Buddha Dhamma for an Inquiring Mind – Part I / Dhamma của Đức Phật Cho Người Ham Tìm Hiểu – Phần I

April 12, 2018; revised April 27, 2022

Ngày 12/4/2018; chỉnh sửa ngày 27/4/2022

Today, Buddha Dhamma remains hidden under a lot of incomprehensible Pāli words. I can see that many people use Pāli words without knowing their true meanings. If one has a good understanding of the “basics” or the “framework,” it is easier to understand and remember the meanings of key Pāli words.

Ngày nay, Dhamma của Đức Phật vẫn còn bị che khuất bởi rất nhiều thuật ngữ Pāli khó hiểu. Tôi thấy nhiều người dùng các từ Pāli mà không biết rõ ý nghĩa thật sự của chúng. Nếu có một sự hiểu biết tốt về “những điều căn bản” hay “khung” tổng thể, thì sẽ dễ dàng hơn để hiểu và ghi nhớ ý nghĩa của các thuật ngữ Pāli then chốt.

  • This post will be in summary form, since it is impossible to describe even an outline in several essays. One can find relevant posts by using the “Search” box at the top right. Furthermore, one can ask questions at the discussion forum (“WebLink: Pure Dhamma Forums: Forum”). I encourage any opposing views, as long as one provides evidence from the Tipiṭaka.

Bài viết này sẽ ở dạng tóm lược, vì không thể trình bày đầy đủ dù chỉ là một đề cương trong vài bài luận. Người đọc có thể tìm các bài liên quan bằng cách dùng ô “Search” ở góc phải phía trên. Ngoài ra, có thể đặt câu hỏi tại diễn đàn thảo luận (“WebLink: Pure Dhamma Forums: Forum”). Tôi khuyến khích mọi ý kiến phản biện, miễn là có dẫn chứng từ Tipiṭaka.

  • This website is based solely on the Tipiṭaka and only the three Commentaries there. The reasons discussed in the section “Historical Background.”

Trang web này chỉ dựa trên Tipiṭaka và ba bộ Chú Giải chính thức của nó. Lý do được trình bày trong phần “Historical Background”.

Buddhism (Buddha Dhamma) – What Happens After Death?

Phật Giáo (Dhamma của Đức Phật) – Điều Gì Xảy Ra Sau Khi Chết?

  1. The majority of people in the world today belong to one of the following two camps:

Phần lớn mọi người trên thế giới hiện nay thuộc về một trong hai quan điểm sau:

  • The next life is going to be forever, in heaven or hell.

Đời sau sẽ là vĩnh viễn, ở thiên đường hoặc địa ngục.

  • This life is all one has. When one dies, it is over—no rebirth or hell or heaven.

Cuộc đời này là tất cả; khi chết là hết, không có tái sinh, không có địa ngục hay thiên đường.

  1. The first theory has been handed down from generation to generation, and there are many “holes” in that theory. It seems illogical in many ways (it is one thing to create the Earth, but to make billions of galaxies with billions of planets like Earth? And how did the Creator come about?), but think about this:

Quan điểm thứ nhất được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có rất nhiều “lỗ hổng”. Nó có vẻ phi lý ở nhiều khía cạnh (tạo ra Trái Đất đã là một chuyện, nhưng tạo ra hàng tỷ thiên hà với hàng tỷ hành tinh giống Trái Đất thì sao? Và Đấng Tạo Hóa đến từ đâu?), nhưng hãy suy nghĩ điều này:

  • If a baby dies within a few months, will it go to heaven or hell (it has not done anything good or bad)?

Nếu một em bé chết chỉ sau vài tháng sinh ra, thì em sẽ lên thiên đường hay xuống địa ngục (khi chưa làm điều thiện hay ác nào)?

  • Furthermore, how come some people are born wealthy and thus have a better chance to go to heaven than one who is born poor and therefore may be tempted to do immoral things to survive (and hence go to hell)?

