỏ (hoặc ít nhất là chế ngự) các tư tưởng dục lạc hay kāma rāga có thể khiến những người mới học Buddha Dhamma cảm thấy nản lòng.

  • That should not be the case; see, “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?” and “Starting on the Path Even without Belief in Rebirth.”

Điều đó không nên xảy ra; hãy xem “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?” và “Starting on the Path Even without Belief in Rebirth.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *