Sexual Orientation – Effects of Kamma and Gati (Saṅkhāra) / Khuynh hướng Tính dục – Ảnh hưởng của Kamma và Gati (Saṅkhāra

January 14, 2017; revised December 3, 2022; September 20, 2024

Ngày 14/01/2017; chỉnh sửa ngày 03/12/2022; ngày 20/09/2024

This post will be helpful in not only clarifying Buddha’s teachings on sexual orientation but also that there can be many varieties of saṅkhāra, viññāṇa, and corresponding bhava and jāti arising according to Paṭicca Samuppāda.

Bài viết này sẽ giúp làm rõ không chỉ các lời dạy của Đức Phật về khuynh hướng tính dục, mà còn cho thấy có thể có rất nhiều dạng saṅkhāra, viññāṇa, và các bhava cùng jāti tương ứng sinh khởi theo Paṭicca Samuppāda.

  1. In this beginning-less rebirth process, we all had likely switched back and forth between male and female many times, just as we are likely to have been born in most of the 31 realms in the past.

Trong tiến trình tái sinh không có khởi đầu này, rất có thể tất cả chúng ta đã nhiều lần luân chuyển qua lại giữa nam và nữ, cũng giống như việc chúng ta có khả năng đã từng sinh ra trong phần lớn 31 cõi trong quá khứ.

  • It is said that the Bodhisatta — before becoming Buddha Gotama — was a female when the pāramita process to become a Buddha was initiated.

Người ta nói rằng Bodhisatta — trước khi trở thành Đức Phật Gotama — đã từng là nữ giới vào thời điểm tiến trình pāramita để trở thành một Vị Phật được khởi sự.

  • However, once the pāramitā process progressed, and the Bodhisatta (Bodhisattva) became a male, it never switched to female.

Tuy nhiên, khi tiến trình pāramitā đã tiến triển và Bodhisatta (Bodhisattva) trở thành nam giới, thì không còn chuyển sang nữ giới nữa.

Chỉ có nam giới mới có thể trở thành một vị Phật. Xem “WebLink: suttacentral: Bahudhātuka Sutta (MN 115)”. Đồng thời xem “WebLink: PureDhamma forums: Did the Buddha Discriminate Against Women?.

  1. Whether male or female is predominantly determined by the type of saṅkhāra one cultivates, not necessarily due to a kamma vipāka. Those who tend to be dependent on others tend to have female sex organs and itthi bhāva. [itthi: [f.] woman; female.]

Việc là nam hay nữ chủ yếu được quyết định bởi loại saṅkhāra mà một người nuôi dưỡng, chứ không nhất thiết do kamma vipāka. Những người có khuynh hướng lệ thuộc vào người khác thường có cơ quan sinh dục nữ và itthi bhāva. [itthi: [danh từ giống cái] phụ nữ; nữ giới.]

  • But in some cases, kamma could be the direct cause. For example, there is an account in the Tipiṭaka where a wealthy male became a female because he generated sexual thoughts about a male Arahant (who had an attractive body). So, it involved both kamma vipāka and the cultivation of saṅkhāra.

Nhưng trong một số trường hợp, kamma có thể là nguyên nhân trực tiếp. Chẳng hạn, trong Tipiṭaka có ghi lại một trường hợp một người đàn ông giàu có đã trở thành nữ giới vì đã khởi lên những ý nghĩ dục tính đối với một vị Arahant nam (có thân tướng hấp dẫn). Do đó, trường hợp này liên quan đến cả kamma vipāka lẫn việc nuôi dưỡng saṅkhāra.

  • A eunuch is a person who is castrated. But few are born without a sex organ, possibly due to a kamma vipāka of a past kamma.

Hoạn nhân là người bị thiến. Tuy nhiên, cũng có một số ít người sinh ra đã không có cơ quan sinh dục, có thể do kamma vipāka của một kamma trong quá khứ.

  • If one intentionally severed or mutilated another’s sexual organs, one may be born without a sexual organ. Such a person is called a paṇḍaka in Pāli (“napunsaka” in Sinhala); I think they are called “intersex” in English.

Nếu một người cố ý cắt bỏ hoặc làm tổn hại cơ quan sinh dục của người khác, người đó có thể sinh ra không có cơ quan sinh dục. Trong Pāli, người như vậy được gọi là paṇḍaka (“napunsaka” trong tiếng Sinhala); trong tiếng Anh, có lẽ được gọi là “intersex”.

  1. Male/female distinction is there only in the kāma loka. There is no distinction in the Brahma realms (higher 20 realms). Brahmā do not have dense physical bodies or sexual organs; they all have purisa bhāva dasaka.

Sự phân biệt nam/nữ chỉ tồn tại trong kāma loka. Không có sự phân biệt này trong các cõi Brahma (20 cõi cao hơn). Các Brahmā không có thân vật chất thô đặc hay cơ quan sinh dục; tất cả đều có purisa bhāva dasaka.

  • One is born in either the 16 rūpa loka realms or the four arūpa loka realms (Brahma realms) because one has given up all desires for bodily pleasures, including sex, i.e., one has seen the value of nirāmisa sukha (and jhānic pleasures) that can be achieved by giving up bodily (sensory) pleasures.

Một người sinh vào 16 cõi rūpa loka hoặc bốn cõi arūpa loka (các cõi Brahma) vì đã từ bỏ mọi ham muốn đối với các lạc thú thân, bao gồm cả tình dục; tức là người đó đã thấy được giá trị của nirāmisa sukha (và các lạc thọ jhāna) có thể đạt được khi từ bỏ các lạc thú thân (giác quan).

  1. One is born in kāma loka because one likes bodily pleasures, especially those associated with taste, smell, and sex. Of course, vision and sound that help satisfy those three bodily pleasures also come into play here.

Một người sinh vào kāma loka vì yêu thích các lạc thú thân, đặc biệt là những lạc thú liên quan đến vị giác, khứu giác và tình dục. Dĩ nhiên, thị giác và thính giác, những yếu tố hỗ trợ cho việc thỏa mãn ba lạc thú thân đó, cũng đóng vai trò ở đây.

  • One is born in human or deva realms in the kāma loka because one has done meritorious deeds (puñña kamma). Female devas have attained those births because of their puñña kamma, just like male Devas. One is born a female Deva because one has cultivated “itthi saṅkhāra”; see #5 below.

Một người sinh vào cõi người hoặc cõi deva trong kāma loka vì đã tạo các nghiệp thiện (puñña kamma). Các deva nữ đạt được những tái sinh đó nhờ puñña kamma của họ, cũng giống như các deva nam. Một người sinh làm deva nữ là do đã nuôi dưỡng “itthi saṅkhāra”; xem mục 5 bên dưới.

  • One is born in the four apāya realms in the kāma loka because one has done immoral deeds (pāpa kamma). Here the corresponding saṅkhāra are apuññābhi saṅkhāra.

Một người sinh vào bốn cõi apāya trong kāma loka vì đã tạo các nghiệp bất thiện (pāpa kamma). Ở đây, các saṅkhāra tương ứng là apuññābhi saṅkhāra.

  1. One is born male or female due to whether one cultivates “purisa saṅkhāra” or “itthi saṅkhāra” by thinking, speaking, and doing things accordingly. One does not do either puñña abhisaṅkhāra or apuñña abhisaṅkhāra

Một người sinh làm nam hay nữ là do việc nuôi dưỡng “purisa saṅkhāra” hay “itthi saṅkhāra” thông qua suy nghĩ, lời nói và hành động tương ứng. Ở đây, người ấy không tạo puñña abhisaṅkhāra cũng không tạo apuñña abhisaṅkhāra.

  • Such saṅkhāra (kāya, vacī, and mano) are not necessarily moral (puññābhi saṅkhāra) or immoral (apuññābhi saṅkhāra). Those align with pure habits based on “purisa gati” and “itthi gati.”

Những saṅkhāra như vậy (kāya, vacī và mano) không nhất thiết là đạo đức (puññābhi saṅkhāra) hay phi đạo đức (apuññābhi saṅkhāra). Chúng tương ứng với các thói quen thuần túy dựa trên “purisa gati” và “itthi gati”.

  • This can be compared to cultivating habits for playing a particular musical instrument. They are called “vāsana keles,” keles that do not have good or bad kamma vipāka but are more like ingrained habits.

Điều này có thể được so sánh với việc hình thành thói quen để chơi một nhạc cụ nhất định. Chúng được gọi là “vāsana keles”, tức là các keles không mang quả báo kamma vipāka tốt hay xấu, mà giống như những thói quen ăn sâu.

  1. Purisa is the Pāli or Sinhala word for a male, which comes from “piri” or “full.” A male is likely to give more (especially to the wife) than to take from the wife. Itthi is the Pāli (and old Sinhala) word for female, and means “itiri” (pronounced “ithiri”) or “leftover space to be filled.” For example, if a cup is full that is “piri.” If it is not filled to the brim, it needs more to become whole; it has “itiri.”

Purisa là từ Pāli hoặc Sinhala chỉ nam giới, xuất phát từ “piri” hay “đầy”. Nam giới thường có khuynh hướng cho đi nhiều hơn (đặc biệt là đối với vợ) so với việc nhận từ vợ. Itthi là từ Pāli (và Sinhala cổ) chỉ nữ giới, mang nghĩa “itiri” (phát âm là “ithiri”), tức là “phần còn trống cần được lấp đầy”. Ví dụ, một cái cốc đầy được gọi là “piri”. Nếu nó chưa đầy đến miệng, nó cần thêm để trở nên trọn vẹn; khi đó nó có “itiri”.

  • So, a male is likely to buy things for his wife willingly but does not care much about his appearance. Most wives expect gifts and sustenance.

Vì vậy, nam giới thường sẵn sàng mua sắm cho vợ nhưng lại không quá quan tâm đến ngoại hình của mình. Phần lớn các bà vợ mong đợi quà tặng và sự chu cấp.

  • However, these “purisa gati” and “itthi gati” can vary significantly. A male has more “purisa gati” than “itthi gati.” But we do see “alpha males” with close to 100% “purisa gati” as well as females with very high “itthi gati.”

Tuy nhiên, các “purisa gati” và “itthi gati” này có thể khác nhau rất nhiều. Một nam giới thường có “purisa gati” nhiều hơn “itthi gati”. Nhưng chúng ta cũng thấy những “nam giới thống lĩnh” có gần như 100% “purisa gati”, cũng như những phụ nữ có “itthi gati” rất cao.

  • On the other hand, we also see females who like to act and dress more like males and males who want to act and dress more femininely. If they cultivate those gati more, a sex change is possible in future lives (in rare cases, even in this life).

Mặt khác, chúng ta cũng thấy những phụ nữ thích hành xử và ăn mặc giống nam giới hơn, và những nam giới muốn hành xử và ăn mặc nữ tính hơn. Nếu họ tiếp tục nuôi dưỡng các gati đó, thì sự thay đổi giới tính có thể xảy ra trong các đời sống tương lai (và trong những trường hợp hiếm hoi, ngay cả trong đời này).

  1. In most families, if one examines the wardrobes of the husband and wife, one is likely to find many more items in the wife’s wardrobe (in particular, the man may have a couple of pairs of shoes but the wife will have many!). Females wear much more jewelry too.

Trong hầu hết các gia đình, nếu xem xét tủ quần áo của chồng và vợ, người ta thường thấy tủ của người vợ có nhiều đồ hơn hẳn (cụ thể là người chồng có thể chỉ có vài đôi giày, trong khi người vợ thì có rất nhiều). Phụ nữ cũng đeo trang sức nhiều hơn.

  • Furthermore, women are more concerned about their appearance (and that of their husbands). A guy usually grabs something to wear, but a woman will likely pay much more attention. I know by experience that I have been “asked politely” to change into something better when going out.

Hơn nữa, phụ nữ thường quan tâm nhiều hơn đến ngoại hình của mình (và cả của chồng). Nam giới thường mặc đại một bộ đồ, trong khi phụ nữ có xu hướng chú ý kỹ lưỡng hơn. Tôi biết điều này qua kinh nghiệm bản thân, khi nhiều lần tôi đã được “nhắc khéo” thay sang bộ đồ chỉnh tề hơn trước khi ra ngoài.

  • Thus females constantly think about their (and their spouse’s and children’s) appearance. This is not necessarily due to greed but mainly due to sansāric

Vì vậy, phụ nữ thường xuyên nghĩ đến ngoại hình của mình (cũng như của chồng và con cái). Điều này không nhất thiết do tham lam, mà chủ yếu là do các thói quen mang tính sansāra.

  1. Therefore, to attain Nibbāna, it does not matter whether one is a male, female, or somewhere in between (with mixed gati).

Do đó, để đạt Nibbāna, việc là nam, nữ hay ở trạng thái trung gian (với gati pha trộn) là không quan trọng.

  • One is born in the deva realms due to good kamma vipāka, and there are male and female devas, just like in the human and animal realms. The type of sex is not determined by kamma vipāka.

Một người sinh vào cõi deva là do kamma vipāka tốt, và ở đó cũng có deva nam và deva nữ, giống như trong cõi người và cõi động vật. Loại giới tính không được quyết định bởi kamma vipāka.

  • All Brahma realms are “unisex.” They all have the purisa bhāva dasaka. Brahmā do not have dense bodies to experience the touch, the taste of foods, or smells. They have very fine/subtle bodies with just the hadaya vatthu, bhāva, kāya, cakkhu, and sota dasaka.

Tất cả các cõi Brahma đều là “không phân biệt giới tính”. Tất cả đều có purisa bhāva dasaka. Các Brahmā không có thân thô để cảm nhận xúc chạm, vị của thức ăn hay mùi hương. Họ có thân rất vi tế, chỉ gồm hadaya vatthu, bhāva, kāya, cakkhu và sota dasaka.

  • Therefore, a Brahma “body” has only five suddhaṭṭhaka (much smaller than an atom in modern science). So, it is clear why sensory pleasures are absent in Brahma loka.

Do đó, “thân” của một Brahma chỉ gồm năm suddhaṭṭhaka (nhỏ hơn rất nhiều so với một nguyên tử theo khoa học hiện đại). Vì vậy, dễ hiểu tại sao các lạc thú giác quan không tồn tại trong Brahma loka.

  1. It is essential to realize that there are moral gati due to puññābhisaṅkhāra (puñña abhisaṅkhāra), immoral gati due to apuññābhisaṅkhāra (apuñña abhisaṅkhāra), and “kammically neutral” gati due to saṅkhāra that are not abhisaṅkhāra.

Điều cốt yếu cần nhận ra là có gati đạo đức do puññābhisaṅkhāra (puñña abhisaṅkhāra), gati phi đạo đức do apuññābhisaṅkhāra (apuñña abhisaṅkhāra), và các gati “trung tính về mặt kamma” do các saṅkhāra không phải là abhisaṅkhāra.

  • While one is born in the human bhava, one would also have an “itthi bhava” (as a female) or “purisa bhava” (as a male).

Khi một người sinh trong bhava làm người, người đó đồng thời cũng có “itthi bhava” (nếu là nữ) hoặc “purisa bhava” (nếu là nam).

  • Also, one could be born in an “angry bhava” for a given period triggered by a sensory event such as seeing an enemy — if one has cultivated angry gati by thinking, speaking, and acting with an angry mindset.

Ngoài ra, một người cũng có thể “sinh vào” một “bhava sân hận” trong một khoảng thời gian nhất định, được kích hoạt bởi một sự kiện giác quan như nhìn thấy kẻ thù — nếu người đó đã nuôi dưỡng gati sân hận thông qua suy nghĩ, lời nói và hành động với tâm sân.

  • Similarly, one could be born in a “greedy bhava.” If we start thinking mindfully, thinking, speaking, and acting with less greed, those greedy gati will reduce over time.

Tương tự như vậy, một người cũng có thể sinh vào một “bhava tham”. Nếu chúng ta bắt đầu suy nghĩ có chánh niệm, suy nghĩ, nói năng và hành động với ít tham hơn, thì các gati tham đó sẽ dần suy giảm theo thời gian.

  • The more one thinks, speaks, and acts in a “female way,” one will cultivate “female gati,” but these are not moral or immoral saṅkhāra, as discussed above.

Càng suy nghĩ, nói năng và hành xử theo “cách của nữ giới” bao nhiêu, thì người đó càng nuôi dưỡng “gati nữ” bấy nhiêu; nhưng như đã bàn ở trên, đây không phải là các saṅkhāra đạo đức hay phi đạo đức.

  1. In any of these cases, the more saṅkhāra one makes, the more one builds up the corresponding viññāṇa (saṅkhāra paccayā viññāṇa) and so on until it gets to strengthening upādāna and thus strengthening bhava (upādāna paccayā bhava).

Trong bất kỳ trường hợp nào như vậy, càng tạo nhiều saṅkhāra bao nhiêu thì càng tích lũy nhiều viññāṇa tương ứng bấy nhiêu (saṅkhāra paccayā viññāṇa), và cứ thế cho đến khi làm mạnh upādāna, từ đó làm mạnh bhava (upādāna paccayā bhava).

  • Therefore, Paṭicca Samuppāda explains how bhava is in the rebirth process and in bhava that lasts only for short periods, like getting into an “angry state of mind” or “angry bhava”.

Do đó, Paṭicca Samuppāda giải thích cách bhava vận hành cả trong tiến trình tái sinh lẫn trong những bhava chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, chẳng hạn như rơi vào một “trạng thái tâm sân” hay một “bhava sân hận”.

  1. Another possibility that may come into play in a transgender person (a person whose sex is changed during their lifetime) can be understood if one understands the role of the gandhabba (mental body) that dictates the functioning of the physical body. Gandhabba is not a Mahāyāna concept: “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka.”

Một khả năng khác có thể xảy ra nơi người chuyển giới (người có giới tính thay đổi trong suốt cuộc đời) có thể được hiểu nếu ta nắm rõ vai trò của gandhabba (thân tâm), vốn chi phối sự vận hành của thân vật lý. Gandhabba không phải là một khái niệm của Đại thừa: “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka”.

  • When a gandhabba goes into a womb, it is not firmly attached to the zygote (the cell formed by the union of the father and the mother) during the first several weeks.

Khi một gandhabba đi vào bào thai, nó chưa gắn chặt với hợp tử (tế bào được hình thành từ sự kết hợp của cha và mẹ) trong vài tuần đầu tiên.

  • Sometimes, the gandhabba leaves the womb if it turns out to be not a good match with the parents. This is the reason for a miscarriage.

Đôi khi, gandhabba rời khỏi bào thai nếu nhận thấy không phù hợp với cha mẹ. Đây chính là nguyên nhân của hiện tượng sẩy thai.

  • If a gandhabba leaves the womb within such a short period, in some cases another gandhabba can enter the womb and take possession of the partially formed physical body abandoned by the previous gandhabba. Now, the second gandhabba may be of the opposite sex.

Nếu một gandhabba rời khỏi bào thai trong thời gian ngắn như vậy, thì trong một số trường hợp, một gandhabba khác có thể đi vào bào thai và tiếp quản thân vật lý đang hình thành dang dở do gandhabba trước để lại. Gandhabba thứ hai này có thể thuộc giới tính ngược lại.

  • For example, suppose the first gandhabba was a male and the second a female. This female is thus taking hold of a physical body that was taking shape to be a male and thus continues to form a male body. Once born as a male baby, and while growing, the female character may start to convert the physical body to that of a female. This is what happens to a transgender person.

Ví dụ, giả sử gandhabba đầu tiên là nam và gandhabba thứ hai là nữ. Như vậy, gandhabba nữ này tiếp quản một thân vật lý vốn đang hình thành theo hướng nam giới và do đó thân vẫn tiếp tục phát triển theo dạng nam. Sau khi sinh ra là một bé trai, trong quá trình lớn lên, các đặc tính nữ có thể bắt đầu chuyển hóa thân vật lý theo hướng nữ. Đây là điều xảy ra đối với người chuyển giới.

  1. One is bound to the kāma loka because one craves sensory pleasures, whether tasting good food, watching movies, listening to music, smelling lovely fragrances, or engaging in sexual activities. If one does those activities without engaging in immoral activities, then the only harm done is to be eligible to be born in the kāma loka.

Một người bị ràng buộc vào kāma loka vì còn ham muốn các lạc thú giác quan, dù là nếm thức ăn ngon, xem phim, nghe nhạc, ngửi mùi hương dễ chịu hay tham gia các hoạt động tình dục. Nếu những hoạt động đó không đi kèm với các hành vi phi đạo đức, thì tác hại duy nhất là vẫn còn đủ điều kiện để tái sinh trong kāma loka.

  • If one desires such bodily pleasures, one cannot be freed from even the higher realms in the kāma loka (human and deva realms). However, it becomes relevant only at the Anāgāmī A Sotāpanna or a Sakadāgāmī has not given up desires for sensual pleasures.

Nếu còn ham muốn các lạc thú thân như vậy, thì người đó chưa thể thoát khỏi ngay cả các cõi cao trong kāma loka (cõi người và cõi deva). Tuy nhiên, điều này chỉ trở nên then chốt ở tầng bậc Anāgāmī. Một Sotāpanna hay Sakadāgāmī vẫn chưa từ bỏ hoàn toàn các ham muốn dục lạc.

  • I have not seen anything in the Tipiṭaka that distinguishes between sexual activities based on who the partners are. So, it seems that homosexual or bisexual activities are not that different from heterosexual activities regarding kammic consequences are concerned. They are all done to achieve bodily pleasures.

Tôi chưa thấy trong Tipiṭaka có chỗ nào phân biệt các hoạt động tình dục dựa trên việc đối tác là ai. Vì vậy, xét về hậu quả kamma, các hoạt động đồng tính hay song tính dường như không khác nhiều so với dị tính. Tất cả đều nhằm đạt được các lạc thú thân.

  • However, if one engages in immoral activities — in particular breaking the five precepts — then one would be eligible to be born in the lowest four realms of the kāma loka, the apāyā.

Tuy nhiên, nếu một người tham gia vào các hành vi phi đạo đức — đặc biệt là vi phạm năm giới — thì người đó sẽ đủ điều kiện để sinh vào bốn cõi thấp nhất của kāma loka, tức là các apāyā.

  • I specifically commented on homosexuality in answering a specific question by a reader. The main point is to ensure that any pleasurable activity at the expense of hurting someone will have harmful consequences. Depending on the nature, it could make one eligible to be born in the apāyā.

Tôi đã bàn cụ thể về đồng tính khi trả lời một câu hỏi riêng của độc giả. Điểm chính yếu là cần bảo đảm rằng bất kỳ hoạt động tạo khoái lạc nào gây tổn hại cho người khác đều sẽ mang lại hậu quả bất lợi. Tùy theo tính chất của hành vi đó, nó có thể khiến người ta đủ điều kiện để sinh vào các apāyā.

  1. One way to understand the anicca nature is to look at the transient nature of our physical body and that it can provide only temporary bodily pleasures, even though they are enjoyable.

Một cách để hiểu bản chất anicca là quan sát tính vô thường của thân vật lý và nhận ra rằng nó chỉ có thể mang lại các lạc thú thân mang tính tạm thời, dù những lạc thú đó có thể dễ chịu.

  • The gandhabba is the more long-lasting entity; a human bhava can last many thousands of years; a physical body is a temporary shell used by the gandhabba for about 100 years.

Gandhabba là thực thể tồn tại lâu dài hơn; một bhava làm người có thể kéo dài hàng ngàn năm; còn thân vật lý chỉ là một “vỏ bọc” tạm thời được gandhabba sử dụng trong khoảng 100 năm.

  • The bodily pleasures one experiences with this “physical shell” can last only the early part of 100 years. With age, those pleasures weaken, and there is no way to keep them the same.

Các lạc thú thân mà người ta trải nghiệm với “vỏ bọc vật lý” này chỉ tồn tại trong giai đoạn đầu của khoảng 100 năm đó. Khi tuổi tác tăng lên, những lạc thú ấy suy giảm, và không có cách nào để duy trì chúng như cũ.

  • On the other hand, jhānic pleasures — or at least nirāmisa sukha — can be enjoyed even in old age, as long as one keeps steps to maintain the brain in good condition. The gandhabba — since it is trapped inside the physical body — needs the brain to be mindful and to cultivate good vacī and mano saṅkhāra; this is what is emphasized in the earlier posts in this section, and analyzed in detail (for those who need to go deeper) in the Abhidhamma

Ngược lại, các lạc thọ jhāna — hoặc ít nhất là nirāmisa sukha — vẫn có thể được trải nghiệm ngay cả khi tuổi cao, miễn là người ta biết duy trì não bộ trong tình trạng tốt. Gandhabba — vì bị “kẹt” bên trong thân vật lý — cần đến não bộ để duy trì chánh niệm và nuôi dưỡng các vacī và mano saṅkhāra tốt; đây chính là điều được nhấn mạnh trong các bài viết trước của phần này, và được phân tích chi tiết hơn (đối với những ai muốn đào sâu) trong phần Abhidhamma.

  1. Finally, it is essential to emphasize the point that it will take a concerted effort to understand these concepts fully. The more one reads, the more one will understand. It is not possible to gain insight by reading a few posts. One has to spend time and read relevant posts to “fill in the gaps.”

Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng để hiểu đầy đủ các khái niệm này đòi hỏi một nỗ lực bền bỉ và có hệ thống. Càng đọc nhiều, người ta sẽ càng hiểu sâu hơn. Không thể đạt được tuệ giác chỉ bằng việc đọc vài bài viết. Người ta cần dành thời gian đọc các bài liên quan để “điền vào chỗ trống”.

  • A simple introduction to the concept of gandhabba is given in this section: “Our Mental Body – Gandhabba.”

Một phần giới thiệu đơn giản về khái niệm gandhabba được trình bày trong mục này: “Our Mental Body – Gandhabba”.

  • A section of the Abhidhamma is devoted to gandhabba: “Gandhabba (Manomaya Kāya).” There are posts in other sections too.

Một phần của Abhidhamma được dành riêng cho gandhabba: “Gandhabba (Manomaya Kāya)”. Ngoài ra, còn có các bài viết khác ở những mục khác nữa.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *