September 2, 2017; revised September 14, 2019; May 5, 2022; July 4, 2022; September 10, 2022; July 29, 2025
Ngày 02/09/2017; chỉnh sửa ngày 14/09/2019; 05/05/2022; 04/07/2022; 10/09/2022; 29/07/2025
- These days, it is customary to state that the Noble Eightfold Path consists of three steps: sīla (moral conduct), samādhi (concentration), and paññā (wisdom). However, that sequence holds only for the mundane Eightfold Path. It does not lead to Nibbāna but only sets the conditions for entering the Noble Eightfold Path. However, this is where one should start.
Ngày nay, người ta thường nói rằng Bát Chánh Đạo gồm ba bước: sīla (giới), samādhi (định), và paññā (tuệ). Tuy nhiên, trình tự đó chỉ đúng với Bát Chánh Đạo thế gian. Nó không trực tiếp dẫn đến Nibbāna, mà chỉ tạo điều kiện để bước vào Bát Thánh Đạo. Dù vậy, đây chính là điểm khởi đầu cần thiết.
- In this initial stage, one cultivates sīla by living a moral life by making a determined effort not to violate the five precepts; see “ The Basics in Meditation.”
Ở giai đoạn ban đầu này, người ta tu tập sīla bằng cách sống đời đạo đức, quyết tâm không vi phạm năm giới; xem “2. The Basics in Meditation”.
- Samādhi is much more than concentration; see, “What is samādhi? – Three Kinds of Mindfulness.” When one lives a moral life, one’s mindset will gradually change to a calm state (“sama” + “adhi”), as explained in that post.
Samādhi không chỉ đơn thuần là sự tập trung; xem “What is samādhi? – Three Kinds of Mindfulness”. Khi sống đời đạo đức, trạng thái tâm sẽ dần dần trở nên an tĩnh (“sama” + “adhi”), như đã được giải thích trong bài đó.
- With this calm mindset, one will be able to get rid of the ten types of micchā diṭṭhi. Then one reaches mundane Sammā Diṭṭhi or the first level of wisdom.
Với trạng thái tâm an tĩnh ấy, người ta có thể loại bỏ mười loại micchā diṭṭhi. Khi đó, người ta đạt đến Sammā Diṭṭhi thế gian, hay mức độ trí tuệ đầu tiên.
- One must follow the mundane Path before understanding anicca, dukkha, and anatta, and get into the Noble Path. Thus, there are three necessary steps to Nibbāna:
Người ta phải đi theo con đường thế gian trước khi hiểu anicca, dukkha và anatta, rồi mới bước vào Thánh Đạo. Do đó, có ba bước cần thiết để tiến đến Nibbāna:
- Follow the mundane Eightfold Path by living a moral life (sīla) to remove the ten types of micchā diṭṭhi. One can then attain mundane samādhi and achieve the first level of wisdom (paññā): sīla, samādhi, paññā.
Đi theo Bát Chánh Đạo thế gian bằng cách sống đời đạo đức (sīla) để loại bỏ mười loại tà kiến. Khi đó, người ta có thể đạt samādhi thế gian và đạt được mức trí tuệ đầu tiên (paññā): giới, định, tuệ.
- Then start removing a DEEPER layer of micchā diṭṭhi (that this world can offer lasting happiness) by learning the CORRECT versions of anicca, dukkha, and anatta (Tilakkhaṇa).
Sau đó bắt đầu loại bỏ một tầng micchā diṭṭhi SÂU hơn (niềm tin rằng thế giới này có thể mang lại hạnh phúc lâu dài) bằng cách học và hiểu ĐÚNG các khái niệm anicca, dukkha và anatta (Tilakkhaṇa).
- Once one grasps the basics of Tilakkhaṇa, one becomes a Sotāpanna Anugāmi. One then starts living with an unbreakable sīla to attain Sammā samādhi and the four stages of Nibbāna by following paññā, sīla, and samādhi.
Khi nắm vững những điểm căn bản của Tilakkhaṇa, người ấy trở thành Sotāpanna Anugāmi. Từ đó, người ấy bắt đầu sống với sīla bất hoại để đạt Sammā samādhi và bốn giai đoạn của Nibbāna bằng cách thực hành theo trình tự paññā, sīla và samādhi.
- The first level of wisdom, achieved in the mundane path, is called kammassakata Sammā diṭṭhi: understanding that one’s actions, speech, and thoughts (kāya, vacī, and mano saṅkhāra) — one’s kamma — WILL have consequences in the future, both in this life and in future lives.
Mức trí tuệ đầu tiên, đạt được trên con đường thế gian, được gọi là kammassakata Sammā diṭṭhi: sự hiểu biết rằng hành động, lời nói và ý nghĩ của mình (kāya, vacī và mano saṅkhāra), tức kamma của mình, CHẮC CHẮN sẽ mang lại hậu quả trong tương lai, cả trong đời này lẫn các đời sau.
- With kammassakata sammā diṭṭhi, one understands and accepts the fact that what we experience (kamma vipāka, good and bad) is due to our past kamma.
Với kammassakata sammā diṭṭhi, người ta hiểu và chấp nhận rằng những gì mình đang trải nghiệm (kamma vipāka, tốt hay xấu) đều do kamma trong quá khứ của chính mình tạo ra.
- One understands that to encounter good kamma vipāka in the future (including future lives), one needs to cultivate GOOD kamma (i.e., good mano, vacī, and kāya saṅkhāra).
Người ta hiểu rằng để gặp được kamma vipāka tốt trong tương lai (kể cả các đời sau), cần phải tạo kamma TỐT (tức là mano, vacī và kāya saṅkhāra tốt).
- Even more importantly, one starts avoiding strong BAD kamma. Thus, one begins to get rid of the coarse levels of lobha, dosa, and moha, which is the same as preventing dasa akusala.
Quan trọng hơn nữa, người ta bắt đầu tránh tạo các kamma XẤU mạnh. Nhờ đó, các mức thô của lobha, dosa và moha dần được loại bỏ, tương đương với việc ngăn chặn dasa akusala.
- When one follows this “sīla step,” one will begin to experience the early stages of Nibbāna, known as “cooling down”; see “Nirāmisa Sukha” and “How to Taste Nibbāna.”
Khi thực hành “bước sīla” này, người ta sẽ bắt đầu trải nghiệm những giai đoạn sơ khởi của Nibbāna, được gọi là “sự nguội mát”; xem “Nirāmisa Sukha” và “How to Taste Nibbāna”.
- Some people think that if one kills animals without knowing that will have consequences, that will lead to kamma vipāka. That is not correct. “Intention to kill” must be there to bring kamma vipāka.
Một số người cho rằng nếu giết động vật mà không biết hành vi đó sẽ có hậu quả thì vẫn tạo ra kamma vipāka. Điều đó không đúng. Phải có “ý định giết” thì mới dẫn đến kamma vipāka.
- There is no superhuman being who keeps track of what one is doing. But when one intentionally kills an animal, one’s mind knows that, and one’s viññāṇa will adjust accordingly. See “Viññāṇa – What It Really Means.”
Không có một thực thể siêu nhiên nào theo dõi hành vi của con người. Nhưng khi một người cố ý giết một con vật, tâm của người đó tự biết điều ấy, và viññāṇa sẽ tự điều chỉnh tương ứng. Xem “Viññāṇa – What It Really Means”.
- The more one kills animals, the more the viññāṇa capable of killing will only grow. That will lead to a corresponding bhava in the niraya realm (hell), where similar suffering exists.
Càng giết nhiều động vật, thì viññāṇa có khả năng giết hại càng tăng trưởng. Điều đó dẫn đến một bhava tương ứng trong cõi niraya (địa ngục), nơi tồn tại những khổ đau tương tự.
- Therefore, being ignorant of nature’s laws is not an excuse. Not knowing it was unlawful will not be an excuse when one gets caught doing an illegal act.
Vì vậy, không biết các quy luật của tự nhiên không thể là lý do bào chữa. Việc không biết một hành vi là trái luật cũng không thể là lý do bào chữa khi bị bắt vì làm điều phi pháp.
- There is another type of action where one unintentionally kills animals. For example, we kill many insects every time we take a walk. That does not lead to any kamma vipāka.
Có một loại hành động khác là giết động vật một cách vô ý. Ví dụ, mỗi lần đi bộ, ta vô tình giết nhiều côn trùng. Điều đó không dẫn đến kamma vipāka.
- So, only those saṅkhāra (or more correctly abhisaṅkhāra) done with intention lead to viññāṇa (via “saṅkhāra paccayā viññāṇa”), and subsequently lead to births in different realms via “viññāṇa paccayā nāmarūpa,” etc. to “bhava paccayā jāti.”
Do đó, chỉ những saṅkhāra (chính xác hơn là abhisaṅkhāra) được tạo ra với chủ ý mới dẫn đến viññāṇa (qua “saṅkhāra paccayā viññāṇa”), rồi tiếp tục dẫn đến tái sinh ở các cõi khác nhau qua “viññāṇa paccayā nāmarūpa”, v.v. cho đến “bhava paccayā jāti”.
- Most people also think that kamma vipāka arises only due to bodily actions (via kāya saṅkhāra). But physical movements, speech, and thoughts all contribute to kamma. It is the cetanā (intention) involved in thoughts, speech, and actions (i.e., mano, vacī, and kāya saṅkhāra) that is kamma. That is explained in the subsection, “Living Dhamma – Fundamentals.”
Nhiều người cũng cho rằng kamma vipāka chỉ phát sinh do hành động thân (qua kāya saṅkhāra). Nhưng các cử động thân thể, lời nói và ý nghĩ đều góp phần tạo kamma. Chính cetanā (ý định) trong ý nghĩ, lời nói và hành động (tức mano, vacī và kāya saṅkhāra) mới là kamma. Điều này được giải thích trong mục “Living Dhamma – Fundamentals”.
- When one begins to comprehend the laws of kamma (the fact that causes lead to similar effects IF suitable conditions are present), one will gradually get to mundane sammā samādhi. Then one’s ability to grasp more profound Dhamma concepts (paññā) will grow; see “Mundane Sammā Samādhi.”
Khi bắt đầu hiểu các quy luật của kamma (rằng nguyên nhân sẽ dẫn đến quả tương ứng NẾU có đủ điều kiện thích hợp), người ta sẽ dần đạt đến sammā samādhi thế gian. Khi đó, khả năng nắm bắt các khái niệm Dhamma sâu sắc hơn (paññā) sẽ tăng trưởng; xem “Mundane Sammā Samādhi”.
- One can stop future suffering only by eliminating the corresponding abhisaṅkhāra, i.e., “saṅkhāra nirodho bhava (and jāti) nirodho.”
Người ta chỉ có thể chấm dứt khổ đau trong tương lai bằng cách loại bỏ các abhisaṅkhāra tương ứng, tức là “saṅkhāra nirodho bhava (và jāti) nirodho”.
- But saṅkhāra can only be stopped by removing avijjā since saṅkhāra are unavoidable as long as avijjā is there. “Avijjā paccayā saṅkhārā.” That is why Sammā Diṭṭhi (understanding Tilakkhaṇa) is so important.
Nhưng saṅkhāra chỉ có thể chấm dứt khi avijjā được loại bỏ, vì saṅkhāra là không thể tránh khỏi chừng nào avijjā còn tồn tại. “Avijjā paccayā saṅkhārā.” Đó là lý do vì sao Sammā Diṭṭhi (hiểu Tilakkhaṇa) lại quan trọng đến vậy.
- One will have a good idea of how births in different realms are associated with different types of suffering. Furthermore, one would see how one’s actions (saṅkhāra) lead to such births. I have summarized them in the table below.
Người ta sẽ có cái nhìn rõ ràng về việc tái sinh ở các cõi khác nhau gắn liền với những loại khổ đau khác nhau như thế nào. Hơn nữa, người ta sẽ thấy rõ cách mà các hành động (saṅkhāra) của mình dẫn đến những sự tái sinh ấy. Tôi đã tóm lược điều này trong bảng dưới đây.
| Realm(s)
Cõi |
Level of Suffering
Mức độ Khổ đau |
Causes
Nguyên nhân |
Generation/Stopping of Saṅkhāra
Tạo tác / Chấm dứt Saṅkhāra |
| Niraya (Hell)
Niraya (Địa ngục) |
Incessant suffering
Khổ đau không gián đoạn |
Dosa: Killing (especially humans), torture, rapes, etc.
Dosa: giết hại (đặc biệt là giết người), tra tấn, hiếp dâm, v.v. |
|
| Peta (Hungry Ghosts)
Peta (Ngạ quỷ) |
Starvation
Đói khát |
Lobha or Excess greed (may I get all, not others)
Lobha hay lòng tham quá mức (chỉ mình được tất cả, không cho người khác) |
|
| Vinipatha Asura
[‘demons’, titans, evil beings]
Vinipatha Asura [‘quỷ’, titan, chúng sinh hung ác)] |
Spend time aimlessly; mostly heavy bodies not easily movable
Thời gian trôi qua vô định; thân nặng nề, khó vận động |
Moha: tīna middha, vicikicchā (lazy, lacking energy)
Moha: tīna middha, vicikicchā (lười biếng, thiếu năng lượng) |
|
| Animal (Tirisan: “tiri” + “san” or with all 3 causes)
Súc sinh (Tirisan: “tiri” + “san” hoặc hội đủ cả ba nguyên nhân) |
Combinations of above three types
Kết hợp của ba loại khổ đau ở trên |
Combinations of lobha, dosa, moha
Kết hợp của lobha, dosa, moha |
|
| Human (Manussa: “mana” + “ussa” or with advanced mind)
Con người (Manussa: “mana” + “ussa”, hay có tâm trí phát triển) |
In between lower and higher realms
Trung gian giữa các cõi thấp và cõi cao |
In between lower and higher realms
Trung gian giữa các cõi thấp và cõi cao |
Almost all saṅkhāra responsible births in all realms occur here.
Hầu như tất cả saṅkhāra dẫn đến tái sinh ở mọi cõi đều được tạo ra tại đây.
|
| Deva (similar to human bodies, but much less dense)
Deva (thân tương tự con người nhưng tinh tế hơn nhiều) |
Mostly no physical suffering and abundant sense pleasures (kāma). But there is mental stress.
Hầu như không có khổ thân và có nhiều lạc thú giác quan (kāma). Tuy nhiên vẫn có khổ tâm. |
Good kamma vipāka (done with alobha, adosa, amoha). Mental stress arises due to kāma rāga.
Kamma vipāka tốt (được tạo với alobha, adosa, amoha). Khổ tâm phát sinh do kāma rāga. |
|
| Rūpāvacara Brahma (only manomaya kāya; cannot be even seen with a microscope)
Rūpāvacara Brahma (chỉ có manomaya kāya; không thể quan sát ngay cả bằng kính hiển vi) |
Mental stress is much reduced. Mainly jhānic pleasures. Vipariṇāma dukkha when close death.
Khổ tâm giảm rất nhiều. Chủ yếu là lạc thọ jhāna. Có vipariṇāma dukkha khi gần lúc chết. |
Suppression of kāma rāga and cultivation of rūpāvacara jhāna (while in the human realm)
Sự chế ngự kāma rāga và tu tập rūpāvacara jhāna (khi còn ở cõi người) |
|
| Arūpāvacara Brahma (only hadaya vatthu and mind)
Arūpāvacara Brahma (chỉ có hadaya vatthu và tâm) |
Only arūpāvacara samāpatti. Vipariṇāma dukkha when close death.
Chỉ có arūpāvacara samāpatti. Có vipariṇāma dukkha khi gần lúc chết. |
Cultivation of arūpāvacara samāpatti (while in the human realm)
Tu tập arūpāvacara samāpatti (khi còn ở cõi người) |
|
| Nibbāna
Nibbāna |
Permanent release from all suffering.
Giải thoát vĩnh viễn khỏi mọi khổ đau. |
Elimination of all causes for existence, i.e., rāgakkhaya, dosakkhaya, mohakkhaya.
Diệt trừ hoàn toàn mọi nguyên nhân của hiện hữu, tức là rāgakkhaya, dosakkhaya, mohakkhaya. |
Mostly attained in the human realm, but possible in higher realms, especially after the Sotāpanna stage.
Chủ yếu đạt được trong cõi người, nhưng cũng có thể đạt ở các cõi cao hơn, đặc biệt sau bậc Sotāpanna. |
- Now, it is clear how future suffering arises via one’s actions, speech, and thoughts (saṅkhāra). It is also clear that suffering decreases, and “nirāmisa sukha” grows at successively higher realms.
Giờ đây đã rõ khổ đau trong tương lai phát sinh như thế nào thông qua hành động, lời nói và ý nghĩ (saṅkhāra) của mỗi người. Cũng rõ rằng khổ đau giảm dần và “nirāmisa sukha” tăng trưởng khi tái sinh lên các cõi cao hơn.
- When one lives a sinful life and engages in dasa akusala like killing, raping, etc., one is likely to be reborn in the lowest four realms (apāyā) and face much suffering. Such actions involve kāya, vacī, and mano saṅkhāra with lobha, dosa, moha.
Khi sống đời tội lỗi và tạo các dasa akusala như giết hại, hiếp dâm, v.v., người ta rất dễ tái sinh vào bốn cõi thấp (apāyā) và phải chịu nhiều khổ đau. Những hành động ấy bao gồm kāya, vacī và mano saṅkhāra đi kèm với lobha, dosa, moha.
- One is likely to be born in rūpa or arūpa Brahma loka when one cultivates jhānā by even abandoning kāma rāga (at least temporarily).
Khi tu tập jhānā bằng cách từ bỏ kāma rāga (ít nhất là tạm thời), người ta có khả năng tái sinh vào các cõi Brahma thuộc rūpa hoặc arūpa.
- When one has reduced lobha, dosa, moha to rāga, paṭigha, avijjā (see, “Lobha, Dosa, Moha versus Rāga, Paṭigha, Avijjā”) by following the mundane eightfold path, one is likely to be reborn in the human or deva realms. In these realms, suffering is much less, and most remaining suffering is mental, especially in the Deva
Khi nhờ thực hành Bát Chánh Đạo thế gian mà giảm lobha, dosa, moha xuống còn rāga, paṭigha, avijjā (xem “Lobha, Dosa, Moha versus Rāga, Paṭigha, Avijjā”), người ta có khả năng tái sinh vào cõi người hoặc cõi deva. Ở các cõi này, khổ đau ít hơn nhiều và phần lớn khổ đau còn lại là khổ tâm, đặc biệt là ở các cõi Deva.
- However, there is much suffering that we tend to ignore. Saṅkhāra dukha and vipariṇāma dukha belong to that category; see “Introduction – What is Suffering?” and the follow-up post.
Tuy nhiên, có rất nhiều khổ đau mà chúng ta thường bỏ qua. Saṅkhāra dukha và vipariṇāma dukha thuộc về nhóm đó; xem “Introduction – What is Suffering?” và bài viết tiếp theo.
- That suffering arises due to kāma rāga, i.e., craving (upādāna) for sense pleasures. Thus even if one is not engaged in dasa akusala, one would not be released from kāma loka as long as one has kāma rāga.
Những khổ đau ấy phát sinh do kāma rāga, tức là sự ham muốn (upādāna) đối với các lạc thú giác quan. Vì vậy, dù không tạo dasa akusala, người ta vẫn không thể thoát khỏi kāma loka chừng nào kāma rāga còn tồn tại.
- At the next higher level in the rūpa and arūpa realms, kāma rāga is absent, and thus one enjoys jhvānic
Ở các tầng cao hơn thuộc các cõi rūpa và arūpa, kāma rāga không còn, và do đó người ta hưởng thọ các lạc thọ của jhāna.
- Unlike sense pleasures, jhānic pleasures can be sustained for longer and are much more refined. However, that is still not permanent as the Nibbānic bliss is arrived by eliminating all suffering.
Không giống các lạc thú giác quan, lạc thọ jhāna có thể duy trì lâu hơn và tinh tế hơn nhiều. Tuy nhiên, chúng vẫn không phải là thường hằng, vì hỷ lạc của Nibbāna chỉ đạt được khi diệt trừ hoàn toàn mọi khổ đau.
- As humans, we can overcome suffering in the kāma loka during this life itself, by cultivating jhānā. That means being able to “temporarily live” in rūpāvacara or arūpāvacara
Với tư cách là con người, chúng ta có thể vượt qua khổ đau trong kāma loka ngay trong đời này bằng cách tu tập jhānā. Điều đó có nghĩa là có thể “tạm thời sống” trong các cõi rūpāvacara hoặc arūpāvacara.
- In some cases, one may get to attain rūpāvacara jhāna and arūpāvacara samāpatti by either removing or suppressing kāma rāga and paṭigha. Of course, that is not possible if one engages in dasa akusala.
Trong một số trường hợp, người ta có thể đạt rūpāvacara jhāna và arūpāvacara samāpatti bằng cách loại bỏ hoặc chế ngự kāma rāga và paṭigha. Dĩ nhiên, điều đó không thể xảy ra nếu người ấy còn tạo dasa akusala.
- There are Buddhist and non-Buddhist meditation techniques to achieve this. See, “Elephant in the Room 2 – Jhāna and Kasiṇa.”
Có cả những phương pháp thiền của Phật giáo và ngoài Phật giáo có thể đưa đến kết quả này. Xem “Elephant in the Room 2 – Jhāna and Kasiṇa”.
- If one develops jhānā, one will be born in rūpa or arūpa realms in the next birth. However, as we can see from the above table, any future births in those rūpa and arūpa realms are temporary. One could later be reborn in the apāyā.
Nếu tu tập jhānā, người ta sẽ tái sinh vào các cõi rūpa hoặc arūpa ở đời sau. Tuy nhiên, như có thể thấy trong bảng trên, mọi sự tái sinh trong các cõi rūpa và arūpa đều là tạm thời. Sau đó, người ta vẫn có thể tái sinh trở lại apāyā.
- The only permanent solution to end all future suffering is to attain Nibbāna, as shown in the above table.
Giải pháp duy nhất mang tính vĩnh viễn để chấm dứt mọi khổ đau trong tương lai là chứng đạt Nibbāna, như đã trình bày trong bảng trên.
- When one gets into mundane sammā samādhi by cultivating sīla, one can see the truth of the overall picture shown in the table above. At this stage – with this broader world picture — one can take the second important step towards Nibbāna by comprehending the Tilakkhaṇa. However, one needs to know the correct versions of Tilakkhaṇa; see “Anicca, Dukkha, Anatta.”
Khi nhờ tu tập sīla mà đạt được sammā samādhi thế gian, người ta có thể thấy rõ bức tranh tổng thể được trình bày trong bảng trên. Ở giai đoạn này – với cái nhìn rộng hơn về thế giới – người ta có thể thực hiện bước quan trọng thứ hai hướng đến Nibbāna bằng cách thấu hiểu Tilakkhaṇa. Tuy nhiên, cần phải nắm được các cách hiểu đúng về Tilakkhaṇa; xem “Anicca, Dukkha, Anatta”.
- That is the paññā (wisdom) associated with the first path factor (Sammā Diṭṭhi) in the Noble Eightfold Path.
Đó chính là paññā (trí tuệ) gắn liền với chi phần đầu tiên của Bát Thánh Đạo, Sammā Diṭṭhi.
- One will then be able to comprehend the First Noble Truth about the suffering in this world, the Dukkha Sacca.
Khi đó, người ta có thể thấu hiểu Chân Lý Thứ Nhất về khổ đau trong thế giới này, tức Dukkha Sacca.
- The Buddha’s key message is that one cannot find permanent happiness anywhere among the 31 realms in this world. Any such temporary happiness would be minuscule compared to suffering in the apāyā and kāma loka. That is very hard to comprehend (no matter how well-educated one may be).
Thông điệp then chốt của Đức Phật là không thể tìm thấy hạnh phúc thường hằng ở bất kỳ đâu trong 31 cõi của thế giới này. Mọi hạnh phúc tạm bợ như vậy đều rất nhỏ bé so với khổ đau trong apāyā và kāma loka. Điều này rất khó để hiểu (cho dù người ta có học vấn cao đến đâu).
- This fundamental fact of nature is called anicca. It means that NOTHING in this world can bring a permanent state of happiness (and WILL only bring suffering). The only permanent state of happiness is Nibbāna.
Sự thật căn bản của tự nhiên này được gọi là anicca. Nó có nghĩa rằng KHÔNG CÓ gì trong thế giới này có thể mang lại trạng thái hạnh phúc vĩnh viễn (và rốt cuộc CHỈ dẫn đến khổ đau). Trạng thái hạnh phúc vĩnh viễn duy nhất là Nibbāna.
- When one has the opposite perception of nicca and focuses on seeking long-term happiness in this world, one WILL face suffering (dukkha) in the long run.
Khi có nhận thức ngược lại là nicca và tập trung tìm kiếm hạnh phúc lâu dài trong thế giới này, về lâu dài người ta CHẮC CHẮN sẽ đối diện với khổ đau (dukkha).
- Thus, eventually, one will become helpless in this rebirth process, which is the anatta
Vì vậy, cuối cùng người ta sẽ trở nên bất lực trong tiến trình tái sinh này, đó chính là bản chất anatta.
- Those are the Three Characteristics of nature. See, “Anicca, Dukkha, Anatta.” Therefore, the crucial second step toward Nibbāna (permanent happiness) is to learn these critical characteristics of Nature from a true disciple of the Buddha.
Đó là Ba Đặc Tính của tự nhiên. Xem “Anicca, Dukkha, Anatta”. Do đó, bước then chốt thứ hai hướng đến Nibbāna (hạnh phúc vĩnh viễn) là học và thấu hiểu những đặc tính cốt lõi này của tự nhiên từ một vị đệ tử chân chính của Đức Phật.
- When one starts comprehending the Tilakkhaṇa to some extent, one becomes a Sotāpanna Anugāmi and enters the Noble Path; see, “Sotāpanna Anugāmi and a Sotāpanna.”
Khi bắt đầu thấu hiểu Tilakkhaṇa ở một mức độ nhất định, người ta trở thành Sotāpanna Anugāmi và bước vào Thánh Đạo; xem “Sotāpanna Anugāmi and a Sotāpanna”.
- In this third and last step towards Nibbāna, one starts with a NEW mindset about this world’s real nature. One can see that unimaginable suffering in the future if one does immoral things to get sensual pleasure.
Ở bước thứ ba và cũng là bước cuối cùng hướng đến Nibbāna này, người ta bắt đầu với một nhận thức MỚI về bản chất thực sự của thế giới. Người ta có thể thấy rằng sẽ có những khổ đau không thể tưởng tượng nổi trong tương lai nếu làm các việc bất thiện để đạt lạc thú giác quan.
- Thus one starts to understand the First Noble Truth or the Dukkha Sacca: There is unimaginable suffering in this world of 31 realms. At this initial stage, it is hard to see the dangers/suffering in the human and deva But if one has comprehended the fact that apāyā (four lower realms) must exist for the laws of kamma to work, then one can see the unimaginable suffering in the apāyā.
Do đó, người ta bắt đầu hiểu Chân Lý Thứ Nhất, hay Dukkha Sacca: có những khổ đau không thể tưởng tượng nổi trong thế giới 31 cõi. Ở giai đoạn đầu này, thật khó để thấy rõ sự nguy hiểm hay khổ đau trong các cõi người và deva. Nhưng nếu đã hiểu rằng apāyā (bốn cõi thấp) là điều tất yếu để các quy luật kamma hoạt động, thì có thể thấy được khổ đau khôn lường trong apāyā.
- The Buddha said one would simultaneously understand the other three Noble Truths when one understands the First Noble Truth. One will see that lobha, dosa, and moha are the origins of that suffering (Samudaya Sacca). That one needs to remove those causes (Nirodha Sacca). And, the way to accomplish that is to follow the Noble Eightfold Path (Magga Sacca).
Đức Phật dạy rằng khi hiểu Chân Lý Thứ Nhất thì đồng thời sẽ hiểu ba Chân Lý còn lại. Người ta sẽ thấy rằng lobha, dosa và moha là nguồn gốc của khổ đau ấy (Samudaya Sacca); rằng cần phải loại bỏ những nguyên nhân đó (Nirodha Sacca); và con đường để thực hiện điều ấy là đi theo Bát Thánh Đạo (Magga Sacca).
- This understanding becomes permanent forever (through future lives) when one attains the Sotāpanna From that point onward, one will NOT be CAPABLE of doing a kamma that could make one eligible for rebirth in the apāyā. Thus, one will be free from the worst suffering in the future.
Sự hiểu biết này trở nên vĩnh viễn (xuyên suốt các đời sau) khi đạt đến bậc Sotāpanna. Kể từ thời điểm đó, người ấy KHÔNG CÒN CÓ KHẢ NĂNG tạo ra kamma khiến mình đủ điều kiện tái sinh vào apāyā. Vì vậy, người ấy sẽ thoát khỏi những khổ đau tồi tệ nhất trong tương lai.
- The post, “Akusala Citta – How a Sotāpanna Avoids Apāyagāmī Citta,” explains how Nature enforces the laws of kamma.
Bài viết “Akusala Citta – How a Sotāpanna Avoids Apāyagāmī Citta” giải thích cách Tự nhiên thi hành các quy luật của kamma.
- One’s mind will automatically reject any apāyagāmī action, even on an impulse.
Tâm của người ấy sẽ tự động khước từ mọi hành động apāyagāmī, kể cả khi chỉ vừa khởi lên theo bản năng.
- Understanding Paṭicca Samuppāda is critical. It explains how future bhava (existences) arise due to how one thinks, speaks, and acts (with vacī and kāya saṅkhāra). See “Saṅkhāra – What It Really Means” and “Correct Meaning of Vacī Saṅkhāra.”
Việc hiểu Paṭicca Samuppāda là then chốt. Giáo lý này giải thích cách các bhava (hiện hữu) trong tương lai phát sinh từ cách ta nghĩ, nói và hành động (qua vacī và kāya saṅkhāra). Xem “Saṅkhāra – What It Really Means” và “Correct Meaning of Vacī Saṅkhāra”.
- If one can hurt and kill others, one is making conditions to face similar situations in the niraya.
Nếu một người có thể làm hại và giết hại kẻ khác, thì người ấy đang tạo điều kiện để đối mặt với những hoàn cảnh tương tự trong niraya.
- If one has excessive greed and is willing to hurt others for pleasure, one could be born a peta (hungry ghost).
Nếu một người có lòng tham quá mức và sẵn sàng làm hại người khác để thỏa mãn lạc thú, người ấy có thể tái sinh làm peta (ngạ quỷ).
- Those who are lazy and depend on others cultivate asura saṅkhāra. That leads to asura viññāṇa and thus gives rise to an asura
Những ai lười biếng và lệ thuộc vào người khác sẽ nuôi dưỡng asura saṅkhāra. Điều đó dẫn đến asura viññāṇa và từ đó phát sinh một hiện hữu asura.
- If one can think, speak, and act like an animal, one is cultivating animal saṅkhāra. Thus one could be born into an animal existence.
Nếu một người nghĩ, nói và hành động như loài vật, thì người ấy đang nuôi dưỡng saṅkhāra của loài vật. Do đó, người ấy có thể tái sinh vào cõi súc sinh.
- At this stage, one starts living by the ariyakanta sīla. This sīla is different from the sīla in the first step. [ariyakanta: agreeable to the Ariyas; kanta: [adj.] pleasant; lovely; agreeable. (m.), the beloved one; husband. (pp. of kamati), gone: entered into.]
Ở giai đoạn này, người ta bắt đầu sống theo ariyakanta sīla. Sīla này khác với sīla ở bước đầu tiên. [ariyakanta: dễ chịu, đáng ưa đối với các bậc Thánh; kanta: [tính từ] dễ chịu, đáng yêu, khả ái. (danh từ, giống đực) người được yêu mến; chồng. (quá khứ phân từ của kamati) đã đi; đã bước vào.]
- In the first type of sīla, one forcefully avoided doing pāpa kamma or immoral acts. But there could have been occasions where one “could not help breaking the sīla” because the temptations were too strong.
Ở loại sīla đầu tiên, người ta phải gắng sức tránh làm pāpa kamma hay các hành vi bất thiện. Tuy nhiên, vẫn có những lúc “không thể tránh khỏi việc phá sīla” vì cám dỗ quá mạnh.
- However, this new ariyakanta sīla is unbreakable, no matter how intense the temptation is. One’s mind has grasped that it is NOT WORTH to commit apāyagāmī actions, regardless of how much wealth or pleasures they could bring. [apāyagāmī : [adj.] going or conveying to the state of misery.]
Tuy nhiên, ariyakanta sīla mới này là bất hoại, cho dù cám dỗ có mạnh đến đâu. Tâm đã thấu hiểu rằng KHÔNG ĐÁNG để tạo các hành động apāyagāmī, bất kể chúng có thể mang lại bao nhiêu tiền bạc hay khoái lạc. [apāyagāmī : [tính từ] dẫn đến, đưa đến cảnh khổ.]
- For example, it is not worthwhile to make a lot of money by killing animals or fish, selling drugs that can harm others, lying, bribing, etc.
Ví dụ, không đáng để kiếm nhiều tiền bằng cách giết hại động vật hay cá, buôn bán ma túy gây hại cho người khác, nói dối, hối lộ, v.v.
- At this stage, one could still have cravings for sensual pleasures. Thus one could live an everyday married life, i.e., “moral living.”
Ở giai đoạn này, người ta vẫn có thể còn ham muốn các lạc thú giác quan. Do đó, người ta vẫn có thể sống đời sống gia đình bình thường, tức là “sống đạo đức”.
- It is unnecessary to attain any jhāna to get to the Sotāpanna These days there is too much emphasis on jhāna.
Không cần phải đạt bất kỳ jhāna nào để đến giai đoạn Sotāpanna. Ngày nay, người ta quá nhấn mạnh vào jhāna.
- One must realize that rūpāvacara and arūpāvacara jhāna are sensory experiences in the rūpa and arūpa Therefore, such experiences belong to “this world” of 31 realms.
Cần nhận ra rằng rūpāvacara và arūpāvacara jhāna là những kinh nghiệm thuộc về các cõi rūpa và arūpa. Vì vậy, những kinh nghiệm này vẫn thuộc về “thế giới này” với 31 cõi.
- The Buddha stated that any of his lay disciples with the Sotāpanna stage is million times well-off than a yogi who had attained all jhānā and all abhiññā
Đức Phật dạy rằng bất kỳ cư sĩ nào đạt đến giai đoạn Sotāpanna đều hơn gấp triệu lần so với một yogi đã đạt tất cả jhāna và mọi năng lực abhiññā.
- While those jhānā and abhiññā powers last only during this life, a Sotāpanna is freed from the apāyā
Trong khi các jhāna và năng lực abhiññā chỉ tồn tại trong đời này, thì một Sotāpanna được giải thoát khỏi apāyā VĨNH VIỄN.
- However, understanding jhānā is important since it confirms the Buddha’s broader worldview in the above table. There are many in the world today who can experience jhānā.
Tuy vậy, việc hiểu jhāna vẫn quan trọng vì nó xác nhận thế giới quan rộng lớn của Đức Phật như trong bảng trên. Ngày nay có nhiều người trên thế giới có thể trải nghiệm jhāna.
- But some people mistakenly believe that jhānā are necessary to attain magga phala. But as the above table shows, jhānā are still part of “this world” and can be achieved even by following “non-Buddhist meditations.” More details in “Elephants in the Room.”
Nhưng một số người nhầm tưởng rằng jhāna là điều kiện cần để chứng đạt magga phala. Tuy nhiên, như bảng trên cho thấy, jhāna vẫn thuộc về “thế giới này” và thậm chí có thể đạt được bằng các phương pháp thiền không thuộc Phật giáo. Xem thêm “Elephants in the Room.”
