Nāmarūpa in Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda / Nāmarūpa trong Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda

April 16, 2023

Ngày 16 tháng 4 năm 2023

Nāmarūpa” associated with Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda are “mental impressions of rūpa” created by the mind in javana citta with avijjā, abhisaṅkhāra, and kamma viññāṇa.

“Nāmarūpa” liên hệ đến Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda là những “ấn tượng tâm lý của rūpa” được tạo ra bởi tâm trong các javana citta với avijjā, abhisaṅkhāra và kamma viññāṇa.

Buddhism – In Charts: 10. Nāmarūpa in Vipāka Versus Kamma Viññāṇa
Phật giáo – Dưới dạng Sơ đồ: 10. Nāmarūpa trong Vipāka so với Kamma Viññāṇa

Download/Print: “WebLink: PDF Download: 10. Nāmarūpa in Vipāka Versus Kamma Viññāṇa
Tải về/In ấn: “
WebLink: PDF Download: 10. Nāmarūpa in Vipāka Versus Kamma Viññāṇa

One Type of Nāmarūpa Arise in a Sensory Event (i.e., in Vipāka Viññāṇa)

Một Loại Nāmarūpa Khởi lên trong một Sự kiện Cảm giác (tức trong Vipāka Viññāṇa)

  1. When we see a figure, we can immediately identify that person as John, Jane, etc. Here, “nāma” and “rūpa” in “nāmarūpa” consists of the name of the person and their physical body.

Khi chúng ta thấy một hình dáng, ta có thể lập tức nhận ra đó là John, Jane, v.v. Ở đây, “nāma” và “rūpa” trong “nāmarūpa” gồm có tên gọi của người đó và thân thể vật lý của họ.

  • These are vipāka viññāṇa, and they come through the six senses as sensory inputs (ārammaṇa): eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. Thus, a vipāka viññāṇa can be cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya, or mano viññāṇa.

Đây là các vipāka viññāṇa, và chúng đến qua sáu giác quan như các đối tượng cảm giác (ārammaṇa): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Vì vậy, một vipāka viññāṇa có thể là cakkhu, sota, ghāna, jivhā, kāya hoặc mano viññāṇa.

  • In another example, when we hear a song, we can assign a “name (nāma)” to the song (if we have heard it before); the sound itself is the “sadda rūpa.”

Trong một ví dụ khác, khi ta nghe một bài hát, ta có thể gán cho nó một “tên (nāma)” (nếu đã từng nghe trước đó); còn bản thân âm thanh chính là “sadda rūpa”.

  • We discussed this type of nāmarūpa in the previous post, “Nāmarūpa in Vipāka Viññāṇa.

Loại nāmarūpa này đã được bàn đến trong bài trước, “Nāmarūpa in Vipāka Viññāṇa”.

A Different Type of Nāmarūpa Arise in Our Response to a Vipāka Viññāṇa

Một Loại Nāmarūpa Khác Khởi lên trong Phản ứng của Chúng ta đối với một Vipāka Viññāṇa

  1. The response to a sensory input arises in mind only as mano viññāṇa.

Phản ứng đối với một đối tượng giác quan chỉ khởi lên trong tâm dưới dạng mano viññāṇa.

  • If the mind attaches to that sensory input (ārammaṇa) via greed, anger, or ignorance, then the mind establishes an expectation for future action with kamma viññāṇa (which arises in mind as mano viññāṇa).

Nếu tâm bám víu vào đối tượng giác quan đó (ārammaṇa) do tham, sân hay si, thì tâm sẽ thiết lập một mong đợi cho hành động trong tương lai bằng kamma viññāṇa (khởi lên trong tâm như mano viññāṇa).

  • With that expectation, kamma accumulation starts with a Paṭicca Samuppāda (PS) process that describes “bhava” and “jāti” trong một đời sống. It is Idappaccayatā PS. I have discussed it in 1 and Ref. 2.

Với sự mong đợi đó, sự tích lũy kamma bắt đầu qua tiến trình Paṭicca Samuppāda (PS) mô tả “bhava” và “jāti” trong một đời sống, tức là Idappaccayatā PS. Tôi đã bàn về điều này trong Tài liệu Tham khảo 1Tài liệu Tham khảo 2.

  • Let us briefly discuss a different type of nāmarūpa that arise in that Idappaccayatā

Hãy cùng bàn ngắn gọn về một loại nāmarūpa khác khởi lên trong Idappaccayatā PS đó.

Example of Nāmarūpa In Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda

Ví dụ về Nāmarūpa trong Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda

  1. Suppose you need to buy a car and see an appealing car parked on the street. You may instinctively say to yourself, “This is the car I like to buy, but not this color.” Then an impression of that car — in the color you like — arises in your mind. That “mental impression of the desired car” is a nāmarūpa created in your mind in your javana citta. Such nāmarūpa are also associated with vacī abhisaṅkhāra.

Giả sử bạn cần mua một chiếc xe và thấy một chiếc xe hấp dẫn đậu trên đường. Bạn có thể tự nhủ: “Đây là chiếc xe tôi muốn mua, nhưng không phải màu này.” Khi đó, một ấn tượng về chiếc xe ấy – với màu mà bạn thích – khởi lên trong tâm. “Ấn tượng tâm về chiếc xe mong muốn” đó chính là một nāmarūpa được tạo ra trong tâm qua javana citta. Những nāmarūpa như vậy cũng gắn liền với vacī abhisaṅkhāra.

  • Even though you may have had a vague idea of buying a car, now you have established a kamma viññāṇa (an expectation) of buying a particular car. Every time you see a car similar to the one you have in mind, you think a bit more about buying the car with more abhisaṅkhāra and kamma viññāṇa arising in your mind.

Mặc dù trước đó bạn chỉ có ý định mơ hồ về việc mua xe, giờ đây bạn đã thiết lập một kamma viññāṇa (một sự mong đợi) về việc mua một chiếc xe cụ thể. Mỗi lần bạn thấy một chiếc xe giống với chiếc trong tâm, bạn lại nghĩ thêm về việc mua nó, với nhiều abhisaṅkhāra và kamma viññāṇa khởi lên trong tâm.

  • Even though you may not realize it, there is a kammic energy created in each of the javana cittās associated with such kamma viññāṇa. That energy will stay in viññāṇa dhātu as an expectation ( 3) until you either buy that car or give up that expectation if you realize that you don’t have enough money to buy it.

Dù bạn không nhận ra, nhưng trong mỗi javana citta gắn với kamma viññāṇa đó đều có một năng lượng kamma được tạo ra. Năng lượng ấy sẽ lưu lại trong viññāṇa dhātu như một sự mong đợi (Tài liệu Tham khảo 3) cho đến khi bạn hoặc mua chiếc xe đó, hoặc từ bỏ mong đợi khi nhận ra mình không đủ tiền.

  1. Some expectations give rise to intense “kammic energies,” and others may not have any residual effect to bring vipāka at later times. Even Arahants generate expectations for daily activities, but those only get those “tasks done.” No kammic energies are created with such actions.

Một số mong đợi tạo ra những “năng lượng kamma” mạnh mẽ, còn những mong đợi khác thì không để lại tác động dư nào để trổ vipāka về sau. Ngay cả các Arahant cũng tạo ra mong đợi cho sinh hoạt hằng ngày, nhưng những mong đợi đó chỉ để hoàn thành công việc, không tạo ra năng lượng kamma.

  • On the other hand, expectations that arise with lobha, dosa, and moha (or mundane versions of alobha, adosa, and amoha) generate kammic energies that remain in viññāṇa dhātu and can bring vipāka in the future ( 3).

Ngược lại, những kỳ vọng khởi lên cùng với lobha, dosa và moha (hoặc các dạng thế tục của alobha, adosa và amoha) tạo ra các năng lượng kamma còn lưu lại trong viññāṇa dhātu và có thể đem lại vipāka trong tương lai (Tài liệu Tham khảo 3).

  • Those kammic energies are referred to as “kamma bīja” or “dhammā,” depending on the context ( 4).

Những năng lượng kamma đó được gọi là “kamma bīja” hay “dhammā” tùy theo ngữ cảnh (Tài liệu Tham khảo 4).

Kammic Energy Accumulation Happens with Kamma Viññāṇa

Sự Tích Lũy Năng Lượng Kamma Xảy Ra Với Kamma Viññāṇa

  1. Kammic energy accumulation occurs ONLY in javana cittās with lobha, dosa, and moha (or mundane versions of alobha, adosa, and amoha), as mentioned in #4 above.

Sự tích lũy năng lực nghiệp CHỈ xảy ra trong các javana cittā có lobha, dosa và moha (hoặc các dạng thế tục của alobha, adosa và amoha), như đã đề cập ở mục 4 phía trên.

  • The worst defilements of lobha, dosa, and moha COULD arise if one has not even begun to grasp the Four Noble Truths/Paṭicca Samuppāda/Tilakkhaṇa. Then, if the sensory input is strong enough (e.g., a hefty bribe), one could engage in highly immoral deeds that will generate potent kammic energy to “power up” existence in an apāya. The “javana power” involved in such cittās is very high. In many such heinous crimes (killing, for example), energy from that javana power can also make visible changes to one’s body. The face becomes dark and brutal to look at, and the body may start shaking.

Những phiền não nặng nhất là lobha, dosa và moha CÓ THỂ khởi lên nếu một người còn chưa bắt đầu hiểu Tứ Thánh Đế / Paṭicca Samuppāda / Tilakkhaṇa. Khi đó, nếu đối tượng giác quan đủ mạnh (ví dụ một món hối lộ lớn), người ấy có thể làm những hành động cực kỳ bất thiện, tạo ra năng lượng kamma rất mạnh để “tiếp sức” cho sự tồn tại trong các cõi khổ (apāya). “Sức mạnh javana” trong các cittā như vậy rất cao. Trong nhiều tội ác nghiêm trọng (chẳng hạn giết người), năng lượng từ sức mạnh javana này còn có thể làm thay đổi rõ rệt thân thể: khuôn mặt trở nên tối tăm, hung dữ, và thân thể có thể run rẩy.

  • On the other hand, javana power in mundane versions of alobha, adosa, and amoha can lead to a pleasant face, and one’s demeanor becomes calm. Such kammic energies lead to rebirths in the “good realms” with much less suffering. In the highest Deva realms, for example, there is hardly any suffering during life. However, if one had not attained at least the Sotāpanna Anugāmi stage, one would have all four types of anusaya left, and thus future rebirths in apāyās remain a possibility.

Ngược lại, sức mạnh javana trong các dạng thế gian của alobha, adosa và amoha có thể đưa đến gương mặt dễ nhìn và phong thái điềm tĩnh. Những năng lượng kamma như vậy dẫn đến tái sinh trong các “cõi lành” với ít khổ hơn nhiều. Chẳng hạn, ở các cõi Deva cao nhất, hầu như không có khổ trong đời sống. Tuy nhiên, nếu chưa đạt ít nhất là tầng Sotāpanna Anugāmi, người ấy vẫn còn đủ bốn loại anusaya, do đó việc tái sinh về sau trong các cõi khổ vẫn còn là khả năng.

Is It “Me” Attaching to an Ārammaṇa?

Có phải là “Tôi” đang chấp thủ vào một Ārammaṇa?

  • This is a critical issue to think about. We will discuss this in more detail later; I don’t want to emphasize it here. But think about the following.

Đây là một vấn đề then chốt cần suy ngẫm. Chúng ta sẽ bàn kỹ hơn sau; ở đây chỉ gợi ý để bạn suy nghĩ.

  • We FEEL that a sensory experience (seeing a person, for example) happens “in one shot.” It feels as if I see person X in one look at X.

Chúng ta CẢM THẤY rằng một kinh nghiệm giác quan (ví dụ thấy một người) xảy ra “trong một lần”. Cảm giác như thể tôi nhìn X một cái là thấy X ngay.

  • However, the Buddha described the sensory experience of a living being (not just humans) as a mechanical process.

Tuy nhiên, Đức Phật mô tả kinh nghiệm giác quan của một chúng sinh (không chỉ loài người) là một tiến trình mang tính cơ học.

  • “Seeing a person” happens in a series of discrete events that takes place so rapidly that we are fooled into thinking it happens in “one shot.”

“Thấy một người” thực ra diễn ra qua một chuỗi các sự kiện rời rạc, nhanh đến mức ta bị đánh lừa tưởng rằng nó xảy ra “chỉ trong một lần”.

Chính vì thế Đức Phật gọi viññāṇa là một nhà ảo thuật. Xem “WebLink: suttacentral: Pheṇapiṇḍūpama Sutta (SN 22.95)”.

Vipāka Viññāṇa to a Kamma Viññāṇa – Basic Process

Từ Vipāka Viññāṇa Đến Kamma Viññāṇa – Tiến Trình Căn Bản

  1. I have discussed this process in 5. The following is a figure from that post. It is not necessary to fully understand the terms in the figure. I will explain them in detail in future posts.

Tôi đã trình bày tiến trình này trong Tài liệu tham khảo số 5. Hình dưới đây trích từ bài đó. Không cần phải hiểu đầy đủ các thuật ngữ trong hình ngay lúc này; tôi sẽ giải thích chi tiết trong các bài sau.

  1. The essential points are the following.

Những điểm cốt yếu là như sau.

  • A “citta vīthi” or a “stream of cittās” with 17 cittās starts with the Ab citta when a sensory input (a cakkhu viññāṇa in this case) comes to mind.

Một “citta vīthi” hay “dòng chảy của các cittā” gồm 17 cittā bắt đầu với Ab citta khi một đối tượng giác quan (trong trường hợp này là cakkhu viññāṇa) đi vào tâm.

  • The first seven cittās analyze and accept the sensory input. At the eighth citta (V), the mind automatically decides (without conscious thinking) how to act on that sensory input. Seven javana cittās flow ONLY IF the mind decides to “take action” with lobha, dosa, and moha (or mundane versions of alobha, adosa, and amoha). That decision is based on one’s gati at that time.

Bảy cittā đầu tiên phân tích và tiếp nhận đối tượng giác quan. Ở cittā thứ tám (V), tâm tự động quyết định (không qua suy nghĩ có ý thức) sẽ phản ứng thế nào trước đối tượng đó. Bảy javana cittā chỉ khởi lên NẾU tâm quyết định “hành động” với lobha, dosa và moha (hoặc các dạng thế gian của alobha, adosa và amoha). Quyết định này tùy thuộc vào gati của người đó tại thời điểm ấy.

  • Understanding the sensory input and taking preliminary action may take a few seconds. Hundreds of such citta vīthi may flow through the mind in a split-second. We experience only their cumulative effect, not each citta vīthi.

Việc hiểu đối tượng giác quan và thực hiện phản ứng ban đầu có thể mất vài giây. Hàng trăm citta vīthi như vậy có thể trôi qua trong tâm chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn. Chúng ta chỉ cảm nhận được hiệu quả tổng hợp của chúng, chứ không nhận biết từng citta vīthi riêng lẻ.

  • We become aware of our actions AFTER the mind starts to take action. That is why it is critical “to be mindful.” If we realize that we are taking an unwise action, we must immediately stop that action. “Being mindful” requires an effort, and that is what is involved in Ānāpānasati (and Satipaṭṭhāna) Bhāvanā. See 6.

Chúng ta chỉ nhận biết hành động của mình SAU KHI tâm đã bắt đầu hành động. Vì vậy, việc “chánh niệm” là vô cùng quan trọng. Nếu nhận ra mình đang làm một việc không khôn ngoan, ta phải lập tức dừng lại. “Giữ chánh niệm” đòi hỏi nỗ lực, và đó chính là nội dung của Ānāpānasati (và Satipaṭṭhāna) Bhāvanā. Xem Tài liệu tham khảo 6.

Kamma Accumulation In Javana Citta with Abhisaṅkhāra and Nāmarūpa Generation

Sự Tích Lũy Kamma Trong Javana Cittā Với Abhisaṅkhāra Và Sự Hình Thành Nāmarūpa

  1. Kamma accumulation happens throughout our lives, even moment-to-moment. Some are trivial, and others can bring future rebirths in an apāya by even an action that takes only moments. For example, we have heard about people being shot in “road rage” situations or even in arguments among family members.

Sự tích lũy kamma diễn ra suốt cuộc đời chúng ta, thậm chí từng khoảnh khắc. Có những kamma rất nhỏ, nhưng cũng có những kamma chỉ phát sinh trong vài giây mà có thể dẫn đến tái sinh trong apāya. Ví dụ, ta đã nghe những trường hợp người bị bắn chết chỉ vì “nổi giận trên đường” hay trong các cuộc cãi vã giữa người thân.

  • A brief description of such moment-to-moment kamma accumulation (via Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda) is described in 1, and an extensive discussion is in Ref. 2. Both those did not have an analysis based on citta vīthi. I only briefly introduced that in #7 and #8 above. Buddha Dhamma is profound, and I will take an incremental approach to introduce these more profound concepts.

Mô tả ngắn gọn về sự tích lũy kamma từng khoảnh khắc (qua Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda) được trình bày trong Tài liệu tham khảo 1, và phần phân tích chi tiết hơn nằm ở Tài liệu tham khảo 2. Cả hai đều chưa phân tích dựa trên citta vīthi. Tôi chỉ mới giới thiệu sơ lược điều đó ở mục 7 và 8 phía trên. Dhamma của Đức Phật rất thâm sâu, vì vậy tôi sẽ trình bày các khái niệm sâu hơn này theo từng bước.

  • Kammic energies accumulated via numerous Idappaccayatā PS processes bring rebirths via Upapatti PS, as described in 7.

Năng lượng kamma được tích lũy qua vô số tiến trình Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda sẽ dẫn đến tái sinh thông qua Upapatti Paṭicca Samuppāda, như đã trình bày trong Tài liệu tham khảo 7.

  • Nāmarūpa formation in both types of Paṭicca Samuppāda is described, with examples, in 8. It is a good idea to read that to understand nāmarūpa formation.

Sự hình thành nāmarūpa trong cả hai loại Paṭicca Samuppāda được giải thích kèm ví dụ trong Tài liệu tham khảo 8. Nên đọc phần đó để hiểu rõ quá trình hình thành nāmarūpa.

  • In all these situations, both abhisaṅkhāra and nāmarūpa formations with kamma viññāṇa play critical roles.

Trong tất cả các trường hợp này, cả abhisaṅkhāra và sự hình thành nāmarūpa cùng với kamma viññāṇa đều giữ vai trò then chốt.

It Is Dangerous to Translate the Terms in Paṭicca Samuppāda Directly

Việc Dịch Trực Tiếp Các Thuật Ngữ Trong Paṭicca Samuppāda Là Rất Nguy Hiểm

  1. In the next post, we will discuss the nāmarūpa formation involved in the Upapatti PS and how that leads to yet another type of nāmarūpa formation to result in a “person with a physical body.”

Trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ bàn về sự hình thành nāmarūpa trong Upapatti Paṭicca Samuppāda và cách nó dẫn đến một dạng hình thành nāmarūpa khác, tạo ra một “con người với thân vật lý”.

  • I have purposely tried to make this post short. It has a lot of information because it takes a lot of background material to understand fully.

Tôi cố ý giữ bài viết này ngắn gọn. Tuy nhiên, nó vẫn chứa nhiều thông tin vì cần khá nhiều kiến thức nền để có thể hiểu trọn vẹn.

  • Those who have read the website for a long time (and thus have read various posts on different topics) may have a good idea.

Những ai đã theo dõi trang web này lâu và đọc nhiều bài viết ở các chủ đề khác nhau có thể đã nắm được ý chính.

  • Learning Buddha Dhamma is a never-ending process. As you can see, I keep revising posts as I gain more understanding. The hardest part is to get hold of a fundamental concept that convinces oneself of the value of Buddha Dhamma. Then one can start building on that.

Việc học Dhamma của Đức Phật là một quá trình không bao giờ kết thúc. Như bạn thấy, tôi liên tục chỉnh sửa các bài viết khi sự hiểu biết của mình sâu thêm. Phần khó nhất là nắm được một khái niệm nền tảng đủ sức thuyết phục chính mình về giá trị của Dhamma của Đức Phật. Từ đó, ta mới có thể tiếp tục xây dựng sự hiểu biết sâu hơn.

  1. Many people are afraid even to look at Pāli verses. But it is necessary to get an understanding of words like “viññāṇa” and “nāmarūpa” (all 11 terms in PS) and use the Pāli words with that understanding. Those words have multiple meanings depending on the context and should NEVER be translated into English, for example, as “consciousness” and “name and form.”

Nhiều người thậm chí còn ngại nhìn vào các đoạn kinh Pāli. Tuy nhiên, cần phải hiểu các thuật ngữ như “viññāṇa” và “nāmarūpa” (tất cả 11 thuật ngữ trong Paṭicca Samuppāda) và sử dụng các từ Pāli này với sự hiểu biết đúng đắn. Những từ này có nhiều nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh và TUYỆT ĐỐI KHÔNG nên dịch sang tiếng Anh, chẳng hạn như “consciousness” hay “name and form”.

Ví dụ, “avijjā paccayā saṅkhāra” trong dạng uddesa (tóm lược) ở “WebLink: suttacentral: Paṭiccasamuppāda Sutta (SN 12.1)” TUYỆT ĐỐI KHÔNG được dịch là “Vô minh là điều kiện cho các lựa chọn.”

  • In the niddesa (lời giải thích) trong “WebLink: suttacentral: Vibhaṅga Sutta (SN 12.2),” saṅkhāra được giải thích rõ hơn một chút: “Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro.”

Trong phần niddesa (diễn giải) ở “WebLink: suttacentral: Vibhaṅga Sutta (SN 12.2),” saṅkhāra được giải thích thêm: “Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro.”

  • However, even that is not enough to get the meaning in the context of Paṭicca Samuppāda. Detailed explanations (paṭiniddesa) of “avijjā paccayā saṅkhāra” are scattered in various suttas. A better, but still not comprehensive, explanation is in the “WebLink: suttacentral: Cūḷavedalla Sutta (MN 44).” I have linked to the correct marker where the explanation of saṅkhāra (in the context of PS) starts.

Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ để nắm được ý nghĩa trong bối cảnh Paṭicca Samuppāda. Các giải thích chi tiết (paṭiniddesa) về “avijjā paccayā saṅkhāra” nằm rải rác trong nhiều sutta. Một phần giải thích tốt hơn, dù vẫn chưa đầy đủ, nằm trong “WebLink: suttacentral: Cūḷavedalla Sutta (MN 44).” Tôi đã gắn liên kết đúng chỗ bắt đầu giải thích về saṅkhāra (trong bối cảnh PS).

WebLink: suttacentral: Paṭiccasamuppāda Vibhaṅga (Abhidhamma Vb 6)” giải thích chi tiết “avijjā paccayā saṅkhāra” như sau: “Tattha katame avijjā paccayā saṅkhārā? Puññābhisaṅkhāro, apuññābhisaṅkhāro, āneñjābhisaṅkhāro.”

  • All the above explanations are correct and need to be understood. However, until one understands the final version of the “WebLink: suttacentral: Paṭiccasamuppāda Vibhaṅga (Abhidhamma Vb 6),” one’s understanding of “avijjā paccayā saṅkhāra” is not complete. Some people complain that I write too many posts. But all I am trying to do is to break up this vast analysis into understandable pieces. See, for example, “Mental Aggregates” for several posts on saṅkhāra and other terms.

Tất cả các phần giải thích trên đều đúng và cần được hiểu. Tuy nhiên, cho đến khi hiểu được bản giải thích cuối cùng trong “WebLink: suttacentral: Paṭiccasamuppāda Vibhaṅga (Abhidhamma Vb 6),” thì sự hiểu biết về “avijjā paccayā saṅkhāra” vẫn chưa trọn vẹn. Có người phàn nàn rằng tôi viết quá nhiều bài. Nhưng tôi chỉ cố gắng chia nhỏ phần phân tích rộng lớn này thành những mảnh dễ hiểu hơn. Xem ví dụ loạt bài “Mental Aggregates” về saṅkhāra và các thuật ngữ khác.

All posts in “Buddhism – In Charts.”

Tất cả các bài viết trong loạt “Buddhism – In Charts.”

References

Tài liệu Tham khảo

  1. Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda.”

Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda.”

  1. Paṭicca Samuppāda During a Lifetime.”

Paṭicca Samuppāda During a Lifetime.”

  1. Six Root Causes – Loka Samudaya (Arising of Suffering) and Loka Nirodhaya (Nibbāna).”

Six Root Causes – Loka Samudaya (Arising of Suffering) and Loka Nirodhaya (Nibbāna).”

  1. Where Are Memories Stored? – Viññāṇa Dhātu,” “Dhammā, Kamma, Saṅkhāra, Mind – Critical Connections,” “Kamma Viññāṇa – Link Between Mind and Matter” and “Viññāṇa – Two Critical Meanings.”

Where Are Memories Stored? – Viññāṇa Dhātu,” “Dhammā, Kamma, Saṅkhāra, Mind – Critical Connections,” “Kamma Viññāṇa – Link Between Mind and Matter” và “Viññāṇa – Two Critical Meanings.”

  1. Avyākata Paṭicca Samuppāda for Vipāka Viññāṇa.”

Avyākata Paṭicca Samuppāda for Vipāka Viññāṇa.”

  1. 9. Key to Ānāpānasati – How to Change Habits and Character (Gati).”

9. Key to Ānāpānasati – How to Change Habits and Character (Gati).”

  1. Akusala-Mūla Upapatti Paṭicca Samuppāda.”

Akusala-Mūla Upapatti Paṭicca Samuppāda.”

  1. Viññāṇa Paccayā Nāmarūpa.”

Viññāṇa Paccayā Nāmarūpa.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *