Re-written September 4, 2022; re-written November 18, 2022
Viết lại ngày 4/9/2022; viết lại ngày 18/11/2022
A common misconception is that dukkha means the feeling of suffering. The Pāli word for suffering is dukha, with one “k.” The First Noble Truth (Dukkha Sacca) is not merely about dukha but how to get rid of it or dukkha (dukha + khaya).
Một hiểu lầm phổ biến là cho rằng “dukkha” có nghĩa là cảm giác đau khổ. Từ Pāli chỉ cảm giác khổ là “dukha” với một chữ “k”. Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất (Dukkha Sacca) không chỉ nói về cảm giác khổ (dukha) mà nói về việc làm thế nào để chấm dứt nó – tức dukkha (dukha + khaya, nghĩa là diệt trừ khổ).
Misconception 1 – Sensory Pleasures Can Overcome Suffering
Hiểu lầm 1 – Khoái Lạc Giác Quan Có Thể Khắc Phục Khổ Đau
- There was this question in a discussion forum, apparently by a young person, “With so many pleasurable things around us with the innovations from science and technology, why do people need to think about suffering? Isn’t Buddha’s message outdated?”
Có một câu hỏi trên diễn đàn thảo luận, có vẻ của một người trẻ: “Với quá nhiều thứ khoái lạc xung quanh nhờ khoa học và công nghệ, tại sao con người phải nghĩ đến khổ đau? Thông điệp của Đức Phật có lỗi thời không?”
- We all are seeking to avoid suffering. Modern society gives the impression that pursuing sensory pleasures will lead to happiness. But we have ample evidence that it does not work. Many people have enough wealth to acquire any sensory pleasure they desire. But don’t they suffer just like everyone else?
Tất cả chúng ta đều muốn tránh khổ. Xã hội hiện đại tạo ấn tượng rằng theo đuổi khoái lạc giác quan sẽ đem lại hạnh phúc. Nhưng có vô số bằng chứng cho thấy điều đó không đúng. Nhiều người đủ giàu để có bất cứ khoái lạc giác quan nào họ muốn, nhưng họ vẫn khổ như bao người khác.
- Suffering due to injuries, sicknesses, old age, etc., will be there irrespective of one’s wealth or accessibility to sensory pleasures.
Khổ vì tai nạn, bệnh tật, già nua… vẫn tồn tại bất kể giàu nghèo.
- Some wealthy people have committed suicide because they could not cope with depression. If they have enough wealth to access any sensory pleasures they desire, how can they become depressed?
Thậm chí có người rất giàu đã tự tử vì không chịu nổi trầm cảm. Nếu họ có thể hưởng mọi khoái lạc giác quan, tại sao họ vẫn trầm cảm?
- Buddha taught something that no one has ever taught: “We suffer in the long run BECAUSE of our attachment to sensory pleasures.”
Đức Phật dạy một điều mà chưa ai từng dạy: “Chúng ta khổ về lâu dài CHÍNH VÌ sự dính mắc vào khoái lạc giác quan.”
- The Buddha never said that “there are no sensory pleasures to be had in this world.” There are plenty of mind-pleasing things and activities. He said people could not SEE the suffering hidden in sensory pleasures.
Đức Phật không hề nói rằng “không có khoái lạc giác quan trong đời này.” Có rất nhiều điều và hoạt động làm vui tâm. Ngài dạy rằng con người không thể THẤY được nỗi khổ ẩn giấu trong khoái lạc giác quan.
- A fish bites into a tasty worm on a hook only because that worm is tasty. The fish would not take the bite otherwise. The problem is the “hook” that is hidden — which the fish does not see — but we can see. In the same way, an average human can only “see” the apparent pleasures accessible.
Con cá cắn con giun ngon trên lưỡi câu chỉ vì con giun ấy ngon; nếu không ngon nó đã không cắn. Vấn đề là cái “lưỡi câu” bị che giấu – cá không thấy nhưng chúng ta thì thấy. Cũng vậy, người bình thường chỉ “thấy” khoái lạc bề ngoài.
- Only a Buddha can “see” the long-term consequences of indulging in such apparent pleasures; see below.
Chỉ có một vị Phật mới “thấy” được hậu quả lâu dài của việc đắm chìm trong những khoái lạc ấy; xem dưới đây.
- We can get into trouble at different levels depending on how we pursue such sensory pleasures. The bad outcomes are evident if one does immoral things (stealing, sexual misconduct, etc.) in pursuing sensory pleasures.
Chúng ta có thể gặp rắc rối ở nhiều mức độ khác nhau tùy cách theo đuổi khoái lạc giác quan. Nếu làm các việc bất thiện như trộm cắp, tà dâm… để thỏa mãn khoái lạc thì hậu quả xấu là điều hiển nhiên.
- However, even “apparently harmless” sensory pleasures can bring about suffering in the rebirth process. That is the “previously unheard teachings” of a Buddha.
Nhưng ngay cả những khoái lạc “tưởng như vô hại” cũng có thể dẫn đến khổ đau trong vòng luân hồi tái sinh. Đó chính là giáo pháp “chưa từng được nghe” của một vị Phật.
- But that does not mean one should start giving up sensory pleasures from this moment. That will only lead to frustration. There is a step-by-step to be followed. See “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?”
Nhưng điều đó không có nghĩa là từ lúc này phải lập tức từ bỏ mọi khoái lạc giác quan. Làm vậy chỉ dẫn đến thất vọng và căng thẳng. Con đường tu tập phải đi theo từng bước một. Xem thêm bài: “Is It Necessary for a Buddhist to Eliminate Sensual Desires?”
Misconception 2 – First Noble Truth Is About Getting Rid of Physical Suffering
Hiểu lầm 2 – Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất Là Để Loại Bỏ Khổ Thân Trong Đời Này
- Some believe practicing Buddha Dhamma frees oneself of physical suffering in this life.
Một số người tin rằng thực hành Dhamma của Đức Phật có thể giúp thoát khỏi khổ thân trong đời này.
- They have the wrong idea that the First Noble Truth on Suffering is about physical suffering and that one can get rid of it by practicing Buddhism, i.e., by “doing meditation.”
Họ hiểu sai rằng Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất nói về khổ thân và rằng chỉ cần tu hành theo Phật Giáo hay “thiền định” là sẽ hết bệnh tật.
- Any suffering experienced in this life arises due to causes in the past. Even the Buddha had some ailments. Paṭicca Samuppāda can explain all that.
Mọi đau khổ trong đời này đều phát sinh từ các nhân trong quá khứ. Ngay cả Đức Phật cũng từng có bệnh. Paṭicca Samuppāda có thể giải thích tất cả điều đó.
- The following comment by another person can be a starting point: “I understand what the Buddha meant by suffering because I came down with this ailment.” Even worse types of suffering await us if we don’t try to understand the critical message of the Buddha.
Một lời bình của người khác có thể làm điểm khởi đầu: “Tôi hiểu Đức Phật nói gì về khổ vì tôi vừa mắc bệnh này.” Nhưng nếu không cố gắng hiểu thông điệp cốt lõi của Đức Phật, những dạng khổ đau tồi tệ hơn đang chờ đợi ta trong tương lai.
- But some vipāka can be “managed” or even avoided by understanding Paṭicca Samuppāda. For example, we can avoid CONDITIONS for some bad kamma vipāka to materialize by eating healthy and exercising. But some other strong vipāka cannot be avoided.
Tuy vậy, một số vipāka có thể được “quản lý” hoặc thậm chí tránh bớt nếu hiểu Paṭicca Samuppāda. Ví dụ, ta có thể tránh những ĐIỀU KIỆN khiến một số kamma vipāka xấu trổ bằng cách ăn uống lành mạnh, tập thể dục. Nhưng có những vipāka mạnh thì không thể tránh được.
- In another example, practicing Buddhism or meditation can also bring relief in this life. But that is relief from depression or other “mental suffering.” See “Three Kinds of Happiness – What is Nirāmisa Sukha?” However, relief from sicknesses or other ailments cannot be overcome that way. One must seek medical advice in those cases.
Một ví dụ khác: tu theo Phật Giáo hay thiền có thể mang lại sự nhẹ nhõm trong đời này, nhưng đó là sự nhẹ nhõm khỏi trầm cảm hay các dạng “khổ tâm.” Xem thêm: “Three Kinds of Happiness – What is Nirāmisa Sukha?” Tuy nhiên, bệnh tật thân thể thì không thể chữa khỏi chỉ bằng thiền; trong trường hợp đó cần phải tìm đến y học.
- A Buddhist’s goal is to stop ANY future suffering. Most people do not worry about that suffering because they don’t believe in rebirth. But not believing in something would not make that go away. One needs to realize that suffering is “built-in” with the laws of nature described by Paṭicca Samuppāda.
Mục tiêu của một Phật tử là chấm dứt MỌI khổ đau trong tương lai. Phần lớn người ta không lo lắng về điều đó vì họ không tin vào tái sinh. Nhưng không tin thì khổ vẫn không biến mất. Cần hiểu rằng khổ đau là “được lập trình sẵn” trong các quy luật tự nhiên được mô tả bởi Paṭicca Samuppāda.
- Every death inevitably leads to another birth as long as CONDITIONS exist. Similarly, every birth ends in decay and death. Furthermore, some births have unimaginable suffering built in. All that is explained by various Paṭicca Samuppāda cycles.
Mỗi cái chết tất yếu dẫn đến một lần sinh khác nếu các ĐIỀU KIỆN còn tồn tại. Và mỗi lần sinh đều kết thúc bằng già và chết. Hơn nữa, có những cảnh giới sinh ra với khổ đau không thể tưởng tượng được. Tất cả đều được giải thích bởi các chu trình Paṭicca Samuppāda.
First Noble Truth on Suffering Has a Solution Built-In
Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất về Khổ đã Bao hàm sẵn Giải pháp
- The First Noble Truth on Suffering or Dukkha Sacca is about suffering in future lives and how to overcome it. That is why it is “dukkha sacca” where “dukkha” means “dukha that can be overcome (“dukha” + “khaya.”)
Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất về Khổ – Dukkha Sacca – nói về khổ trong các đời tương lai và cách vượt qua nó. Vì vậy gọi là “dukkha sacca,” trong đó “dukkha” là “dukha có thể được diệt trừ. (“dukha” + “khaya.”)
- It is the ultimate truth about suffering. Any suffering that one may be experiencing in this life is negligible compared to that when born in the four lowest realms (apāyās), including the animal realm.
Đây là sự thật tối hậu về khổ. Mọi khổ đau trong đời này là rất nhỏ so với khổ khi sinh vào bốn cõi thấp (apāyā), trong đó có cõi súc sinh.
- Buddha Dhamma needs to be understood with wisdom (paññā), a mental factor that must be cultivated mainly by reading or listening to the Buddha’s worldview first.
Dhamma của Đức Phật cần được hiểu bằng trí tuệ (paññā), một tâm sở phải được bồi dưỡng chủ yếu qua việc đọc hay lắng nghe thế giới quan của Đức Phật trước tiên.
- In his first sermon, Dhammacakkappavattana Sutta, the Buddha stated that his teachings are “pubbe ananussutesu dhammesu” – a Dhamma never heard before in the world. See “Dhammacakkappavattana Sutta.”
Trong bài giảng đầu tiên – Dhamma Cakka Pavattana Sutta – Đức Phật nói rằng giáo pháp của Ngài là “pubbe ananussutesu dhammesu,” tức “Dhamma chưa từng được biết đến trên thế gian.” Xem “Dhammacakkappavattana Sutta.”
- However, those teachings cannot be understood if we only focus on this life, like the young person mentioned earlier.
Tuy nhiên, giáo pháp ấy không thể được hiểu nếu chỉ tập trung vào một đời này, như người trẻ đã nêu ở trên.
- In other words, the First Noble Truth is primarily about suffering in the rebirth process. If one does not believe in rebirth, it is worthwhile to look into the evidence for rebirth. See “Starting on the Path Even without Belief in Rebirth” and “Evidence for Rebirth.”
Nói cách khác, Sự Thật Cao Quý Thứ Nhất chủ yếu nói về khổ trong tiến trình tái sinh. Nếu ai đó chưa tin vào tái sinh, thì nên xem xét các bằng chứng về tái sinh. Xem: “Starting on the Path Even without Belief in Rebirth” và “Evidence for Rebirth.”
The worldview of the Buddha
Thế giới quan của Đức Phật
- The “wider worldview” of the Buddha can be briefly stated as follows:
“Thế giới quan rộng lớn hơn” của Đức Phật có thể tóm lược như sau:
- There is a broader world out there, with many more beings living in 29 more realms than the human and animal realms that we experience, AND the real suffering is in the lower four realms.
Ngoài kia còn có một thế giới rộng lớn hơn, với vô số chúng sinh đang sống trong 29 cõi khác ngoài cõi người và cõi súc sinh mà chúng ta trải nghiệm, VÀ sự khổ đau thật sự nằm ở bốn cõi thấp nhất.
- This life is only a brief stop in our long journey through the cycle of rebirths called saṁsāra.
Đời sống này chỉ là một trạm dừng ngắn ngủi trong hành trình dài qua vòng luân hồi gọi là saṁsāra.
- Even in this life, there is hidden suffering even when one seems to be enjoying life, AND there is real suffering in old age and death that is inevitable for everyone. That last part is apparent to anyone but is not thought about much. As one gets old, when the real suffering starts, the mind could be too weak to learn Dhamma.
Ngay trong đời sống này, vẫn có khổ đau tiềm ẩn ngay cả khi ta tưởng như đang hưởng thụ cuộc sống, VÀ còn có nỗi khổ thực sự trong tuổi già và cái chết là điều không ai tránh khỏi. Phần sau ai cũng thấy, nhưng ít khi nghĩ tới; và khi về già, lúc khổ đau thực sự bắt đầu, tâm có thể đã quá yếu để học Dhamma.
- Many people are confused about Nibbāna, “the state with no suffering.” For a brief explanation, see “Nibbāna ‘Exists’, but Not in This World.”
Nhiều người nhầm lẫn về Nibbāna – “trạng thái không còn khổ đau”. Để giải thích ngắn gọn, xem bài “Nibbāna ‘Exists’, but Not in This World”.
Importance of “Understanding the Big Picture”
Tầm Quan Trọng của Việc “Hiểu Bức Tranh Toàn Cảnh”
- Analogy 1: When a fish bites a bait, it does not see the suffering hidden in that action. Looking from the ground, we can see the whole picture and know what will happen to the fish if it bites the bait. But the fish cannot see that whole picture and thus does not see the hidden suffering. It only sees a delicious bit of food.
Ví dụ 1: Khi con cá cắn mồi, nó không thấy được nỗi khổ ẩn sau hành động ấy. Nhìn từ trên bờ, ta thấy toàn cảnh và biết điều gì sẽ xảy ra với con cá khi nó cắn mồi. Nhưng con cá không thấy được toàn cảnh đó, nên không thấy được khổ đau tiềm ẩn; nó chỉ thấy một miếng mồi ngon.
- In the same way, if we do not know about the wider world of 31 realms (with the suffering-laden four lowest realms) and that we have gone through unimaginable suffering in those realms in the past, we only focus on what is easily accessible to our six senses.
Tương tự, nếu ta không biết về thế giới rộng lớn của 31 cõi (với bốn cõi thấp đầy khổ đau) và rằng trong quá khứ ta đã từng chịu những nỗi khổ không thể tưởng tượng ở các cõi đó, thì ta chỉ tập trung vào những gì dễ tiếp cận qua sáu căn của mình.
- That analogy is in the “WebLink: suttacentral: Baḷisa Sutta (SN 17.2).” You can read the English translation there.
Ví dụ ấy nằm trong bài “WebLink: suttacentral: Baḷisa Sutta (SN 17.2)” Bạn có thể đọc bản dịch tiếng Anh ở đó.
- Analogy 2: Suppose someone makes you an offer. He says, “I will put you in one of the best resorts with all amenities paid for a month. But there is a catch. The food will taste great but have traces of poison that will become effective in a few months and lead to death within the year”.
Ví dụ 2: Giả sử có người đề nghị: “Tôi sẽ cho anh ở một khu nghỉ dưỡng hạng sang với mọi tiện nghi trong một tháng. Nhưng có điều kiện: thức ăn rất ngon nhưng có chứa một ít chất độc, vài tháng sau sẽ phát tác và dẫn đến cái chết trong vòng một năm.”
Will anyone accept the offer, knowing it will lead to suffering and death? Of course not.
Có ai chấp nhận lời đề nghị đó nếu biết nó dẫn đến khổ đau và cái chết không? Dĩ nhiên là không.
- But they would gladly accept the offer if they were not told about the poison in the food. They will have a good time but bear the same consequences as the fish in the above analogy.
Nhưng họ sẽ vui vẻ chấp nhận nếu không được nói về chất độc trong thức ăn; họ sẽ vui chơi một thời gian rồi chịu hậu quả giống như con cá trong ví dụ trên.
- In the same way, we enjoy sensory pleasures without knowing their long-term consequences, especially if we do immoral things to get them. Only a Buddha can discover that “wider worldview” that thoroughly explains everything about life. Nothing happens without causes AND conditions. I have tried to explain that in various ways: “Paṭicca Samuppāda During a Lifetime” and “Origin of Life” are two examples.
Cũng vậy, chúng ta hưởng thụ các dục lạc mà không biết đến hậu quả lâu dài của chúng, đặc biệt khi làm những điều bất thiện để đạt được chúng. Chỉ có một vị Phật mới khám phá được “thế giới quan rộng lớn” giải thích trọn vẹn mọi mặt của đời sống. Không có gì xảy ra mà không có nhân VÀ duyên; tôi đã cố giải thích điều này qua nhiều bài, như “Paṭicca Samuppāda During a Lifetime” và “Origin of Life”.
Things to Contemplate (This is Meditation!)
Những điều cần Quán chiếu (Đây chính là Thiền!)
- We all have seen how a parent, a grandparent, or even an unrelated celebrity from past years transforms from a dynamic, self-confident, and sometimes imposing character to a feeble, helpless person in the latter years. Sometimes they die under pathetic conditions that would have been unimaginable for them when they were young. But this change is gradual, and even they do not realize it until it is too late.
Tất cả chúng ta đều đã thấy cha mẹ, ông bà, hay thậm chí những người nổi tiếng năm xưa, biến đổi từ những con người năng động, tự tin, đôi khi đầy uy thế thành những người yếu đuối, bất lực lúc về già. Đôi khi họ chết trong hoàn cảnh thảm thương mà khi trẻ họ không thể tưởng tượng nổi; nhưng sự thay đổi ấy diễn ra từ từ và chính họ cũng không nhận ra cho đến khi quá muộn.
- When one becomes too old, it may be too late to start thinking about these facts; one needs to spend a little time contemplating these “facts of life” now.
Khi đã quá già, có thể đã quá muộn để bắt đầu suy ngẫm những sự thật này; vì vậy ta cần dành chút thời gian ngay bây giờ để quán chiếu những “sự thật của đời sống”.
- Not to get depressed about this inevitability, but to DO SOMETHING ABOUT IT; this will enable one to enjoy the latter days of life with nirāmisa sukha, even if no stage of Nibbāna is attained.
Không phải để chán nản trước điều không tránh khỏi, mà để LÀM ĐIỀU GÌ ĐÓ; nhờ vậy ta có thể tận hưởng những năm cuối đời với nirāmisa sukha, ngay cả khi chưa đạt bất kỳ tầng thánh nào của Nibbāna.
- However, it DOES NOT MEAN one should rush to get away from all sensory pleasures even if one becomes convinced of the core message of the Buddha.
Tuy nhiên, điều đó KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ phải vội vã từ bỏ mọi dục lạc giác quan, ngay cả khi đã tin vào thông điệp cốt lõi của Đức Phật.
- Abandoning everything abruptly may have even worse consequences if it is not done with proper understanding. It takes time to digest the whole message. It has taken me several years to reach where I am now. I have not given up anything with remorse; I do not “miss” anything that I have given up. The only things one may want to “forcefully give up” are things that directly hurt other beings, like killing, stealing, etc., which most people don’t do anyway.
Từ bỏ mọi thứ một cách đột ngột có thể dẫn đến hậu quả còn tệ hơn nếu không được thực hiện với sự hiểu biết đúng đắn. Cần có thời gian để thấm nhuần toàn bộ thông điệp này. Tôi đã mất nhiều năm để đạt được vị trí như hiện nay. Tôi không từ bỏ điều gì với sự hối tiếc; tôi không “nhớ” bất cứ thứ gì mình đã buông bỏ. Những điều duy nhất có thể cần phải “từ bỏ một cách cương quyết” là những việc trực tiếp gây hại cho người khác, như giết hại, trộm cắp, v.v., mà đa số mọi người vốn cũng không làm.
- Giving up sensory pleasures comes gradually with understanding when one sees the benefits of giving up.
Việc từ bỏ các dục lạc giác quan diễn ra dần dần cùng với sự hiểu biết, khi ta thấy được lợi ích của việc buông bỏ.
- There is no need to rush into taking drastic actions. The urgent task is to get started. Allocate a little time each day to learn Dhamma, preferably when the mind is a bit calmer so that one can focus and contemplate. As the Buddha said, this Dhamma differs from what we are used to.
Không cần phải vội vàng thực hiện những hành động cực đoan. Việc cấp thiết là bắt đầu. Hãy dành một ít thời gian mỗi ngày để học Dhamma, tốt nhất là khi tâm tương đối an tĩnh để có thể tập trung và quán chiếu. Như Đức Phật đã dạy, Dhamma này khác hẳn với những gì ta quen thuộc.
- As one begins to understand the message of the Buddha, the learning process will become easier. What I hope to do with this site is to present all the background material I have gone through so that others do not have to repeat it all.
Khi bắt đầu hiểu được thông điệp của Đức Phật, quá trình học hỏi sẽ trở nên dễ dàng hơn. Điều tôi mong muốn làm với trang web này là trình bày toàn bộ nền tảng mà tôi đã trải qua, để người khác không phải lặp lại tất cả.
- Of course, you may want to do additional research. Each person evaluates things differently.
Dĩ nhiên, bạn có thể muốn tự nghiên cứu thêm; mỗi người đánh giá sự việc theo cách khác nhau.
Summary
Tóm tắt
- The First Noble Truth on suffering is NOT so much about current suffering, especially physical suffering. It is not about just the dukha vedanā. It is about the fact that there is even more intense dukha vedanā possible in future lives, but any future dukha vedanā can be stopped entirely. That “full picture” needs to be UNDERSTOOD with wisdom (paññā).
Sự thật Cao quý Thứ Nhất về khổ đau KHÔNG chủ yếu nói về khổ đau hiện tại, đặc biệt là khổ đau thân xác. Nó không chỉ nói về dukha vedanā. Nó nói rằng trong các đời tương lai có thể còn có dukha vedanā mãnh liệt hơn nhiều, nhưng mọi dukha vedanā trong tương lai đều có thể được chấm dứt hoàn toàn. “Bức tranh toàn cảnh” đó cần phải ĐƯỢC HIỂU bằng trí tuệ (paññā).
- The Pāli word for suffering is dukha, with one “k.” The First Noble Truth (Dukkha Sacca) is not merely about dukha but how to get rid of it or dukkha (dukha + khaya); see “Does the First Noble Truth Describe only Suffering?”
Từ Pāli chỉ sự đau khổ là dukha, với một chữ “k”. Sự thật Cao quý Thứ Nhất (Dukkha Sacca) không chỉ nói về dukha mà còn nói về cách diệt trừ nó, tức dukkha (dukha + khaya); xem “Does the First Noble Truth Describe only Suffering?”.
