Noble Eightfold Path – Role of Sobhana Cetasika / Bát Chánh Đạo – Vai trò của Sobhana Cetasika

September 30, 2016; revised December 5, 2017 (#5); July 11, 2021; August 26, 2022

Ngày 30/09/2016; chỉnh sửa 05/12/2017 (#5); 11/07/2021; 26/08/2022

  1. In previous posts in this section, we have discussed how nirāmisa sukha or “peace of mind” arises due to both removal of asobhana cetasika (non-beautiful mental factors) or kilesa AND the cultivation of sobhana cetasika (beautiful mental factors).

Trong các bài trước của phần này, chúng ta đã bàn về cách nirāmisa sukha hay “sự an lạc nội tâm” sinh khởi do cả hai yếu tố: sự loại bỏ các asobhana cetasika (các tâm sở bất thiện) hay kilesa VÀ sự tu tập các sobhana cetasika (các tâm sở thiện).

  • In this post, I will point out that 7 of the 8 factors in the Noble Eightfold Path are in the set of sobhana cetasika.

Trong bài viết này, tôi sẽ chỉ ra rằng 7 trong số 8 yếu tố của Bát Chánh Đạo nằm trong nhóm sobhana cetasika (các tâm sở thiện).

  1. The most important fact that one needs to comprehend from the posts in this series up to this point, is that our minds are heated/agitated by the presence of asobhana cetasika or kilesa or defilements.

Điều quan trọng nhất cần hiểu từ các bài viết trong loạt này cho đến nay là: tâm của chúng ta bị “nung nóng”, kích động bởi sự hiện diện của asobhana cetasika hay kilesa, tức là các nhiễm ô.

  • On the other hand, our minds are soothed and comforted, and made joyful by the presence of sobhana cetasika.

Ngược lại, tâm của chúng ta được làm dịu, được an ủi và trở nên hoan hỷ nhờ sự hiện diện của sobhana cetasika.

  • One may not realize this until one comprehends this fact and practices cultivating sobhana cetasika while suppressing/removing asobhana cetasika.

Người ta có thể không nhận ra điều này cho đến khi hiểu rõ sự thật đó và thực hành nuôi dưỡng sobhana cetasika đồng thời chế ngự/loại bỏ asobhana cetasika.

  1. As explained elsewhere at the site, Abhidhamma, with its methodical analysis of citta and cetasika, was not finalized for a few hundred years after the Parinibbāna of the Buddha at the Third Buddhist Council. This enlarged Canon completed at the Third Council was committed to writing in Sri Lanka in the first century BCE (29 BCE) at the Aluvihara Monastery at the Fourth Buddhist Council. This was the last Buddhist Council attended by Arahants.

Như đã giải thích ở những nơi khác trên trang này, Abhidhamma, với phương pháp phân tích có hệ thống về citta và cetasika, chỉ được hoàn chỉnh vài trăm năm sau khi Đức Phật nhập Parinibbāna tại Đại hội Phật giáo Lần thứ ba. Tam Tạng mở rộng này được ghi chép thành văn bản tại Sri Lanka vào thế kỷ I TCN (29 TCN) ở tu viện Aluvihara trong Đại hội Phật giáo Lần thứ tư. Đây là kỳ đại hội cuối cùng có sự tham dự của các vị Arahant.

  • Soon after that, the decline of the pure Dhamma of the Buddha started its decline with the simultaneous rise of the Mahāyāna; see the section “Historical Background.”

Ngay sau đó, Dhamma trong sáng của Đức Phật bắt đầu suy tàn đồng thời với sự nổi lên của Đại thừa; xem mục “Historical Background.”

  • When Buddhaghosa wrote the Visuddhimagga, presumed to be a summary of the Tipiṭaka, even Theravadins stopped using the Tipiṭaka for convenience.

Khi Buddhaghosa biên soạn bộ Visuddhimagga, được xem như bản tóm lược của Tipiṭaka, ngay cả các truyền thống Theravāda cũng dần bỏ việc trực tiếp sử dụng Tipiṭaka vì lý do tiện lợi.

  • Therefore, no one seemed to have realized some important possible usages of cetasika: First, kilesa are the same as asobhana cetasika. Second, components of the Noble Eightfold Path are in the set of sobhana cetasika. This makes it easier to comprehend how one could systematically follow the Path, which is the post’s focus.

Vì vậy, dường như không ai nhận ra một số ứng dụng quan trọng của cetasika: Thứ nhất, kilesa chính là asobhana cetasika. Thứ hai, các yếu tố của Bát Chánh Đạo nằm trong nhóm sobhana cetasika. Điều này giúp dễ hiểu hơn cách ta có thể tuần tự đi theo Con Đường Tu tập, vốn là trọng tâm của bài viết này.

  • I will discuss the details in the upcoming desanās, but here I would like to provide a summary that we can use for that discussion. Another summary post that will be used in these desanās is a summary given in one of the previous posts: “What Are Kilesa (Mental Impurities)? – Connection to Cetasika.”

Tôi sẽ trình bày chi tiết trong các desanā sắp tới, nhưng ở đây tôi xin đưa ra một bản tóm lược để làm nền cho các thảo luận đó. Một bài tóm lược khác sẽ được dùng là bài trước: “What Are Kilesa (Mental Impurities)? – Connection to Cetasika.”

  1. Let us start by continuing from the last desanā, where we discussed how INITIAL thoughts in response to a sensory event arise without us even being conscious about it. These initial thoughts arise AUTOMATICALLY due to our gati or set of sobhana/asobhana cetasika. Any akusala thoughts arise due to our kilesa, which are the same as asobhana cetasika.

Hãy tiếp tục từ desanā trước, nơi chúng ta đã bàn về việc các ý nghĩ BAN ĐẦU sinh khởi khi có một sự kiện giác quan mà ta thậm chí không ý thức được. Những ý nghĩ ban đầu này sinh khởi TỰ ĐỘNG do gati hay tập hợp sobhana/asobhana cetasika của chúng ta. Mọi ý nghĩ bất thiện (akusala) đều sinh do kilesa, tức là asobhana cetasika.

  • However, because our speech and bodily actions are much slower than the rising of those initial thoughts, we can keep vigilant and reverse any reactive akusala thoughts that are AUTOMATICALLY generated.

Tuy nhiên, vì lời nói và hành động thân thể của ta chậm hơn rất nhiều so với sự sinh khởi của những ý nghĩ ban đầu đó, nên ta có thể giữ tỉnh giác và đảo ngược những ý nghĩ phản ứng bất thiện được sinh ra TỰ ĐỘNG.

  • This is the basis of both Satipaṭṭhāna and Ānāpānasati Bhāvanā. Please listen to that previous desanā on “How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts?” and fully comprehend this important concept. Here is the link to that desanā in two parts (there is volume control on the right, but for the second desanā, you may need to turn up the volume on your computer):

Đây chính là nền tảng của cả Satipaṭṭhāna và Ānāpānasati Bhāvanā. Vui lòng nghe lại desanā trước “How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts?” và thấu hiểu trọn vẹn khái niệm quan trọng này. Đây là liên kết đến desanā gồm hai phần (có nút chỉnh âm lượng bên phải, nhưng với phần thứ hai bạn có thể cần tăng âm lượng trên máy tính):

WebLink: Audio Desanā: Episode 4 – How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts?

WebLink: Audio Desanā: Episode 4 – How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts? (Original – Larger file size)

WebLink: Audio Desanā: Episode 4 – How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts? (Bản gốc – Dung lượng tập tin lớn hơn)

  • We also discussed the evidence for such gati to be associated with any given person and addressed the question of where they are “stored.”

Chúng ta cũng đã bàn về bằng chứng cho thấy mỗi người đều có những gati riêng và đã đề cập đến câu hỏi chúng được “lưu giữ” ở đâu.

  1. We also saw in the above desanās that those initial thoughts that arise in response to a sense event are called mano saṅkhāra. Therefore, we do not have conscious control over mano saṅkhāra, AND they arise within a fraction of a second DUE TO our gati (set of sobhana/asobhana cetasika).

Chúng ta cũng đã thấy trong các desanā trên rằng những ý nghĩ ban đầu sinh khởi để đáp ứng một sự kiện giác quan được gọi là mano saṅkhāra. Do đó, chúng ta không có sự kiểm soát có ý thức đối với mano saṅkhāra, VÀ chúng sinh khởi trong một phần cực nhỏ của giây là DO gati của chúng ta (tập hợp sobhana/asobhana cetasika).