Hơn nữa, vì sao có người sinh ra giàu có nên có “cơ hội” lên thiên đường cao hơn, còn người sinh ra nghèo khó thì dễ bị cám dỗ làm điều bất thiện để sinh tồn (và vì thế lại rơi vào địa ngục)?

  1. The second theory appears more logical to many “scientifically-oriented” people with a “materialistic” view. But even if just one of the rebirth stories is believable or proven to the satisfaction of someone, then that person has to throw away that theory. More importantly, no explanation is available for how consciousness arises from inert matter. Our bodies are made of the “same stuff” that makes a tree or a house.

Quan điểm thứ hai có vẻ hợp lý hơn đối với nhiều người có khuynh hướng “khoa học” và nhìn thế giới theo lối duy vật. Nhưng chỉ cần một câu chuyện về tái sinh được xem là đáng tin hoặc được chứng minh đủ thuyết phục thì người đó buộc phải từ bỏ quan điểm này. Quan trọng hơn, hiện không có lời giải thích nào cho việc ý thức sinh khởi từ vật chất vô tri như thế nào. Cơ thể chúng ta được tạo thành từ cùng một “chất liệu” như cây cối hay nhà cửa.

  1. In contrast, Buddha Dhamma says that there will be future lives as long as there are causes for future lives to arise.

Trái lại, Dhamma của Đức Phật dạy rằng sẽ còn những đời sống tương lai chừng nào các nhân cho đời sống tương lai vẫn còn.

  • We can learn a lot about Buddha Dhamma by looking at what those causes are. Those causes arise in one’s mind.

Ta có thể học được rất nhiều về Dhamma của Đức Phật bằng cách quan sát những nguyên nhân ấy. Các nguyên nhân đó sinh khởi trong chính tâm mình. 

  • One’s Creator is oneself. And, as long as one perceives that one can find ultimate happiness in this world, one will be reborn in this world.

Mỗi người là “Đấng sáng tạo” của chính mình. Và chừng nào ta còn cho rằng có thể tìm được hạnh phúc tối hậu trong thế gian này, thì ta vẫn sẽ còn tái sinh trong thế gian này.

The Four Noble Truths

Tứ Thánh Đế

  1. In simple terms, Buddha Dhamma is based on the following four truths about this world, called the Four Noble Truths:

Nói một cách đơn giản, Dhamma của Đức Phật dựa trên bốn sự thật về thế gian này, gọi là Tứ Thánh Đế:

  • The Noble Truth about suffering.

Sự thật Cao quý về khổ.

  • The causes for such suffering.

Nguyên nhân của khổ.

  • One can eliminate those causes and thereby stop future suffering from arising, and the way to eliminate those causes that leads to ultimate happiness (Nibbāna).

Nguyên nhân của khổ, khả năng đoạn trừ các nguyên nhân ấy để chấm dứt khổ trong tương lai, và con đường đoạn trừ các nguyên nhân ấy dẫn đến hạnh phúc tối hậu là Nibbāna.

  1. The Buddha said that when one understands the First Truth, one will automatically understand the other three. Therefore, let us discuss the First Noble Truth.

Đức Phật dạy rằng khi hiểu được Sự thật Cao quý Thứ nhất thì tự nhiên sẽ hiểu ba Sự thật Cao quý còn lại. Vì vậy, ta hãy bắt đầu với Sự thật Cao quý Thứ nhất.

  • The key and critical issue here is understanding what is meant by “suffering” in Buddha Dhamma.

Vấn đề then chốt ở đây là phải hiểu “khổ” trong Dhamma của Đức Phật có nghĩa là gì.

  • It is essential to realize that “suffering” and “the Truth about suffering” are different.

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng “cảm giác khổ” và “Sự Thật về khổ” không phải là một.

  1. Everyone knows suffering very well as a feeling. One does not have to be a Noble Person or even a Buddhist to see that suffering. Even animals know what suffering is, and they don’t like it either. We all have seen dogs cry with pain when hit.

Ai cũng biết cảm giác khổ là gì. Không cần phải là bậc Thánh hay thậm chí là Phật tử mới thấy được khổ. Ngay cả loài vật cũng biết khổ và không thích khổ; ai trong chúng ta cũng từng thấy chó kêu la vì đau khi bị đánh.

  • So, what is the Noble Truth about suffering? The Buddha said that this Truth is unknown and hidden from humans until a Buddha teaches what it is.

Vậy Sự Thật Cao Quý về khổ là gì? Đức Phật nói rằng sự thật này bị che giấu đối với con người cho đến khi một vị Phật chỉ dạy.

  • The cause for future suffering is attachment to sense pleasures. That is the Noble Truth about suffering. Thus, “attachment to sense pleasures” is what the Buddha called “dukkha.”

Nguyên nhân của khổ trong tương lai chính là sự dính mắc vào các dục lạc. Đó chính là Sự Thật về khổ. Vì vậy, “sự chấp thủ vào dục lạc” chính là điều Đức Phật gọi là “dukkha”.

  1. Understanding the truth about suffering requires an understanding of the broader world of 31 realms and that most of that future suffering would be in the four realms or the apāyā (of which the animal realm is one). But suffering is associated with all realms.

Hiểu Sự Thật về khổ đòi hỏi phải hiểu bức tranh rộng lớn về 31 cõi, và rằng phần lớn khổ đau trong tương lai sẽ nằm ở bốn ác đạo (apāyā), trong đó có cõi súc sinh. Tuy nhiên, khổ có mặt trong mọi cõi.

  • There are causes for that suffering, i.e., causes for leading to rebirth in the apāyā or in any realm in general.

Có những nguyên nhân dẫn đến khổ, tức là những nguyên nhân dẫn đến tái sinh vào apāyā hay bất kỳ cõi nào.

  • Thus, one can stop the worst types of suffering by abstaining from such immoral actions. Yet, it is difficult to overcome such temptations.

Vì vậy, ta có thể tránh những loại khổ nặng nề nhất bằng cách không làm các hành vi bất thiện, dù việc vượt qua các cám dỗ ấy là điều rất khó.

  • The Noble Eightfold Path is the way to overcome such temptations. So, now we can begin to see why one will know all four Truths when one understands the First Truth.

Bát Thánh Đạo là con đường để vượt qua những cám dỗ đó. Từ đây ta bắt đầu thấy vì sao khi hiểu Sự thật Cao quý Thứ nhất thì sẽ hiểu được cả Bốn Sự thật Cao quý.

Mind – Where Root Causes for Suffering Arise

Tâm – Nơi Các Nguyên Nhân Gốc Rễ Của Khổ Đau Sinh Khởi

  1. We know that we are conscious because we can think. We think via thoughts. We can think about many types of things.

Ta biết mình đang có ý thức vì ta có thể suy nghĩ. Ta suy nghĩ thông qua các ý nghĩ, và có thể nghĩ về rất nhiều loại đối tượng khác nhau.

  • When we are sleepy, we are just aware that we are alive.

Khi buồn ngủ, ta chỉ đơn giản là biết mình đang còn sống.

  • On the other hand, if one is about to be run over by a car, one will generate enough power to jump a long distance away from that car or, if chased by a lion, can probably beat a world record for sprinting.

Nhưng khi sắp bị xe tông, ta có thể sinh ra đủ sức mạnh để nhảy vọt tránh xa chiếc xe đó; hoặc nếu bị sư tử rượt đuổi, có lẽ ta có thể phá kỷ lục thế giới về chạy nước rút.

  1. One’s mind also controls one’s actions and speech via thoughts or citta that arise in mind.

Tâm cũng điều khiển hành động và lời nói của ta thông qua các ý nghĩ hay các citta sinh khởi trong tâm.

  • We cannot even lift a finger without a citta or a thought arising in mind. We may not even think about lifting that finger, but we do. It is easy to figure out this way: We can fold that finger any time we want to.

Ta không thể nhúc nhích dù chỉ một ngón tay nếu không có một citta hay ý nghĩ sinh lên trong tâm. Có thể ta không ý thức rõ việc nâng ngón tay, nhưng ta vẫn làm được. Ta dễ thấy điều này vì ta có thể co duỗi ngón tay bất cứ lúc nào mình muốn.

  • You may not realize that speech comes via thinking or citta. Again, it is easy to see that we can stop that speech any time we want to.

Ta cũng có thể không nhận ra rằng lời nói xuất phát từ suy nghĩ hay citta, nhưng rõ ràng là ta có thể dừng lời nói lại bất cứ lúc nào.

  1. One’s actions, speech, and thoughts have consequences. One’s conscious thoughts determine the level of future suffering.

Hành động, lời nói và suy nghĩ của ta đều có hậu quả. Những suy nghĩ có ý thức quyết định mức độ khổ đau trong tương lai.

  • Future suffering arises due to our conscious thoughts or citta, and they are also called saṅkhāra in some contexts.

Khổ đau tương lai phát sinh từ các suy nghĩ có ý thức hay các citta của ta, và trong một số ngữ cảnh chúng còn được gọi là saṅkhāra.

  1. There is a difference between citta and saṅkhāra (the English word “thought” does not translate precisely as either).

Có sự khác biệt giữa citta và saṅkhāra (từ “thought – suy nghĩ” trong tiếng Anh không diễn đạt chính xác hoàn toàn khái niệm nào).

  • The word citta is used in Abhidhamma to denote the smallest mental activity that lasts only a fraction of a billionth of a second.

Trong Abhidhamma, citta chỉ đơn vị tâm nhỏ nhất, tồn tại chỉ trong một phần rất nhỏ của một phần tỷ giây.

  • Saṅkhāra represents the overall effect of billions of citta.

Saṅkhāra biểu thị tác động tổng hợp của hàng tỷ citta.

  • In that sense, the word thought is closer to saṅkhāra.

Vì vậy, từ “thought” gần với nghĩa của saṅkhāra hơn.

  1. Those thoughts that move the body (e.g., lifting that finger) are kāya saṅkhāra, because those saṅkhāra control the body or kāya.

Những suy nghĩ làm cho thân cử động (ví dụ như nâng ngón tay) được gọi là kāya saṅkhāra, vì chúng điều khiển thân hay kāya.

  • Those that lead to speech are called vacī saṅkhāra, which are two types: We can speak out loudly or just “talk to ourselves” (thinking consciously); both are vacī saṅkhāra.

Những suy nghĩ dẫn đến lời nói được gọi là vacī saṅkhāra, gồm hai loại: nói thành tiếng hoặc “nói thầm trong đầu” (suy nghĩ có ý thức); cả hai đều là vacī saṅkhāra.

  • However, the word “vācā” is used only for speaking aloud.

Tuy nhiên, từ “vācā” chỉ dùng cho lời nói thành tiếng.

  • Other thoughts that arise are called mano saṅkhāra, which are those thoughts that arise without us even thinking about it consciously.

Những suy nghĩ khác sinh khởi mà ta không ý thức rõ ràng được gọi là mano saṅkhāra.

  • So, I hope it is clear what those three types of saṅkhāra It is crucial to be able to see the differences. But they all arise in the mind.

Hy vọng rằng sự khác biệt giữa ba loại saṅkhāra này đã rõ ràng. Chúng khác nhau, nhưng tất cả đều sinh khởi trong tâm.

  1. Mano saṅkhāra arise automatically based on our gati (or character or habits). We only become aware of them after they arise.

Mano saṅkhāra tự động sinh khởi dựa trên gati (tính cách hay thói quen) của ta. Ta chỉ nhận ra chúng sau khi chúng đã phát sinh.

  • Immediately after mano saṅkhāra arise, we become aware of them and if we are not paying attention, we may just keep generating vacī saṅkhāra along the same lines.

Ngay khi mano saṅkhāra sinh khởi, nếu không chú ý, ta sẽ tiếp tục tạo ra vacī saṅkhāra cùng một chiều hướng.

  • For example, when an alcoholic sees a bottle of alcohol at a party, their first reaction is to have a drink. But if that person has willpower, they can think about the harmful consequences and forcefully move the mind to some other matter.

Ví dụ, khi một người nghiện rượu thấy chai rượu trong buổi tiệc, phản ứng đầu tiên là muốn uống. Nhưng nếu người đó có ý chí, họ có thể nghĩ đến hậu quả xấu và buộc tâm chuyển sang đối tượng khác.

  • Both Satipaṭṭhāna and Ānāpāna Bhāvanā is based on understanding how vacī saṅkhāra arise based on mano saṅkhāra that occur according to one’s gati (and that we have control over vacī saṅkhāra).

Cả Satipaṭṭhāna và Ānāpāna Bhāvanā đều dựa trên việc hiểu cách vacī saṅkhāra sinh khởi từ mano saṅkhāra theo gati của mỗi người (và rằng ta có thể kiểm soát vacī saṅkhāra).

  1. Another critical observation from the above discussion is that our physical bodies are “inert shells.” It is the mental body (called “gandhabba”) where all thoughts (i.e., saṅkhāra) arise, thereby controlling the physical body.

Một nhận xét quan trọng khác là thân vật lý của ta chỉ là “cái vỏ trơ”. Chính thân tâm (gọi là “gandhabba”) mới là nơi mọi suy nghĩ, tức saṅkhāra, sinh khởi và từ đó điều khiển thân vật lý.

  • That is why in many confirmed Out of Body Experiences (OBE), the body becomes lifeless when the gandhabba comes out of the body.

Chính vì vậy mà trong nhiều trường hợp xuất hồn (OBE) đã được xác nhận, thân thể trở nên như vô tri khi gandhabba rời khỏi thân.

  • These are all key concepts discussed in detail on the website. One can use the “Search” box to find pieces as needed.

Tất cả những khái niệm then chốt này đã được bàn rất chi tiết trên trang web, và người đọc có thể dùng ô “Search” để tìm từng phần khi cần.

Importance of Javana Citta

Tầm quan trọng của Javana Citta

Not all thoughts are the same. To get a better idea about thoughts or saṅkhāra, it is good to know some basic facts about citta.

Không phải mọi suy nghĩ đều giống nhau. Để hiểu rõ hơn về suy nghĩ hay saṅkhāra, ta cần biết một vài điểm căn bản về citta.

  1. Citta can be of 89 types and that analysis is very complex. We don’t need to know all those. We need to know that some of those 89 types are called “javana citta.” They are very powerful cittā.

Citta có thể được phân thành 89 loại và sự phân tích này rất phức tạp. Ta không cần biết hết. Ta chỉ cần biết rằng trong đó có những loại gọi là “javana citta”, là những citta rất mạnh.

  • The word “javana” comes from the root “ja,” meaning “birth.” Thus javana citta is the root for all births. Javana can also mean “running” or “spear” that can penetrate, to indicate the power.

Từ “javana” xuất phát từ gốc “ja”, nghĩa là “sinh”. Vì vậy javana citta là gốc rễ của mọi sự sinh ra. Javana còn có nghĩa là “chạy” hay “lao như ngọn giáo”, để chỉ sức xuyên thấu mạnh mẽ của nó.

  • The opposite of javana citta would be “ati parittārammana citta,” that we don’t really even feel. Cittā (plural) arise when we are asleep and are responsible for breathing.

Đối lập với javana citta là “ati parittārammana citta”, những citta rất yếu mà ta hầu như không cảm nhận được. Khi ngủ, các cittā vẫn sinh khởi và chịu trách nhiệm cho việc thở.

  • Breathing involves the movement of body parts (lungs), and is thus a “kāya saṅkhāra.” That is an excellent example of an “undefiled” saṅkhāra. It is a necessary action to maintain life.

Thở liên quan đến sự chuyển động của thân (phổi), nên là một kāya saṅkhāra. Đây là ví dụ điển hình của một saṅkhāra “không nhiễm ô”, cần thiết để duy trì sự sống.

  1. On the other side of the spectrum, we have powerful javana citta, which CAN lead to strong saṅkhāra called abhisaṅkhāra.

Ở đầu kia của phổ này là các javana citta rất mạnh, CÓ THỂ dẫn đến những saṅkhāra mạnh gọi là abhisaṅkhāra.

  • Javana cittā generate energies that are the root cause of future vipāka (results) that can give rise to various types of vipāka during a lifetime. Strong ones can lead to future rebirths. Thus, the key to future suffering is in javana citta.

Javana citta tạo ra năng lượng là gốc rễ của các vipāka (quả) trong tương lai, có thể trổ quả ngay trong đời này, và nếu rất mạnh thì có thể dẫn đến tái sinh. Vì vậy, chìa khóa của khổ đau trong tương lai nằm ở javana citta.

  • However, not all javana citta lead to abhisaṅkhāra. For example, kusala kamma done by Arahants are not abhisaṅkhāra. They are called kiriya, meaning “action without lobha, dosa, moha.” They don’t have kammic energy to fuel rebirths or bring pavutti vipāka.

Tuy nhiên, không phải mọi javana citta đều tạo ra abhisaṅkhāra. Ví dụ, các kusala kamma của bậc Arahant không phải là abhisaṅkhāra; chúng được gọi là kiriya, tức “hành động không có tham, sân, si”, nên không có năng lượng kamma để dẫn đến tái sinh hay quả báo trong đời sống hiện tại.

  1. A very strong kāya saṅkhāra would be to kill a human, say by stabbing. That requires a very strong impulse, a high javana One can do that only when one’s mind is very agitated and is full of hate. These are called apuññābhi saṅkhāra, meaning “bad strong saṅkhāra.”

Một kāya saṅkhāra rất mạnh là hành vi giết người, ví dụ như đâm dao. Điều đó đòi hỏi xung lực cực mạnh, tức là năng lực javana rất cao, và chỉ có thể xảy ra khi tâm bị kích động mạnh và đầy sân hận. Những hành động đó gọi là apuññābhi saṅkhāra, tức “saṅkhāra mạnh xấu”.

  • However, high javana power does not necessarily mean an evil action. When someone does good deeds (kusala kamma), those involve puññābhi saṅkhāra, meaning “good strong saṅkhāra.”

Tuy nhiên, năng lực javana cao không nhất thiết là hành động ác. Khi ai đó làm việc thiện (kusala kamma), thì đó là puññābhi saṅkhāra, tức “saṅkhāra mạnh tốt”.

  • High javana power may involve neutral actions too. For example, lifting a heavy object requires high javana But such an action, like cleaning the house, is neutral, not kammically good or bad, so it is not classified as puñña or apuñña. Such javana cittā are not included in Abhidhamma because they do not have kammic consequences.

Năng lực javana cao cũng có thể có trong các hành động trung tính. Ví dụ, nhấc vật nặng cần năng lực javana cao, nhưng nếu làm việc nhà thì đó là hành động trung tính, không thiện cũng không ác, nên không được gọi là puñña hay apuñña. Những javana cittā như vậy không được đưa vào Abhidhamma vì chúng không có quả báo kamma.

  1. There are 12 types of javana citta corresponding to the 12 types of akusala citta and 8 types of javana citta corresponding to the eight types of kusala citta.

Có 12 loại javana citta tương ứng với 12 loại akusala citta, và 8 loại javana citta tương ứng với 8 loại kusala citta.

  • These are the javana citta of importance to us.

Đây là những javana citta quan trọng đối với chúng ta.

  • The 12 types of akusala citta with akusala javana can bring bad vipāka during a lifetime or rebirth in bad realms.

Mười hai loại akusala javana có thể đem lại quả báo xấu trong đời này hoặc tái sinh vào các cõi xấu.

  • The eight types of kusala citta with kusala javana can bring good vipāka during a lifetime or rebirth in good realms. We need to do kusala kamma to avoid rebirth in the apāyā to attain Nibbāna.

Tám loại kusala javana có thể đem lại quả báo tốt trong đời này hoặc tái sinh vào các cõi lành. Ta cần làm kusala kamma để tránh tái sinh vào apāyā và tiến đến Nibbāna.

  • However, “good” and “bad” here are relative. It is just that the “bad realms” have extreme suffering. But none of the 31 realms is completely free from suffering.

Tuy nhiên, “tốt” và “xấu” ở đây chỉ là tương đối, vì các cõi xấu có khổ đau cực độ, nhưng thực ra không có cõi nào trong 31 cõi hoàn toàn không có khổ.

  1. Now we are beginning to see why dasa akusala kamma or the ten immoral deeds (done with those 12 types of akusala citta), are at the heart of Buddha Dhamma.

Bây giờ ta bắt đầu thấy vì sao dasa akusala kamma – mười hành động bất thiện (được tạo bởi 12 loại akusala citta) – nằm ở cốt lõi của Dhamma của Đức Phật.

  • When one is engaged in such immoral deeds, they generate “energies” called “bhava shakti” to fuel future kamma vipāka (bad results), including rebirths in the apāyā.

Khi một người thực hiện các hành động bất thiện đó, họ tạo ra những “năng lượng” gọi là bhava shakti để nuôi dưỡng các kamma vipāka trong tương lai (quả xấu), bao gồm cả tái sinh vào các cõi khổ apāyā.

  • Thus it is unfruitful and dangerous to engage in dasa akusala; this is why such activities are of anicca nature (do not lead to what one expects and only lead to more stress and suffering), one of the three characteristics of this world (Tilakkhaṇa).

Do đó, việc thực hành dasa akusala là vô ích và nguy hiểm; vì thế những hành động này mang bản chất anicca (không đem lại kết quả như mong muốn mà chỉ dẫn đến thêm căng thẳng và khổ đau), là một trong ba đặc tướng của thế gian (Tilakkhaṇa).

  • Such activities lead to suffering or dukkha, the second of the Tilakkhaṇa.

Các hành động ấy dẫn đến dukkha – khổ – đặc tướng thứ hai trong Tilakkhaṇa.

  • Once one gets a rebirth in the apāyā, it is tough to get out, and thus, one becomes “helpless.” Furthermore, clearly such actions are fruitless in the long run, even if born in “good realms.” That is the key to understanding “anatta,” the third characteristic of this world.

Khi đã sinh vào apāyā, rất khó thoát ra và trở nên “bất lực”. Hơn nữa, rõ ràng những hành động ấy về lâu dài đều vô ích, ngay cả khi được sinh vào các cõi lành. Đó chính là chìa khóa để hiểu anatta – đặc tướng thứ ba của thế gian.

So, that is the first part of a highly-condensed outline of Buddha Dhamma. We will continue this outline in the next post.

Như vậy, đây là phần đầu của bản phác thảo cô đọng về Dhamma của Đức Phật. Chúng ta sẽ tiếp tục trong bài kế tiếp.

Ongoing discussion on this topic at the discussion forum: “WebLink: puredhamma.net forums: Buddha Dhamma for an Inquiring Mind.”

Thảo luận đang diễn ra về chủ đề này tại diễn đàn: “WebLink: puredhamma.net forums: Buddha Dhamma for an Inquiring Mind.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *