September 28, 2018; revised June 1, 2021; December 13, 2021; February 1, 2023; February 19, 2023; rewritten November 2, 2024
Ngày 28/09/2018; sửa đổi ngày 01/06/2021; ngày 13/12/2021; ngày 01/02/2023; ngày 19/02/2023; viết lại ngày 02/11/2024
Getting rid of sensual desires or kāma rāga (including sex, craving for food, etc.) is not necessary for a Buddhist in the beginning and even up to the Sotāpanna stage. Sotāpannā still have cravings for sensory pleasures.
Việc đoạn trừ các dục lạc giác quan hay kāma rāga (bao gồm tình dục, thèm muốn thức ăn, v.v.) không phải là điều cần thiết đối với một Phật tử ở giai đoạn ban đầu, và thậm chí cho đến khi đạt giai đoạn Sotāpanna. Các Sotāpannā vẫn còn ham muốn đối với các lạc thú giác quan.
Introduction
Dẫn nhập
- I saw the above question raised in a discussion forum (with a different title). The questioner stated: “Eliminating sensual desire as a lay follower doesn’t seem possible, or reasonable, especially if one plans on being in a relationship, or having motivation at work. ..”
Tôi đã thấy câu hỏi trên được nêu ra trong một diễn đàn thảo luận (với tiêu đề khác). Người đặt câu hỏi cho rằng: “Việc đoạn trừ dục lạc giác quan đối với một Phật tử tại gia dường như không khả thi hoặc không hợp lý, nhất là khi còn dự định xây dựng mối quan hệ hay cần động lực trong công việc…”
- It is a critical question. Most people do not understand that one must follow the Noble Path of the Buddha sequentially.
Đây là một câu hỏi then chốt. Phần lớn mọi người không hiểu rằng cần phải thực hành Con Đường Thánh của Đức Phật theo trình tự.
- Getting rid of sensual desires or kāma rāga (including sex, craving for food, etc.) is unnecessary in the beginning and even up to the Sotāpanna
Việc đoạn trừ các dục lạc giác quan hay kāma rāga (bao gồm tình dục, thèm ăn, v.v.) là không cần thiết ở giai đoạn ban đầu và thậm chí cho đến khi đạt Sotāpanna.
- Getting to the final stage of Nibbāna (Arahanthood) is a step-by-step process.
Việc đạt đến giai đoạn cuối cùng của Nibbāna (quả vị Arahant) là một tiến trình từng bước.
- I recommend reading the post first. After that, explore the links provided to get more information.
Tôi khuyến nghị nên đọc bài viết này trước. Sau đó, hãy xem các liên kết được cung cấp để có thêm thông tin.
Following the Path Is a Step-by-Step Process
Thực hành Con Đường Tu tập là Một Tiến Trình Từng Bước
- The necessary INITIAL steps involved are:
Những bước KHỞI ĐẦU cần thiết bao gồm:
- Be moral and observe the mundane five precepts (abstain from killing, stealing, sexual misconduct, outright lying, and getting intoxicated), gossip, slandering, and harsh speech; see, “ The Basics in Meditation.”
Sống có đạo đức và giữ năm giới thế tục (tránh sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối trắng trợn và sử dụng chất gây say), đồng thời tránh nói chuyện phiếm, nói chia rẽ và nói lời thô ác; xem “2. The Basics in Meditation”.
- Understand the correct “wider worldview” of the Buddha, and get rid of the ten types of micchā diṭṭhi; see, “Wrong Views (Micchā Diṭṭhi) – A Simpler Analysis.” Such wrong views include not believing in rebirth and rejecting the existence of a manomaya kāya (gandhabba).
Hiểu đúng “thế giới quan rộng lớn” của Đức Phật và đoạn trừ mười loại micchā diṭṭhi; xem “Wrong Views (Micchā Diṭṭhi) – A Simpler Analysis”. Những tà kiến này bao gồm không tin vào tái sinh và phủ nhận sự tồn tại của manomaya kāya (gandhabba).
- Learn about Buddha’s “deeper worldview.” Buddha Dhamma is Paṭicca Samuppāda. Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta nature) characterizes this world based on Buddha Dhamma; see “Buddha Dhamma – Noble Truths, Paṭicca Samuppāda, Tilakkhaṇa.” Those scientifically oriented may want to read the section “Origin of Life.”
Học về “thế giới quan sâu sắc hơn” của Đức Phật. Dhamma của Đức Phật chính là Paṭicca Samuppāda. Tilakkhaṇa (anicca, dukkha, anatta) là những đặc tính của thế giới theo Dhamma của Đức Phật; xem “Buddha Dhamma – Noble Truths, Paṭicca Samuppāda, Tilakkhaṇa”. Những ai thiên về khoa học có thể đọc thêm mục “Origin of Life”.
- Removal of kāma rāga can be accomplished with relative ease once one gets a good understanding of Paṭicca Samuppāda. Then, one will be able to see that craving for sensual pleasures is a “mindmade illusion”; it is also called “distorted saññā” or “saññā vipallāsa.” See “Fooled by Distorted Saññā (Sañjānāti) – Origin of Attachment (Taṇha).”
Việc đoạn trừ kāma rāga có thể được thực hiện tương đối dễ dàng khi đã hiểu rõ Paṭicca Samuppāda. Khi đó, người ta sẽ thấy rằng sự khao khát dục lạc giác quan là một “ảo tưởng do tâm tạo”; nó còn được gọi là “saññā bị méo mó” hay “saññā vipallāsa”. Xem “Fooled by Distorted Saññā (Sañjānāti) – Origin of Attachment (Taṇha)”.
- Step (iv) is not necessary to attain the Sotāpanna stage but could be helpful. However, step (iv) is essential to remove kāma rāga and attain the Anāgāmi
Bước (iv) không bắt buộc để đạt Bậc Sotāpanna nhưng có thể hữu ích. Tuy nhiên, bước (iv) là thiết yếu để đoạn trừ kāma rāga và đạt đến giai đoạn Anāgāmi.
- Those steps must be followed in that order.
Những bước đó phải được thực hành theo đúng thứ tự ấy.
- When one starts to understand the “anicca nature” (anicca means much more than impermanence) of this world, one becomes a Sotāpanna Anugāmi. When that “correct vision” about “this wider world of 31 realms” sinks into the mind permanently, one becomes a Sotāpanna.
Khi bắt đầu hiểu được “bản chất anicca” (anicca có ý nghĩa sâu xa hơn rất nhiều so với vô thường) của thế giới này, người ta trở thành Sotāpanna Anugāmi. Khi “cái nhìn đúng đắn” về “thế giới rộng lớn gồm 31 cõi” thấm sâu và an trú vĩnh viễn trong tâm, người ấy trở thành Sotāpanna.
- One does not need to think about removing the desire for sex or any other sensory pleasure until one reaches the Sotāpanna But one must abstain from IMMORAL deeds like sexual MISCONDUCT. That is a critical point that most people do not understand.
Không cần phải nghĩ đến việc đoạn trừ ham muốn tình dục hay bất kỳ lạc thú giác quan nào cho đến khi đạt Bậc Sotāpanna. Nhưng nhất thiết phải tránh các hành vi BẤT THIỆN như TÀ HẠNH. Đây là điểm then chốt mà đa số mọi người không hiểu.
The futility of Starting at the End
Sự vô ích của Việc Bắt đầu từ Điểm Cuối
- Therefore, many people waste precious time by trying to suppress sensory desires and, in some cases, by trying to eliminate the innate sense of “me” or “a self.”
Vì vậy, nhiều người đã lãng phí thời gian quý báu khi cố gắng đè nén các dục lạc giác quan và, trong một số trường hợp, cố gắng loại bỏ cảm giác bẩm sinh về “cái tôi” hay “bản ngã”.
- However, just like one cannot learn algebra or advanced calculus without first learning how to do addition, those people will not make any significant progress. It is impossible to do so.
Tuy nhiên, cũng giống như không thể học đại số hay giải tích cao cấp nếu chưa biết phép cộng, những người ấy sẽ không đạt được tiến bộ đáng kể nào. Điều đó là không thể.
- Furthermore, while breath meditation may temporarily relieve the “stresses of day-to-day activities,” it will not provide the long-term release from suffering that the Buddha explained. See “Attaining Nibbāna Requires Understanding Buddha’s Worldview.”
Hơn nữa, dù thiền theo hơi thở có thể tạm thời làm dịu “căng thẳng trong sinh hoạt hằng ngày”, nó không mang lại sự giải thoát lâu dài khỏi khổ đau như Đức Phật đã giảng dạy. Xem “Attaining Nibbāna Requires Understanding Buddha’s Worldview.”
- Until one begins understanding Paṭicca Samuppāda and Tilakkhaṇa (which explain the Four Noble Truths), one will never get to the Sotāpanna
Chừng nào chưa bắt đầu hiểu Paṭicca Samuppāda và Tilakkhaṇa (những giáo lý giải thích Tứ Thánh Đế), người ta sẽ không thể đạt đến bậc Sotāpanna.
A Sotāpanna Has Not Given Up Sensual Pleasures (Kāma Rāga)
Một Sotāpanna Chưa Đoạn Trừ Các Khoái lạc Giác quan (Kāma Rāga)
- Even during the Buddha’s time, many lay followers attained the Sotāpanna stage and continued to live “householder lives,” too. They were married and had regular jobs. There was no need to avoid sensory pleasures, including sex.
Ngay cả vào thời Đức Phật, nhiều đệ tử tại gia đã chứng đạt bậc Sotāpanna và vẫn tiếp tục sống đời sống gia đình. Họ có gia đình và công việc bình thường. Không có nhu cầu phải tránh các lạc thú giác quan, kể cả tình dục.
- For example, Vishākā (or Visākā), who was the leading female lay disciple at the time, attained the Sotāpanna stage at age seven and went on to get married and have twenty-plus children.
Ví dụ, Vishākā (hay Visākā), nữ đệ tử tại gia hàng đầu thời bấy giờ, đã chứng đạt Sotāpanna khi mới bảy tuổi, sau đó lập gia đình và có hơn hai mươi người con.
- Many others were regular lay people with families who attained the Sotāpanna stage and continued to live that way.
Nhiều người khác cũng là cư sĩ bình thường có gia đình, đã chứng đạt Sotāpanna và tiếp tục sống như vậy.
- Of course, those who desired higher stages of Nibbāna tried to eliminate the craving for sensory pleasures. Most of them became bhikkhus who abstain from sex and other sensory pleasures.
Dĩ nhiên, những ai mong cầu các tầng bậc Nibbāna cao hơn đã cố gắng đoạn trừ sự ham muốn đối với các lạc thú giác quan. Phần lớn họ trở thành bhikkhu, sống đời không tình dục và tránh các lạc thú giác quan khác.
Only at Anāgāmī Stage One Will Lose Kāma Rāga
Chỉ Đến Giai Đoạn Anāgāmī Thì Kāma Rāga Mới Chấm Dứt
- One will abstain from sensory pleasures only after becoming an Anāgāmī. Even a Sakadāgāmī still enjoys sensory pleasures, even though he/she would not have the desire to “own” things that provide sensory pleasures.
Chỉ sau khi trở thành Anāgāmī, người ta mới hoàn toàn từ bỏ các lạc thú giác quan. Ngay cả một Sakadāgāmī vẫn còn hưởng thụ các lạc thú giác quan, dù không còn ham muốn “sở hữu” những thứ mang lại lạc thú ấy.
- For example, a Sakadāgāmi would still enjoy some sensory pleasures but would not desire to own “things that provide sense pleasure” (houses, cars, etc.).
Ví dụ, một Sakadāgāmī vẫn có thể hưởng thụ một số lạc thú giác quan, nhưng không còn mong muốn sở hữu những “vật mang lại lạc thú giác quan” (như nhà cửa, xe cộ, v.v.).
Losing Craving for Sensory Pleasures Comes After a Deeper Understanding of Tilakkhaṇa
Sự Chấm Dứt Ham Muốn Lạc Thú Giác Quan Chỉ Đến Sau Khi Hiểu Sâu Hơn Về Tilakkhaṇa
- One CANNOT just give up sensory pleasures by sheer willpower and become an Anāgāmī. One must comprehend the “anicca nature” at a higher level than a Sotāpanna, and then those desires will NATURALLY disappear.
Người ta KHÔNG THỂ chỉ dựa vào ý chí mà từ bỏ các lạc thú giác quan để trở thành Anāgāmī. Cần phải thấu hiểu “bản chất anicca” ở mức độ sâu hơn so với Sotāpanna, khi đó những ham muốn ấy sẽ TỰ NHIÊN tan biến.
- That may be hard for most people to understand: how the desire for sense pleasures will naturally disappear. One should follow the Path SEQUENTIALLY, one step at a time.
Điều này có thể khó hiểu đối với đa số mọi người: làm thế nào mà sự ham muốn các lạc thú giác quan lại tự nhiên biến mất. Người ta cần phải đi theo Con Đường Tu tập một cách TUẦN TỰ, từng bước một.
- By the way, the sense of “me” or “a self” will go away only at the Arahant stage! It is unnecessary to worry about that before the Sotāpanna
Nhân tiện, cảm giác về “cái tôi” hay “bản ngã” chỉ chấm dứt hoàn toàn ở bậc Arahant. Không cần phải lo lắng về điều đó trước khi đạt đến bậc Sotāpanna.
It is Necessary to See the Harmful Consequences of Sensory Indulgences (Kāmasukhallikānuyoga)
Cần Phải Thấy Rõ Tác Hại Của Việc Đắm Chìm Trong Lạc Thú Giác Quan (Kāmasukhallikānuyoga)
- However, it is also important to realize that one must avoid excessive sensory pleasures (kāmasukhallikānuyoga) and extreme ascetic practices of completely avoiding normal comforts (Attakilamathānuyoga). The Buddha recommended the “middle path,” where one would live a simple, comfortable life without going to extremes.
Tuy nhiên, cũng rất quan trọng phải nhận ra rằng cần tránh cả việc hưởng thụ quá mức các lạc thú giác quan (kāmasukhallikānuyoga) lẫn các hình thức khổ hạnh cực đoan, hoàn toàn chối bỏ những tiện nghi sinh hoạt bình thường (Attakilamathānuyoga). Đức Phật khuyến dạy “Trung đạo”, tức là sống một đời sống đơn giản, thoải mái, không rơi vào hai cực đoan.
- Therefore, one cannot become a Sotāpanna while enjoying sensory pleasures to the full, i.e., maintaining a “playboy type” lifestyle.
Vì vậy, không thể trở thành Sotāpanna nếu vẫn tận hưởng lạc thú giác quan một cách trọn vẹn, tức là duy trì lối sống kiểu “ăn chơi hưởng thụ”.
- When one starts comprehending the anicca nature, one’s life WILL become simple.
Khi bắt đầu thấu hiểu bản chất anicca, đời sống của một người TẤT YẾU sẽ trở nên đơn giản.
- Even before one reaches the Sotāpanna stage, one will start feeling nirāmisa sukha due to lessened mental stress due to this simple lifestyle.
Ngay cả trước khi đạt đến bậc Sotāpanna, người ta cũng sẽ bắt đầu cảm nhận được nirāmisa sukha, nhờ sự giảm bớt căng thẳng nội tâm do lối sống đơn giản này mang lại.
- Of course, one can speed up the process of the Sotāpanna stage by giving up sensory pleasures. Those who take this path become bhikkhus. They voluntarily give up most sense pleasures, including sex.
Dĩ nhiên, người ta có thể đẩy nhanh tiến trình đạt đến bậc Sotāpanna bằng cách từ bỏ các lạc thú giác quan. Những ai chọn con đường này sẽ trở thành bhikkhu. Họ tự nguyện từ bỏ phần lớn các lạc thú giác quan, kể cả tình dục.
- If one is to attain jhāna, one must at least SUPPRESS all sensual desires. For example, in “WebLink: suttacentral: Tapussa Sutta (AN 9.41),” “‘idha bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.”
Nếu muốn chứng đạt jhāna, người ta ít nhất phải ĐÈ NÉN hoàn toàn mọi dục vọng giác quan. Ví dụ, trong “WebLink: suttacentral: Tapussa Sutta (AN 9.41)” có đoạn: “‘idha bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.”
- That means one needs to have all thoughts of sensory pleasures and akusala kamma removed from one’s mind when getting to a jhāna.
Điều đó có nghĩa là khi đạt đến jhāna, trong tâm phải hoàn toàn không còn các ý nghĩ về lạc thú giác quan và akusala kamma.
- That statement appears in every sutta describing jhāna.
Mệnh đề này xuất hiện trong tất cả các sutta mô tả về jhāna.
The Wider WorldView
Thế Giới Quan Rộng Lớn Hơn
- Buddha’s teachings are more of a “previously unheard worldview” than a religion in the conventional sense; see “What is Unique in Buddha Dhamma?.”
Giáo pháp của Đức Phật mang tính một “thế giới quan chưa từng được nghe đến trước đây” hơn là một tôn giáo theo nghĩa thông thường; xem “What is Unique in Buddha Dhamma?”.
- According to the Buddha’s “wider worldview,” there are 31 realms in this world. Suffering in those realms decreases as one goes from the lowest four realms (apāyā), where the suffering is intense, to the human realm (where suffering and happiness co-exist). There is increasingly more happiness (or less stress) in the six Deva and 20 Brahma However, those existences also have finite lifetimes.
Theo “thế giới quan rộng lớn” của Đức Phật, thế giới này có 31 cõi. Mức độ khổ đau giảm dần khi đi từ bốn cõi thấp nhất (apāyā), nơi khổ đau dữ dội, lên cõi người (nơi khổ và lạc cùng tồn tại). Trong sáu cõi Deva và hai mươi cõi Brahma, hạnh phúc ngày càng nhiều hơn (hay căng thẳng ngày càng ít hơn). Tuy nhiên, các sự tồn tại ấy vẫn có thời hạn.
- The peaceful feeling one experiences in a jhāna is the same sensory experience by Brahmā in the corresponding realms. But getting to jhāna has nothing to do with getting to magga phala, even though jhāna can provide a better mindset for insight meditation.
Cảm giác an lạc mà người ta trải nghiệm trong jhāna cũng chính là loại kinh nghiệm mà các Brahmā có trong các cõi tương ứng. Nhưng việc đạt jhāna không liên quan trực tiếp đến việc chứng magga phala, dù jhāna có thể giúp tạo ra trạng thái tâm thuận lợi cho thiền tuệ.
- None of those realms can provide permanent happiness because a lifetime in any realm is finite. Even though the Brahma realms have very long lifetimes, one would eventually die and be reborn in any realm.
Không cõi nào trong số đó có thể mang lại hạnh phúc vĩnh viễn, vì đời sống ở bất kỳ cõi nào cũng hữu hạn. Dù các cõi Brahma có thọ mạng rất dài, cuối cùng vẫn phải chết và tái sinh vào một cõi khác.
- If one’s goal is permanent happiness, one must eventually reach the Arahant stage of Nibbāna. However, if one can reach the Sotāpanna stage, one is guaranteed to reach the Arahant stage within a few subsequent births.
Nếu mục tiêu là hạnh phúc vĩnh viễn, cuối cùng người ta phải đạt đến giai đoạn Arahant của Nibbāna. Tuy nhiên, nếu đã đạt đến Sotāpanna, thì chắc chắn sẽ đạt Arahant trong một số ít đời tái sinh kế tiếp.
Difference With Other World Religions
Sự Khác Biệt So Với Các Tôn Giáo Khác Trên Thế Giới
- That is the main difference between Buddha Dhamma and other religions. Christianity and Islam promise permanent happiness in Deva realms (meeting the Creator God), and Hinduism promises lasting happiness in a Brahma
Đây chính là sự khác biệt căn bản giữa Dhamma của Đức Phật và các tôn giáo khác. Kitô giáo và Hồi giáo hứa hẹn hạnh phúc vĩnh cửu trong các cõi Deva (gặp Thượng Đế sáng tạo), còn Ấn Độ giáo thì hứa hẹn hạnh phúc lâu dài trong một cõi Brahma.
- But the Buddha taught that nothing in this world is permanent. That holds for living beings and inert things in the whole universe.
Nhưng Đức Phật dạy rằng không có gì trong thế giới này là thường hằng. Điều đó đúng cho cả chúng sinh lẫn các vật vô tri trong toàn bộ vũ trụ.
- Scientists (including Einstein) believed as recently as 100 years ago that the universe is in a “steady state.” Now science has accepted that everything in our world is in constant flux. See “Aggañña Sutta Discussion – Introduction.”
Các nhà khoa học (kể cả Einstein) cho đến khoảng 100 năm trước vẫn tin rằng vũ trụ ở trong trạng thái “ổn định”. Ngày nay, khoa học đã chấp nhận rằng mọi thứ trong thế giới này luôn luôn biến đổi. Xem “Aggañña Sutta Discussion – Introduction”.
- Therefore, one born in any realm will die from there and be reborn in another realm.
Vì vậy, sinh ra ở bất kỳ cõi nào thì cuối cùng cũng sẽ chết ở cõi đó và tái sinh vào một cõi khác.
There Is Nowhere in This World Where Suffering Is Absent (Anicca Nature)
Không Có Nơi Nào Trong Thế Giới Này Hoàn Toàn Vắng Mặt Khổ Đau (Bản Chất Anicca)
- The above sub-title summarizes the anicca nature of this world. One gets to the Sotāpanna stage by “seeing that.” When one first realizes the anicca nature of this world, one can immediately see the dangers of doing the strong dasa akusala. That realization will make one’s mind resistant to doing “apāyagāmi actions,” i.e., those that make one eligible to be born in the four lowest realms (apāyā).
Tiêu đề phụ ở trên tóm lược bản chất anicca của thế giới này. Người ta đạt đến bậc Sotāpanna bằng cách “thấy được điều đó”. Khi lần đầu tiên nhận ra bản chất anicca của thế giới này, người ta có thể lập tức thấy rõ sự nguy hiểm của việc tạo các dasa akusala mạnh. Sự nhận thức ấy khiến tâm trở nên đề kháng đối với các “hành động apāyagāmi”, tức là những hành động khiến người ta đủ điều kiện tái sinh vào bốn cõi thấp (apāyā).
- That understanding registers permanently in the mind of a Sotāpanna and is unbreakable. That is why he/she will never do such immoral deeds, no matter how tempting. Our minds (at the base level) operate like machines, yet we (humans) can take control. See “Mind Operates Like a Machine According to Nature’s Laws.”
Sự hiểu biết đó được ghi dấu vĩnh viễn trong tâm của một Sotāpanna và không thể bị phá vỡ. Đó là lý do vì sao người ấy sẽ không bao giờ làm những hành vi bất thiện như vậy, cho dù cám dỗ có mạnh đến đâu. Tâm của chúng ta (ở cấp độ nền tảng) vận hành như một cỗ máy, nhưng con người vẫn có khả năng kiểm soát nó. Xem “Mind Operates Like a Machine According to Nature’s Laws”.
- At that time, one will have faith in Buddha, Dhamma, and Saṅgha when one can see how valuable Dhamma is. Of course, the Buddha discovered that Dhamma. It can be conveyed accurately only by a Noble Person.
Khi ấy, người ta sẽ có niềm tin nơi Đức Phật, Dhamma và Saṅgha, vì thấy rõ giá trị của Dhamma. Dĩ nhiên, chính Đức Phật đã khám phá ra Dhamma đó. Dhamma chỉ có thể được truyền đạt một cách chính xác bởi một Bậc Thánh.
- That is the reason for “unbreakable faith,” or “aveccappasāda” (avecca pasāda) in Buddha, Dhamma, and Saṅgha; see #4 of “Sotapatti Anga – The Four Qualities of a Sotāpanna.”
Đó chính là lý do của “niềm tin bất hoại”, hay “aveccappasāda” (avecca pasāda), đối với Buddha, Dhamma và Saṅgha; xem mục #4 trong “Sotapatti Anga – The Four Qualities of a Sotāpanna”.
- One is also said to have “Ariyakānta sīla” or “unbreakable moral conduct” as a Sotāpanna. That does not mean one will not do any of the dasa akusala. But one will never again do a dasa akusala with strong kamma vipāka bringing rebirth in the apāyā. A Sotāpanna has permanently removed such a mindset.
Một Sotāpanna cũng được nói là đã có “Ariyakānta sīla”, hay “giới hạnh bất hoại”. Điều đó không có nghĩa là người ấy sẽ không bao giờ làm bất kỳ dasa akusala nào. Nhưng người ấy sẽ không bao giờ tạo ra một dasa akusala có kamma vipāka mạnh dẫn đến tái sinh vào apāyā nữa. Một Sotāpanna đã vĩnh viễn loại bỏ tâm thế đó.
There Are Dangers in Craving for Sensory Pleasures
Có Những Hiểm Họa Trong Sự Ham Muốn Lạc Thú Giác Quan
- Finally, one may think that all one needs to do is get to the Sotāpanna Because then one would be free from the apāyā. That is true. However, when one reaches the Sotāpanna stage, one will only SEE (with wisdom) the sufferings in the kāma loka, including the Deva realms. That is Sammā Diṭṭhi, or “correct view.”
Cuối cùng, người ta có thể nghĩ rằng chỉ cần đạt đến bậc Sotāpanna là đủ, vì khi đó sẽ thoát khỏi apāyā. Điều đó là đúng. Tuy nhiên, khi đạt đến bậc Sotāpanna, người ta chỉ mới THẤY (bằng trí tuệ) những khổ đau trong kāma loka, kể cả các cõi Deva. Đó chính là Sammā Diṭṭhi, hay “chánh kiến”.
- It is a good idea to focus on getting to the Sotāpanna stage first (and not worry about the higher stages.)
Tốt nhất là nên tập trung vào việc đạt đến bậc Sotāpanna trước (và chưa cần lo lắng về các giai đoạn cao hơn).
- Still, one must start at least seeing the dangers of excessive sensory pleasures, even before the Sotāpanna As stated in the WebLink: suttacentral: Dhammika sutta (Snp 2.14):
Tuy vậy, ngay cả trước khi đạt đến bậc Sotāpanna, người ta cũng phải bắt đầu thấy được sự nguy hiểm của việc đắm chìm quá mức trong các lạc thú giác quan. Như được nêu trong WebLink: suttacentral: Dhammika sutta (Snp 2.14):
- Abrahmacariyaṁ parivajjayeyya,
Aṅgārakāsuṁ jalitaṁva viññū;
Asambhuṇanto pana brahmacariyaṁ,
Parassa dāraṁ na atikkameyya.
Translated: A wise person would live a celibate life (avoiding sex), as one would avoid falling into a pit of fire. But if one is not yet at the stage of abstaining from sensory pleasures, one should refrain from sexual misconduct.
Dịch nghĩa: Người trí sẽ sống đời phạm hạnh (tránh quan hệ tình dục) như tránh rơi vào hố lửa. Nhưng nếu chưa đến giai đoạn có thể từ bỏ các lạc thú giác quan, thì ít nhất cũng phải tránh tà hạnh trong tình dục.
- Furthermore, sensual pleasures are not restricted to sex. Excessive attachment to ALL sensory pleasures comes under kāmasukhallikānuyoga in #8 above. Also, see “What is ‘Kāma’? It is not Just Sex” and “Craving for Pornography – How to Reduce the Tendency.”
Hơn nữa, lạc thú giác quan không chỉ giới hạn ở tình dục. Sự bám chấp quá mức vào TẤT CẢ các lạc thú giác quan đều thuộc về kāmasukhallikānuyoga như đã nêu ở mục #8. Xem thêm “What is ‘Kāma’? It is not Just Sex” và “Craving for Pornography – How to Reduce the Tendency.”
Summary
Tóm lược
- It is not necessary (or prudent) to try to abstain from sensual pleasures in the beginning. First, one must understand why and how such attachments lead to future suffering (in future rebirths).
Không cần thiết (và cũng không khôn ngoan) khi cố gắng kiêng hẳn các lạc thú giác quan ngay từ đầu. Trước hết, người ta phải hiểu vì sao và bằng cách nào những sự bám chấp đó dẫn đến khổ đau trong tương lai (ở các lần tái sinh về sau).
- Of course, that is impossible if one does not believe in rebirth. That is why learning the worldview of the Buddha is necessary. It is a “previously unheard worldview” (“pubbe ananussutesu dhammesu”), as the Buddha repeatedly stated in his first sermon, “WebLink: suttacentral Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11).”
Dĩ nhiên, điều đó là không thể nếu người ta không tin vào tái sinh. Vì vậy, việc học và hiểu thế giới quan của Đức Phật là điều cần thiết. Đó là một “thế giới quan chưa từng được nghe trước đây” (“pubbe ananussutesu dhammesu”), như Đức Phật đã nhiều lần tuyên bố trong bài pháp đầu tiên của Ngài, “WebLink: suttacentral Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11)”.
- Also see “What is Unique in Buddha Dhamma?” and “Basic Framework of Buddha Dhamma.”
Cũng nên xem thêm “What is Unique in Buddha Dhamma?” và “Basic Framework of Buddha Dhamma”.
- When one starts understanding this “new teaching/worldview” (especially by comprehending Paṭicca Samuppāda), one will have confidence in the rebirth process and other doctrinal foundations like the validity of the laws of kamma.
Khi người ta bắt đầu hiểu “giáo pháp/thế giới quan mới” này (đặc biệt là bằng cách thấu hiểu Paṭicca Samuppāda), thì sẽ có niềm tin vững chắc vào tiến trình tái sinh và các nền tảng giáo lý khác, như tính hiệu lực của các quy luật kamma.