  • December 5, 2017: Such akusala mano saṅkhāra CAN then lead to the generation of vacī saṅkhāra (silent speech in our heads and speech) and kāya saṅkhāra (bodily actions). This differs from the desanā, and I have discussed the reasons for this revision in “Correct Meaning of Vacī Saṅkhāra.”

Ngày 05/12/2017: Những akusala mano saṅkhāra như vậy CÓ THỂ dẫn đến sự phát sinh của vacī saṅkhāra (lời nói thầm trong tâm và lời nói ra bên ngoài) và kāya saṅkhāra (hành động thân). Điều này khác với các desanā trước đây, và tôi đã thảo luận lý do của sự điều chỉnh này trong bài “Correct Meaning of Vacī Saṅkhāra”.

  • But, if we are mindful (sati), we can catch any such akusala mano saṅkhāra and make sure they do not lead to akusala vacī and kāya saṅkhāra.

Nhưng nếu chúng ta có chánh niệm (sati), chúng ta có thể nhận ra những akusala mano saṅkhāra đó và bảo đảm rằng chúng không dẫn đến akusala vacī và kāya saṅkhāra.

  • In the Eightfold Path, such deliberately generated vacī saṅkhāra are called sammā saṅkappa or sammā sankalpa.

Trong Bát Chánh Đạo, những vacī saṅkhāra được tạo tác một cách có chủ ý như vậy được gọi là sammā saṅkappa hay sammā sankalpa.

  • And those sammā saṅkappa were generated because one acted with sammā sati.

Và những sammā saṅkappa đó được sinh khởi vì người ấy đã hành xử với sammā sati.

  1. In the above desanās, we discussed an example of a person X finding a lost ring. If X had strong greedy gati, the initial thoughts (mano saṅkhāra) could be to keep the ring for himself. However, if X knows about being mindful, X has time to evaluate the situation with vacī saṅkhāra (in his head) and conclude that keeping the ring for himself is immoral.

Trong các desanā ở trên, chúng ta đã bàn về ví dụ một người X nhặt được một chiếc nhẫn bị đánh rơi. Nếu X có gati tham lam mạnh, thì những ý nghĩ ban đầu (mano saṅkhāra) có thể là giữ chiếc nhẫn cho riêng mình. Tuy nhiên, nếu X biết thực hành chánh niệm, X sẽ có thời gian để xem xét tình huống bằng vacī saṅkhāra (trong tâm) và đi đến kết luận rằng việc giữ chiếc nhẫn cho riêng mình là không đạo đức.

  • If he made that correct decision, even after thinking about it, he could prevent an akusala kamma of stealing. Not only that, he can do a kusala kamma by ensuring that the ring is returned to the rightful owner.

Nếu anh ta đưa ra được quyết định đúng đắn đó, dù sau khi đã suy nghĩ, thì anh ta có thể ngăn chặn một akusala kamma là hành vi trộm cắp. Không những vậy, anh ta còn có thể tạo một kusala kamma bằng cách bảo đảm chiếc nhẫn được trả lại cho người chủ hợp pháp.

  • So, now we can see the critical roles of sammā sati and sammā saṅkappa in the Eightfold Path. We have the opportunity (unlike animals) to rationally think about our initial REACTIVE decisions and to reverse them if they are immoral.

Như vậy, giờ đây chúng ta có thể thấy vai trò then chốt của sammā sati và sammā saṅkappa trong Bát Chánh Đạo. Chúng ta có cơ hội (khác với loài vật) để suy xét một cách lý trí những PHẢN ỨNG ban đầu của mình và đảo ngược chúng nếu chúng là không đạo đức.

  1. If X acted with sammā sati and realized the problem with the initial reaction and made the right decision with sammā saṅkappa, then he can take the next steps to sammā vācā (moral speech) and sammā kammanta (moral actions) to implement that decision. He can walk over to the counter, hand over the ring, and tell the office personnel to return the ring to the owner.

Nếu X hành xử với sammā sati, nhận ra vấn đề của phản ứng ban đầu và đưa ra quyết định đúng đắn với sammā saṅkappa, thì anh ta có thể tiến tới các bước tiếp theo là sammā vācā (lời nói đạo đức) và sammā kammanta (hành động đạo đức) để thực hiện quyết định đó. Anh ta có thể đi đến quầy, giao lại chiếc nhẫn và nhờ nhân viên trả chiếc nhẫn cho người chủ.

  • This is just one possible example. We come across many such instances during the day. In another example, one may get annoyed by someone accidentally stepping on one’s foot in a crowded place and start yelling at that person without thinking about the consequences. That person did not intentionally do that, especially since it was likely to be a stranger.

Đây chỉ là một ví dụ có thể xảy ra. Chúng ta gặp rất nhiều tình huống như vậy trong ngày. Ở một ví dụ khác, một người có thể bực bội khi bị ai đó vô tình giẫm lên chân ở nơi đông người và bắt đầu quát mắng người đó mà không nghĩ đến hậu quả. Người kia không hề cố ý, nhất là khi rất có thể đó chỉ là một người xa lạ.

  • Even if one started getting the words out, one could quickly stop and smile at the person indicating that it is no big deal. That would make that person be relieved because, most likely, he/she felt bad about it.

Ngay cả khi đã lỡ buông ra vài lời, người ta vẫn có thể nhanh chóng dừng lại và mỉm cười với người kia để cho thấy rằng đó không phải là chuyện lớn. Điều đó sẽ khiến người kia cảm thấy nhẹ nhõm, bởi rất có thể họ đã cảm thấy áy náy về việc đó.

  • This simple act of kindness would lead to a “cooling down” on both sides. The other person will feel relief and will thank for the kindness. Furthermore, it could have escalated into a shouting match and led to “heated minds” on both sides.

Hành động tử tế đơn giản này sẽ dẫn đến sự “mát dịu” ở cả hai phía. Người kia sẽ cảm thấy nhẹ nhõm và biết ơn vì sự tử tế đó. Hơn nữa, tình huống ấy hoàn toàn có thể đã leo thang thành một cuộc cãi vã và dẫn đến “tâm nóng giận” ở cả hai bên.

  1. When one sees the benefits of such mindful behavior, one will start doing more. One will start living a moral life. This is sammā ājīva or moral livelihood.

Khi một người thấy được lợi ích của lối hành xử có chánh niệm như vậy, người ấy sẽ bắt đầu thực hành nhiều hơn. Người ấy sẽ bắt đầu sống một đời sống đạo đức. Đó chính là sammā ājīva, hay sinh kế đạo đức.

  • Not only that, one will make an extra effort to be mindful and catch any reactive thoughts that could lead to such akusala kamma. This is sammā vāyāma or moral effort.

Không chỉ vậy, người ấy còn nỗ lực hơn nữa để giữ chánh niệm và nhận ra bất kỳ ý nghĩ phản ứng nào có thể dẫn đến những akusala kamma như vậy. Đây là sammā vāyāma, hay nỗ lực đạo đức.

  • In a few weeks or months, this will start changing one’s ingrained gati. When one stops using asobhana cetasika, their power will diminish with time. At the same time, one is cultivating sobhana cetasikā (i.e., sammā sati, sammā saṅkappa, sammā vācā, sammā kammanta, sammā ājīva, sammā vāyāma). Thus bad gati will diminish, and good gati will grow.

Sau vài tuần hoặc vài tháng, điều này sẽ bắt đầu làm thay đổi gati đã ăn sâu trong con người. Khi người ta ngừng sử dụng các asobhana cetasika, sức mạnh của chúng sẽ dần suy giảm theo thời gian. Đồng thời, người ấy đang nuôi dưỡng các sobhana cetasikā (tức là sammā sati, sammā saṅkappa, sammā vācā, sammā kammanta, sammā ājīva, sammā vāyāma). Do đó, gati xấu sẽ suy giảm và gati tốt sẽ tăng trưởng.

  1. Now, X was able to think rationally about the bad consequences of his initial decision (mano saṅkhāra) to keep the ring because he had sammā diṭṭhi or moral vision, to some extent. Deep down, he knew that such an act of stealing was immoral and was able to fight off the tendency to keep it.

Lúc này, X có thể suy nghĩ một cách lý trí về những hậu quả xấu của quyết định ban đầu (mano saṅkhāra) là giữ chiếc nhẫn, bởi vì ở một mức độ nào đó anh ta có sammā diṭṭhi, tức là cái nhìn đạo đức đúng đắn. Sâu thẳm bên trong, anh ta biết rằng hành vi trộm cắp như vậy là không đạo đức và có thể chống lại khuynh hướng muốn giữ chiếc nhẫn.

  • Sammā diṭṭhi is related to the sobhana cetasika of paññā, which is loosely translated as “wisdom.” This “wisdom” cannot be cultivated by reading books, even by reading Dhamma. The paññā cetasika is cultivated by learning Dhamma and living it (i.e., by following the Eightfold Path), thereby getting rid of moha.

Sammā diṭṭhi liên hệ đến sobhana cetasika là paññā, thường được diễn đạt một cách tương đối là “trí tuệ”. “Trí tuệ” này không thể được nuôi dưỡng chỉ bằng việc đọc sách, kể cả đọc Dhamma của Đức Phật. Paññā cetasika được nuôi dưỡng bằng cách học và sống theo Dhamma của Đức Phật (tức là thực hành Bát Chánh Đạo), nhờ đó dần loại bỏ moha.

  1. Now, let us examine the connection between the other factors in the Eightfold Path (here, the mundane version) and some of the sobhana cetasika.

Bây giờ, chúng ta hãy xem xét mối liên hệ giữa các yếu tố còn lại của Bát Chánh Đạo (ở đây là phiên bản thế tục) với một số sobhana cetasika.

  • First, three factors in the Eightfold Path have the same names in the list of sobhana cetasika: sammā vācā, sammā kammanta, sammā ājīva; see “Cetasika (Mental Factors).”

Trước hết, có ba yếu tố trong Bát Chánh Đạo có cùng tên với các yếu tố trong danh sách sobhana cetasika: sammā vācā, sammā kammanta, sammā ājīva; xem “Cetasika (Mental Factors)”.

  1. Sammā saṅkappa are the vacī saṅkhāra that we deliberately generate even if we have akusala mano saṅkhāra arising due to sense inputs. Vacī saṅkhāra are described in the suttā as vitakka (pronounced “vithakka”) and vicāra (pronounced “vichaara”). Vitakka is turning the mind towards a thought object, and vicāra is keeping the mind around that thought object.

Sammā saṅkappa là các vacī saṅkhāra được chúng ta tạo ra một cách có chủ ý, ngay cả khi có akusala mano saṅkhāra sinh khởi do các xúc chạm từ giác quan. Trong các bài kinh, vacī saṅkhāra được mô tả là vitakka (phát âm là “vithakka”) và vicāra (phát âm là “vichaara”). Vitakka là hướng tâm đến một đối tượng tư duy, còn vicāra là duy trì tâm quanh đối tượng tư duy đó.

  • Those who are familiar with jhānā know that vitakka and vicāra are two jhāna factors in anāriya jhānā. In the first anāriya jhāna, one can, for example, turn the mind into a kasiṇa object (vitakka) and keep it there (vicāra). In Ariya jhānā, they are called savitakka and savicāra because one is focused on Nibbāna.

Những ai quen thuộc với jhānā đều biết rằng vitakka và vicāra là hai yếu tố của jhāna trong anāriya jhānā. Trong anāriya jhāna đầu tiên, chẳng hạn, người ta có thể hướng tâm đến một đối tượng kasiṇa (vitakka) và giữ tâm ở đó (vicāra). Trong Ariya jhānā, chúng được gọi là savitakka và savicāra vì tâm được hướng đến Nibbāna.

  • So, you can see that maintaining sammā saṅkappa is the same as generating “moral” vitakka and vicāra or kusala vacī saṅkhāra. Remember that these are generated in the head, not speaking out. They are called “sankalpana” in Sinhala.

vậy, có thể thấy rằng duy trì sammā saṅkappa cũng chính là tạo ra vitakka và vicāra mang tính đạo đức, hay kusala vacī saṅkhāra. Hãy nhớ rằng chúng được sinh khởi trong tâm, chứ không phải lời nói phát ra bên ngoài. Trong tiếng Sinhala, chúng được gọi là “sankalpana”.

  • Also, we note that vitakka and vicāra could be used in immoral paths. A master thief planning a robbery will focus on that task and spend many hours thinking about the plan. So, those two cetasikā fall under the category called particulars or pakiṇṇaka; they can appear in kusala or akusala thoughts as needed.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng vitakka và vicāra cũng có thể được sử dụng trong các con đường phi đạo đức. Một tên trộm lão luyện khi lên kế hoạch cho một vụ trộm sẽ tập trung vào việc đó và dành nhiều giờ để suy nghĩ về kế hoạch. Do đó, hai cetasikā này thuộc nhóm được gọi là các yếu tố riêng biệt hay pakiṇṇaka; chúng có thể xuất hiện trong các tâm kusala hoặc akusala tùy theo hoàn cảnh.

  1. Now, sammā vāyāma arises from another of these particulars, or pakiṇṇaka cetasika, the viriya cetasika.

Bây giờ, sammā vāyāma sinh khởi từ một yếu tố riêng biệt khác, hay pakiṇṇaka cetasika, đó là viriya cetasika.

  • When one is making an effort to live a moral life, that sammā vāyāma. If one is making an effort towards an immoral life, like that master thief, he is making micchā vāyāma.

Khi một người nỗ lực sống một đời sống đạo đức, đó là sammā vāyāma. Nếu người ấy nỗ lực hướng đến một đời sống phi đạo đức, như tên trộm lão luyện kia, thì đó là micchā vāyāma.

  • Of course the sati cetasika, which is a sobhana cetasika, is sammā sati.

Dĩ nhiên, sati cetasika, vốn là một sobhana cetasika, chính là sammā sati.

  1. Now, we are left with sammā samādhi. This is the only factor that is not related to a cetasika Most people have the idea that samādhi is jhāna or at least is attained only in formal meditation. But it is much deeper. In the next desanā, I will discuss samādhi and the implications of what is summarized in this post.

Giờ đây, chúng ta còn lại sammā samādhi. Đây là yếu tố duy nhất không liên hệ trực tiếp với một cetasika nào. Đa số mọi người cho rằng samādhi là jhāna, hoặc ít nhất chỉ đạt được trong thiền định chính thức. Nhưng ý nghĩa của nó sâu sắc hơn nhiều. Trong desanā tiếp theo, tôi sẽ bàn về samādhi và những hệ quả của nội dung được tóm lược trong bài viết này.

  • We are trying to comprehend and reinforce the FOUNDATION of Buddha Dhamma: How one can remove the “thaapa” or “heat” from the mind by getting rid of asobhana cetasika (kilesa) and SIMULTANEOUSLY “cool down” the mind and bring joy to it, by cultivating sobhana cetasika.

Chúng ta đang cố gắng hiểu và củng cố NỀN TẢNG của Dhamma của Đức Phật: làm thế nào một người có thể loại bỏ “thaapa” hay “nhiệt” trong tâm bằng cách loại trừ các asobhana cetasika (kilesa), ĐỒNG THỜI “làm mát” tâm và mang lại niềm hoan hỷ cho tâm bằng cách nuôi dưỡng các sobhana cetasika.

This was discussed in the first desanā in this series:

Điều này đã được bàn đến trong desanā đầu tiên của loạt bài này:

The Hidden Suffering that We All Can Understand”.

 WebLink: Audio Desanā: Episode 1 – The Hidden Suffering That We All Can Understand

WebLink: Audio Desanā: Episode 1 – The Hidden Suffering That We All Can Understand (Original – Larger file size)

WebLink: Audio Desanā: Episode 1 – The Hidden Suffering That We All Can Understand (Bản gốc – Dung lượng tập tin lớn hơn)

  • More details were given in the following two desanās:

Nhiều chi tiết hơn đã được trình bày trong hai desanā tiếp theo:

“Suffering in This Life – Role of Mental Impurities”.

WebLink: Audio Desanā: Episode 2 – Suffering in This Life – Role of Mental Impurities

WebLink: Audio Desanā: Episode 2 – Suffering in This Life – Role of Mental Impurities (Original – Larger file size)

WebLink: Audio Desanā: Episode 2 – Suffering in This Life – Role of Mental Impurities (Bản gốc – Dung lượng tập tin lớn hơn)

“Satipattana Sutta – Relevance to Suffering in This Life”

WebLink: Audio Desanā: Episode 3 – Satipaṭṭhāna Sutta – Relevance to Suffering in This Life

WebLink: Audio Desanā: Episode 3 – Satipaṭṭhāna Sutta – Relevance to Suffering in This Life (Original – Larger file size)

WebLink: Audio Desanā: Episode 3 – Satipaṭṭhāna Sutta – Relevance to Suffering in This Life (Bản gốc – Dung lượng tập tin lớn hơn)

  1. As discussed in the above desanās, akusala thoughts that arise with asobhana cetasika cloud our minds and keep us in the dark. Moha is darkness; it leads to lobha and dosa. That darkness can be temporarily lifted (tadaṅga pahāna) during listening or reading Dhamma.

Như đã bàn trong các desanā ở trên, các ý nghĩ akusala sinh khởi cùng với asobhana cetasika sẽ che mờ tâm trí và giữ chúng ta trong bóng tối. Moha chính là bóng tối; nó dẫn đến lobha và dosa. Bóng tối đó có thể được tạm thời xua tan (tadaṅga pahāna) khi lắng nghe hoặc đọc Dhamma của Đức Phật.

  • The next step is to keep that “light on” for days and weeks by being mindful and stopping akusala thoughts that lead to akusala kamma for an extended time. This is vikkhambhana pahāna, which is what we are trying to achieve now. It is done by being mindful, i.e., with sammā sati.

Bước tiếp theo là giữ cho “ánh sáng” đó được duy trì trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần bằng cách thực hành chánh niệm và ngăn chặn các ý nghĩ akusala dẫn đến akusala kamma trong một khoảng thời gian dài. Đây là vikkhambhana pahāna, điều mà chúng ta đang cố gắng đạt được hiện nay. Việc này được thực hiện bằng chánh niệm, tức là với sammā sati.

  • The ultimate goal is to permanently remove such asobhana cetasika and to make that “cooling down” permanent (uccheda pahāna), even for future lives. We will get to that in future posts. But we need to establish a good foundation and experience the nirāmisa sukha for extended periods (vikkhambhana pahāna) first.

Mục tiêu tối hậu là loại bỏ vĩnh viễn các asobhana cetasika như vậy và làm cho sự “làm mát” đó trở nên lâu dài (uccheda pahāna), kể cả cho những đời sống tương lai. Chúng ta sẽ đề cập đến điều này trong các bài viết sau. Nhưng trước hết, chúng ta cần thiết lập một nền tảng vững chắc và trải nghiệm nirāmisa sukha trong những khoảng thời gian dài (vikkhambhana pahāna).

  1. To get rid of darkness (moha), one has to bring light in. Light is paññā or “wisdom”, a sobhana cetasika. The Noble Eightfold Path is designed to optimize the paññā cetasika — via sammā samādhi — and to eliminate the moha cetasika.

Để loại bỏ bóng tối (moha), người ta phải mang ánh sáng vào. Ánh sáng chính là paññā, hay “trí tuệ”, một sobhana cetasika. Bát Chánh Đạo được thiết kế để tối ưu hóa paññā cetasika — thông qua sammā samādhi — và để loại trừ moha cetasika.

  • Other sobhana cetasika, like karuṇā and mudita (or mudutā), also help with this process.

Các sobhana cetasika khác, như karuṇā và mudita (hoặc mudutā), cũng hỗ trợ cho tiến trình này.

  • Ultimately, one will see how different pieces of the puzzle (including Paṭicca Samuppāda) all fit together to make an easy-to-see picture of the whole process. That will make it easier to grasp the Tilakkhaṇa and advance to the next stage.

Cuối cùng, người ta sẽ thấy các mảnh ghép khác nhau của bức tranh (bao gồm cả Paṭicca Samuppāda) kết hợp với nhau như thế nào để tạo nên một bức tranh tổng thể dễ nhận thấy về toàn bộ tiến trình. Điều đó sẽ giúp việc nắm bắt Tilakkhaṇa trở nên dễ dàng hơn và tiến lên giai đoạn tiếp theo.

  • All of these can be shown to be consistent with the scheme of sīla, samādhi, and paññā. In the WebLink: suttacentral: Cetanā Karaṇīya Sutta (AN 11.2), the Buddha has detailed how sīla (moral conduct) leads to nirāmisa sukha, and nirāmisa sukha leads to samādhi, and samādhi, in turn, leads to paññā. We will discuss all these in the upcoming desanās.

Tất cả những điều này đều có thể được chứng minh là phù hợp với mô hình sīla, samādhi và paññā. Trong WebLink: suttacentral: Cetanā Karaṇīya Sutta (AN 11.2), Đức Phật đã trình bày chi tiết cách mà sīla (giới hạnh) dẫn đến nirāmisa sukha, nirāmisa sukha dẫn đến samādhi, và samādhi lại dẫn đến paññā. Chúng ta sẽ thảo luận tất cả những điều này trong các desanā sắp tới.

Next in the series, “Getting to Samādhi.”

Tiếp theo trong loạt bài: “Getting to Samādhi”.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *