Bhūta and Yathābhūta – What Do They Really Mean / Bhūta và Yathābhūta – Phần Thực Sự Có Nghĩa Là Gì

December 28, 2017; revised January 21, 2022; re-written August 31, 2022 (#10 revised later in the day) (#10 revised on October 17, 2022); revised December 3, 2022 (#6); revised March 8, 2023; revised April 15, 2023; January 13, 2024 (#1, added #18)

Ngày 28/12/2017; sửa ngày 21/01/2022; viết lại ngày 31/08/2022 (#10 sửa lại trong ngày)
(#10 sửa ngày 17/10/2022); sửa ngày 03/12/2022 (#6); sửa ngày 08/03/2023; sửa ngày 15/04/2023; ngày 13/01/2024 (#1, thêm #18)

Yathābhūta – True Nature of Bhūta

Yathābhūta – Bản Chất Thật Sự của Bhūta

  1. Yathābhūta is usually translated as “true nature” (close to the true meaning but does not provide the essence of it.) Some people think that implies that bhūta means “nature”; others translate bhūta as “becoming.” Both are wrong.

Yathābhūta thường được dịch là “bản chất thật sự” (gần đúng nghĩa nhưng chưa thể hiện được cốt lõi). Một số người cho rằng như vậy hàm ý bhūta có nghĩa là “bản chất”; người khác lại dịch bhūta là “trở thành”. Cả hai cách hiểu này đều sai.

  • In yathābhūta ñāna, “yathā” means “true nature,” and ñāṇa means wisdom. Thus, it means “wisdom about the true nature of this world made of four types of bhūta: pathavi, āpo, tejo, and vāyo.

Trong yathābhūta ñāna, “yathā” có nghĩa là “bản chất thật,” và ñāṇa là trí tuệ. Vì vậy, thuật ngữ này có nghĩa là “trí tuệ về bản chất thật của thế giới được tạo thành từ bốn loại bhūta: pathavi, āpo, tejo và vāyo.”

  • Everything in this world (alive and inert) is made of bhūta.

Mọi thứ trong thế giới này (hữu tình hay vô tri) đều được cấu thành từ bhūta.

  • As discussed in “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka,” these bhūta have origins in mind, specifically in javana citta. In summary, that means we live in a world made up of our minds and suffer immensely. That suffering goes away when one fully understands that.

Như đã bàn trong “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka,” các bhūta này có nguồn gốc từ tâm, cụ thể là trong javana citta. Tóm lại, điều đó có nghĩa là chúng ta sống trong một thế giới được tạo nên bởi chính tâm mình và vì thế mà chịu khổ rất nhiều. Sự khổ đó chấm dứt khi người ta hiểu trọn vẹn điều này.

  1. Bhūta is a Sinhala word as well as a Pāli word. It means a “ghost,” i.e., “not real” or “an illusion.” That deeper meaning is associated with the four elemental “bhūta”: pathavi, āpo, tejo, and vāyo. That is also why a gandhabba is called a “ghost” too: “Ghost 1990 Movie – Good Depiction of Gandhabba Concept.” Also, see #5 below.

Bhūta vừa là một từ Sinhala vừa là một từ Pāli. Nó có nghĩa là “bóng ma,” tức là “không thật” hay “một ảo ảnh.” Ý nghĩa sâu xa đó gắn liền với bốn yếu tố bhūta: pathavi, āpo, tejo và vāyo. Đó cũng là lý do vì sao một gandhabba cũng được gọi là “bóng ma”: “Ghost 1990 Movie – Good Depiction of Gandhabba Concept.” Xem thêm ở mục #5 bên dưới.

  • One cannot ever see mahā bhūta The smallest unit of matter is a suddhaṭṭhaka, which consists of the four elemental bhūta AND vaṇṇa, gandha, rasa, and oja. Thus, a suddhaṭṭhaka (“suddha” + “aṭṭha” where “suddha” is pure or fundamental and “aṭṭha” is eight) means “pure octad” or “pure unit of eight components.” The formation of a suddhaṭṭhaka is discussed in “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

Người ta không bao giờ có thể thấy các mahā bhūta một cách riêng lẻ. Đơn vị vật chất nhỏ nhất là một suddhaṭṭhaka, gồm bốn bhūta căn bản VÀ vaṇṇa, gandha, rasa và oja. Vì vậy, suddhaṭṭhaka (“suddha” + “aṭṭha,” trong đó “suddha” là tinh khiết hay nền tảng, còn “aṭṭha” là tám) có nghĩa là “bát thuần” hay “đơn vị tinh khiết gồm tám thành phần.” Sự hình thành của suddhaṭṭhaka được bàn trong “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.”

  • Note that the four elemental bhūta (paṭhavī, āpo, tejo, and vāyo) are the primary rūpa. All others, including vaṇṇa, gandha, rasa, and oja, are derived from them and are called upādāya rūpa. Those arise due to taṇhā for the primary rūpa.

Lưu ý rằng bốn bhūta căn bản (paṭhavī, āpo, tejo và vāyo) là các rūpa gốc. Tất cả các loại khác, gồm vaṇṇa, gandha, rasa và oja, đều được sinh ra từ chúng và được gọi là upādāya rūpa. Chúng sinh khởi do taṇhā đối với các rūpa gốc.

The origin of Suddhaṭṭhaka (and thus the World) is the Mind

Nguồn gốc của Suddhaṭṭhaka (và do đó của cả Thế giới) là Tâm

  1. As mentioned in that post, bhūta originates in “gati” (one’s character/habits). When one cultivates a certain gati, that can lead to the creation of bhūta (suddhaṭṭhaka) produced in javana citta according to abhisaṅkhāra.

Như đã đề cập trong bài viết đó, bhūta bắt nguồn từ “gati” (tính cách hay thói quen của mỗi người). Khi một người nuôi dưỡng một gati nào đó, điều đó có thể dẫn đến sự tạo thành các bhūta (suddhaṭṭhaka) được sinh ra trong javana citta theo abhisaṅkhāra.

  • To understand these keywords, one needs to know about gati (I have sometimes spelled it as gathi, the way it is pronounced). For example, see “Gati, Bhava, and Jāti.”

Để hiểu các thuật ngữ then chốt này, cần phải hiểu về gati (đôi khi tôi viết là gathi, theo cách phát âm). Ví dụ, xem “Gati, Bhava, and Jāti.”

  • Modern science struggles to distinguish between pure energy and tangible matter; see the Reference below. That demarcation happens at the suddhaṭṭhaka

Khoa học hiện đại gặp nhiều khó khăn trong việc phân biệt giữa năng lượng thuần túy và vật chất hữu hình; xem phần Tài liệu tham khảo bên dưới. Sự phân định đó diễn ra ở mức suddhaṭṭhaka.

Mind Energy to Matter

Từ Năng Lượng của Tâm đến Vật Chất

  1. A suddhaṭṭhaka is much smaller than even a photon (a particle of light), and the Buddha said that mahā bhūta are actual “smallest units of matter.” That is why he called them bhūta.

Một suddhaṭṭhaka nhỏ hơn rất nhiều so với cả một photon (một hạt ánh sáng), và Đức Phật đã nói rằng mahā bhūta thực sự là những “đơn vị vật chất nhỏ nhất.” Đó là lý do Ngài gọi chúng là bhūta.

  • One can NEVER see them or detect them individually. As we mentioned above, the smallest unit of rūpa or a suddhaṭṭhaka consists of eight subunits, including the four primary bhūta.

Người ta KHÔNG BAO GIỜ có thể thấy hay phát hiện riêng lẻ từng cái một. Như đã đề cập ở trên, đơn vị rūpa nhỏ nhất hay một suddhaṭṭhaka gồm tám tiểu phần, trong đó có bốn bhūta căn bản.

  • Furthermore, all eight types of bhūta arise from the gati of living beings; see “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.” A person with rough character qualities is likely to create suddhaṭṭhaka with a higher proportion of pathavi, etc.

Hơn nữa, cả tám loại bhūta đều sinh khởi từ gati của chúng sinh; xem “The Origin of Matter – Suddhaṭṭhaka.” Một người có tính cách thô ráp thường tạo ra các suddhaṭṭhaka với tỷ lệ pathavi cao hơn, v.v.

  1. Billions and billions of suddhaṭṭhaka are combined to lead to the mahā bhūta stage of rūpa. Brahmās have bodies made of mahā bhūta. Only Brahmā can see such fine rūpa.

Hàng tỷ tỷ suddhaṭṭhaka kết hợp lại để hình thành tầng mahā bhūta của rūpa. Các Brahmā có thân được tạo thành từ mahā bhūta. Chỉ có Brahmā mới có thể thấy được những rūpa tinh tế như vậy.

  • Large aggregates of mahā bhūta combine to form the denser “dhātu stage” of rūpa. The bodies of Devas are at a lighter dhātu stage, and human bodies are denser.

Các tập hợp lớn của mahā bhūta tiếp tục kết hợp để hình thành tầng rūpa “dhātu” đậm đặc hơn. Thân của các Deva ở tầng dhātu nhẹ hơn, còn thân con người thì đậm đặc hơn.

  • Forum participant Dosakkhayo has compiled a figure showing the formation of suddhaṭṭhaka and how their condensation leads to denser objects. You can download it here: “Evolution of Rūpa.” Much merits to him!

Thành viên diễn đàn Dosakkhayo đã tổng hợp một hình minh họa cho thấy sự hình thành của suddhaṭṭhaka và cách chúng ngưng tụ để tạo thành các vật thể đậm đặc hơn. Bạn có thể tải tại đây: Evolution of Rūpa.” Xin tán thán công đức của anh ấy!

Density of Rūpa Chart

Biểu Đồ Mật Độ của Rūpa

Difference Between “Live Matter” and “Inert Matter”

Sự Khác Biệt Giữa “Vật Chất Sống” và “Vật Chất Vô Tri”

  1. Here, I mean by “live matter,” the bodies of sentient beings. By “inert matter,” I mean “mindless objects” in the world, like rocks and plants. Both types originate via the kammic energy created by the mind. That process is Paṭicca Samuppāda (PS).

Ở đây, “vật chất sống” là thân của các chúng sinh. “Vật chất vô tri” là các vật không có tâm trong thế giới, như đá và cây cối. Cả hai loại đều khởi sinh từ năng lượng kamma do tâm tạo ra. Tiến trình đó là Paṭicca Samuppāda (PS).

  • I have only explained the arising of living beings (i.e., new bhava/jāti) via PS: “Paṭicca Samuppāda.” In the future, I will write about the other aspect. Arising of anything in this world can be explained by PS.

Tôi mới chỉ giải thích sự sinh khởi của các chúng sinh (tức là bhava/jāti mới) qua PS: “Paṭicca Samuppāda.” Trong tương lai, tôi sẽ viết về khía cạnh còn lại. Sự sinh khởi của bất cứ điều gì trong thế giới này đều có thể được giải thích bằng PS.

  • All matter that we see are made of such dense dhātu. Rocks have dhātu that have mostly pathavi. Water mostly has āpo. Fire mainly contains tejo, and wind mostly vāyo. Thus, earth, water, fire, and wind are called pathavi, āpo, tejo, and vāyo.

Tất cả vật chất mà ta thấy đều được tạo thành từ các dhātu đậm đặc như vậy. Đá có dhātu chủ yếu là pathavi. Nước chủ yếu có āpo. Lửa chủ yếu chứa tejo, và gió chủ yếu là vāyo. Do đó, đất, nước, lửa và gió được gọi là pathavi, āpo, tejo và vāyo.

Some Suddhaṭṭhaka “Acquire Life”

Một số Suddhaṭṭhaka “Có Được Sự Sống”

  1. A suddhaṭṭhaka is inert. It acquires “life” when energized by the mind in creating “kammaja rūpa.” That energy is in rotation (paribramana) and spin (bramana). When that embedded energy runs out, rotation and spin stop, becoming inert again.

Một suddhaṭṭhaka là vô tri. Nó có “sự sống” khi được tâm cấp năng lượng để tạo ra “kammaja rūpa.” Năng lượng ấy tồn tại dưới dạng quay vòng (paribramana) và xoay tròn (bramana). Khi năng lượng được nhúng vào đó cạn kiệt, sự quay vòng và xoay tròn chấm dứt, và nó trở lại vô tri.

  • For example, a hadaya vatthu for a new existence comes into being as a kammaja rūpa at the cuti-paṭisandhi During its lifetime, the hadaya vatthu maintains its spin and rotation. Details at “31 Realms Associated with the Earth.”

Ví dụ, một hadaya vatthu cho một sự tồn tại mới sinh khởi như một kammaja rūpa vào khoảnh khắc cuti-paṭisandhi. Trong suốt đời sống của nó, hadaya vatthu duy trì sự xoay tròn và quay vòng. Xem chi tiết tại “31 Realms Associated with the Earth.”

  • When the kammic energy is exhausted, its motion stops, and the bhava At that time, a new hadaya vatthu for new bhava is formed by kammic energy. Thus, NOTHING is transferred from “here to there.” Kammic energy creates a new existence in the appropriate realm.

Khi năng lượng kamma cạn, chuyển động dừng lại và bhava chấm dứt. Lúc đó, một hadaya vatthu mới cho bhava mới được tạo ra bởi năng lượng kamma. Vì vậy, KHÔNG CÓ GÌ được chuyển từ “đây sang kia.” Chính năng lượng kamma tạo ra một sự tồn tại mới trong cõi tương ứng.

  1. The hadaya vatthu is also called “vatthu dasaka” where dasaka means “ten.” That is because the hadaya vatthu or vatthu dasaka has two energy modes (spin and rotation) in addition to the eight parts in the inert suddhaṭṭhaka. Thus the name dasaka (made of ten units). A navaka (discussed below) has only spin and is made of nine units.

Hadaya vatthu còn được gọi là “vatthu dasaka,” trong đó dasaka nghĩa là “mười.” Đó là vì hadaya vatthu hay vatthu dasaka có hai dạng năng lượng (xoay và quay vòng) ngoài tám phần của suddhaṭṭhaka vô tri. Vì thế gọi là dasaka (gồm mười đơn vị). Một navaka (bàn dưới đây) chỉ có xoay tròn và gồm chín đơn vị.

  • This added spin and rotation is what gives life to an inert suddhaṭṭhaka. That power or energy is created by javana citta (mind). If a kamma bīja has more energy, it will sustain that bhava (hadaya vatthu) for longer.

Chính sự xoay và quay vòng được thêm vào này làm cho một suddhaṭṭhaka vô tri có sự sống. Năng lượng ấy được tạo ra bởi javana citta (tâm). Nếu một kamma bīja có nhiều năng lượng hơn, nó sẽ duy trì bhava (hadaya vatthu) lâu hơn.

  • The same is true for the five pasāda rūpa (cakkhu, sota, ghāna, jivhā, and kāya) formed at the moment of cuti-paṭisandhi. There are two bhāva rūpa (itthi bhāva dasaka and purisa bhāva dasaka) and jīvitindriya rūpa (a navaka; spin or bramana). The post discusses how different modes of rotation and spin give rise to these nine “life forming” basic units: “Gandhabba Sensing the World – With and Without a Physical Body.”

Điều tương tự cũng đúng với năm pasāda rūpa (cakkhu, sota, ghāna, jivhā và kāya) được hình thành vào khoảnh khắc cuti-paṭisandhi. Có hai bhāva rūpa (itthi bhāva dasaka và purisa bhāva dasaka) và jīvitindriya rūpa (một navaka; tức xoay tròn hay bramana). Bài viết “Gandhabba Sensing the World – With and Without a Physical Body” bàn về cách các kiểu xoay tròn và quay vòng khác nhau sinh ra chín đơn vị nền tảng “tạo sự sống” này.

  • By the way, the word kammaja comes from “kamma” + “ja” where “ja” means birth. Therefore, kammic energy creates those nine kammaja rūpa.

Nhân tiện, từ kammaja đến từ “kamma” + “ja,” trong đó “ja” nghĩa là sinh. Vì vậy, chính năng lượng kamma tạo ra chín kammaja rūpa đó.

Physical Body Is Inert Without Gandhabba

Thân Vật Lý Là Vô Tri Khi Không Có Gandhabba

  1. Now, we can see that our heavy physical body, by itself, is inert. The real life is in the gandhabba with the hadaya vatthu and the five pasāda.

Giờ ta có thể thấy rằng bản thân thân vật lý nặng nề của chúng ta là vô tri. Sự sống thật sự nằm ở gandhabba với hadaya vatthu và năm pasāda.

  • At the death of the physical body, this life-sustaining gandhabba leaves the body, and the body becomes lifeless and decays.

Khi thân vật lý chết, gandhabba duy trì sự sống này rời khỏi thân, và thân trở nên vô hồn rồi phân hủy.

  • In the case of an out-of-body experience (OBE), even though the gandhabba leaves the physical body, it is still connected to the physical body (by a “silver cord” in the terminology of astral projection), and that is why the body does not start to decay: “Out-of-Body Experience (OBE) and Manomaya Kāya.”

Trong trường hợp trải nghiệm xuất hồn (OBE), dù gandhabba rời khỏi thân vật lý, nó vẫn còn kết nối với thân (bằng “sợi dây bạc” theo thuật ngữ xuất hồn), và vì thế thân không bắt đầu phân hủy: “Out-of-Body Experience (OBE) and Manomaya Kāya.”

  1. Therefore, in all life forms in the 31 realms, life energy is in the ultra-fine manomaya kāya (“mind-made body”).

Vì vậy, trong mọi hình thức sống thuộc 31 cõi, năng lượng sự sống nằm trong manomaya kāya cực kỳ vi tế (“thân do tâm tạo”).

  • In kāma loka, the manomaya kāya would have a hadaya vatthu (vatthu dasaka), bhāva dasaka, and five pasāda rūpa (each of which is a dasaka). A dasaka is a suddhaṭṭhaka (the smallest unit of matter with eight units) and two modes of vibration and rotation; “dasaka” means a “collection of ten.” Thus, a manomaya kāya in kāma loka would have seven suddhaṭṭhaka-size units.

Trong kāma loka, manomaya kāya có một hadaya vatthu (vatthu dasaka), bhāva dasaka và năm pasāda rūpa (mỗi cái đều là một dasaka). Một dasaka là một suddhaṭṭhaka (đơn vị vật chất nhỏ nhất gồm tám phần) cộng thêm hai dạng rung động và quay vòng; “dasaka” nghĩa là “tập hợp mười.” Do đó, một manomaya kāya trong kāma loka sẽ có bảy đơn vị cỡ suddhaṭṭhaka.

  • In rūpāvacara Brahma realms, only cakkhu and sota pasāda rūpa are present in addition to hadaya vatthu, kāya dasaka, and bhāva dasaka, i.e., five suddhaṭṭhaka-size units. In the asañña realm, hadaya vatthu is there, but it is shielded by the “physical body,” which has no mana indriya. Thus, it cannot interact with dhammā (or viññāṇa dhātu), and cittās cannot arise.

Trong các cõi rūpāvacara Brahma, ngoài hadaya vatthu, kāya dasaka và bhāva dasaka, chỉ có thêm cakkhu và sota pasāda rūpa, tức là năm đơn vị cỡ suddhaṭṭhaka. Trong cõi asañña, có hadaya vatthu nhưng nó bị che chắn bởi “thân vật lý” không có mana indriya, nên không thể tương tác với dhammā (hay viññāṇa dhātu) và các cittā không thể sinh khởi.

  • In arūpāvacara Brahma realms, there is only the hadaya vatthu.

Trong các cõi arūpāvacara Brahma, chỉ có hadaya vatthu.

  • This is another critical factor in the yathābhūta ñāṇa: All life forms are like bhūta (ghosts); in essence, life is maintained by an ultra-fine (invisible) body that is impossible to see and has a temporary existence. Any life in any realm is short-lived on the saṁsāric On the saṁsāric scale, a trillion years is like a drop of water in the ocean.

Đây là một yếu tố then chốt khác trong yathābhūta ñāṇa: Mọi hình thức sống đều giống như bhūta (bóng ma); về bản chất, sự sống được duy trì bởi một thân cực kỳ vi tế (vô hình) không thể thấy được và chỉ tồn tại tạm thời. Mọi sự sống ở bất kỳ cõi nào cũng đều ngắn ngủi trên thang đo saṁsāra; trên thang đo ấy, một nghìn tỷ năm cũng chỉ như một giọt nước giữa đại dương.

Yathābhūta Ñāṇa – Ultimate Truth About the World

Yathābhūta Ñāṇa – Chân Lý Tối Hậu về Thế Giới

  1. When someone comprehends what we discussed above about the true nature of matter that exists in this world, one is said to have the yathābhūta ñāṇa. That is the “knowledge about the true nature of things that comprise our world.”

Khi một người thấu hiểu những gì chúng ta đã bàn ở trên về bản chất thật của vật chất tồn tại trong thế giới này, người ấy được gọi là có yathābhūta ñāṇa. Đó là “tri kiến về bản chất thật của các pháp cấu thành thế giới của chúng ta.”

  • However, just reading about them is just the start. That ñāṇa grows as one comprehends the finer details.

Tuy nhiên, chỉ đọc thôi mới chỉ là bước khởi đầu; ñāṇa ấy lớn dần khi người ta hiểu được những chi tiết vi tế hơn.

  • Yathā means true nature. Yathābhūta means the true nature of matter (or the true nature of bhūta), which arises via the MIND. Of course, finer details need a good understanding of Abhidhamma.

Yathā có nghĩa là bản chất thật. Yathābhūta là bản chất thật của vật chất (hay bản chất thật của bhūta), phát sinh từ TÂM. Dĩ nhiên, để hiểu sâu hơn cần có kiến thức tốt về Abhidhamma.

  • However, it is sufficient for most purposes to have a rough idea.

Tuy nhiên, đối với hầu hết mục đích thì chỉ cần có một ý niệm khái quát cũng đủ.

  1. This is also why the Buddha said, “mano pubbangamā dhammā, mano settā manomayā” in the famous Dhammapada

Đây cũng là lý do vì sao Đức Phật nói: “mano pubbangamā dhammā, mano settā manomayā” trong câu kệ nổi tiếng của Dhammapada:

  • “Everything in this world has its origins in mind. The mind prepares all.”

“Mọi thứ trong thế giới này đều có nguồn gốc từ tâm. Tâm chuẩn bị tất cả.”

  • See “Manopubbangamā Dhammā…

Xem “Manopubbangamā Dhammā…

  1. This yathābhūta ñāṇa about the fundamental nature of our body also helps to get rid of the “ghana saññā” about our bodies. Humans value their dense bodies because they believe an unchanging “self” exists in the physical body.

Yathābhūta ñāṇa về bản chất nền tảng của thân này cũng giúp loại bỏ “ghana saññā” đối với thân thể. Con người quý trọng thân đậm đặc của mình vì tin rằng có một “cái tôi” bất biến tồn tại trong thân vật lý.

  • Those with uccheda diṭṭhi (like most current scientists and philosophers) believe that our physical body (and its brain) is all there.

Những người có uccheda diṭṭhi (như đa số các nhà khoa học và triết gia ngày nay) tin rằng thân vật lý (và bộ não) là tất cả.

  • Those with sāssata diṭṭhi believe that there is a mental body that lives forever.

Những người có sāssata diṭṭhi thì tin rằng có một thân tâm sống vĩnh viễn.

Yathābhūta Ñāṇa Helps Dispel Sakkāya Diṭṭhi

Yathābhūta Ñāṇa Giúp Loại Trừ Sakkāya Diṭṭhi

  1. Buddha discovered that both are wrong views. There is a mental body, but it drastically changes from bhava to bhava. One could be a deva or a human for the time being, but the next bhava could be in an apāyā.

Đức Phật khám phá rằng cả hai đều là tà kiến. Có một thân tâm, nhưng nó thay đổi rất mạnh mẽ từ bhava này sang bhava khác. Hiện tại có thể là deva hay con người, nhưng bhava kế tiếp có thể là trong một apāyā.

  • Nothing in our physical body is worth being taken as “mine.”

Không có gì trong thân vật lý này đáng để xem là “của tôi.”

  • When one comprehends this fact, sakkāya diṭṭhi (which is one of four conditions to attain the Sotāpanna stage) is removed.

Khi thấu hiểu sự thật này, sakkāya diṭṭhi (một trong bốn điều kiện để chứng đắc giai đoạn Sotāpanna) sẽ được đoạn trừ.

Khía cạnh này được bàn trong “WebLink: suttacentral: Mūlapariyāya Sutta (MN 1),” “WebLink: suttacentral: Kaccānagotta Sutta (SN 12.15),” và “WebLink: suttacentral: Mahā Hatthipadopama Sutta (MN 28),” cùng nhiều bài khác.

  • However, it is just one way to remove sakkāya diṭṭhi. Don’t worry if you don’t comprehend sakkāya diṭṭhi this way.

Tuy nhiên, đó chỉ là một cách để loại trừ sakkāya diṭṭhi. Đừng lo nếu bạn chưa hiểu sakkāya diṭṭhi theo cách này.

Ananubhūtaṁ – Inability to See the Real Nature of Things in the World

Ananubhūtaṁ – Không Thấy Được Bản Chất Thật của Vạn Pháp trong Thế Giới

  1. Now we see that the precursors for all matter in this world (bhūta) are mind-made and have a transient existence. They are “bhūta” or “ghosts.” And since everything else is made of them, what we consider “solid, tangible things” in this world are really “ghost-like.”

Giờ đây ta thấy rằng các yếu tố nền tảng của mọi vật chất trong thế giới này (bhūta) đều do tâm tạo và có sự tồn tại tạm bợ. Chúng là “bhūta” hay “bóng ma.” Và vì mọi thứ khác đều được tạo nên từ chúng, nên những gì ta cho là “rắn chắc, hữu hình” trong thế giới này thật ra đều “giống như bóng ma.”

  • The knowledge of this underlying “ghost-like” nature is called “yathābhūta ñāṇa.” With that knowledge, one looks at the world according to that correct view, called “anu bhūtaṁ.”

Tri kiến về bản chất “giống như bóng ma” tiềm ẩn này được gọi là “yathābhūta ñāṇa.” Với tri kiến đó, người ta nhìn thế giới bằng cái thấy đúng đắn, gọi là “anu bhūtaṁ.”

  • When one is unaware of this true nature, it is called “na anu bhūtaṁ,” which rhymes “ananubhūtaṁ,” just like “na āgāmi” becomes “Anāgāmi.” It is to note that many key Pāli words are composed that way: anatta is “na” + “atta”; see, “Anatta – the Opposite of Which Atta?.”

Khi không nhận ra bản chất thật này, trạng thái đó được gọi là “na anu bhūtaṁ,” đọc vần với “ananubhūtaṁ,” giống như “na āgāmi” trở thành “Anāgāmi.” Cần lưu ý rằng nhiều từ Pali quan trọng được cấu tạo theo cách đó: anatta là “na” + “atta”; xem “Anatta – the Opposite of Which Atta?.”

  • Ānantariya is “na” + “an” + “antara.” Words like this cannot be analyzed grammatically. This is why current Pāli experts incorrectly interpret such words (and cannot interpret many keywords).

Ānantariya là “na” + “an” + “antara.” Những từ như vậy không thể phân tích thuần túy theo ngữ pháp, đó là lý do vì sao nhiều học giả Pali hiện nay diễn giải sai các từ này (và không thể hiểu được nhiều thuật ngữ then chốt).

  • The word “ananubhūtam” comes in several critical suttā, including the ones mentioned above in #12.

Từ “ananubhūtam” xuất hiện trong nhiều suttā quan trọng, bao gồm những bài đã nêu ở #12.

  1. One good example is the famous “WebLink: suttacentral: Brahmanimantanika Sutta (MN 49)”: “Viññāṇaṁ anidassanaṁ anantaṁ sabbato pabhaṁ, taṁ pathaviyā pathavattena ananubhūtaṁ, āpassa āpattena ananubhūtaṁ, tejassa tejattena ananubhūtaṁ, vāyassavāyattena ananubhūtaṁ, bhūtānaṁ bhūtattena ananubhūtaṁ, devānaṁ devattena ananubhūtaṁ, pajāpatissa pajāpatittena ananubhūtaṁ, brahmānaṁ brahmattena ananubhūtaṁ, ābhassarānaṁ ābhassarattena ananubhūtaṁ, subhakiṇhānaṁ subhakiṇhānaṁ subhakiṇhattena ananubhūtaṁ, vehapphalānaṁ vehapphalattena ananubhūtaṁ, abhibhussa abhibhuttena ananubhūtaṁ, sabbassa sabbattena ananubhūtaṁ..

Một ví dụ điển hình là bài kinh nổi tiếng “WebLink: suttacentral: Brahmanimantanika Sutta (MN 49)”: “Viññāṇaṁ anidassanaṁ anantaṁ sabbato pabhaṁ, taṁ pathaviyā pathavattena ananubhūtaṁ, āpassa āpattena ananubhūtaṁ, tejassa tejattena ananubhūtaṁ, vāyassavāyattena ananubhūtaṁ, bhūtānaṁ bhūtattena ananubhūtaṁ, devānaṁ devattena ananubhūtaṁ, pajāpatissa pajāpatittena ananubhūtaṁ, brahmānaṁ brahmattena ananubhūtaṁ, ābhassarānaṁ ābhassarattena ananubhūtaṁ, subhakiṇhānaṁ subhakiṇhānaṁ subhakiṇhattena ananubhūtaṁ, vehapphalānaṁ vehapphalattena ananubhūtaṁ, abhibhussa abhibhuttena ananubhūtaṁ, sabbassa sabbattena ananubhūtaṁ..”

Translated:Viññāṇa is unseen, infinite, and leads to the rebirth process for all. With viññāṇa, one cannot comprehend the real nature of pathavi, āpo, tejo, vāyo, bhūta, deva, pajāpati brahma, ābhassara brahma, subhakiṇha brahma, vehapphala brahma, etc. and everything in this world (sabba)”.

Dịch: “Viññāṇa là vô hình, vô hạn và dẫn dắt tiến trình tái sinh cho tất cả. Với viññāṇa, người ta không thể thấu hiểu bản chất thật của pathavi, āpo, tejo, vāyo, bhūta, deva, pajāpati brahma, ābhassara brahma, subhakiṇha brahma, vehapphala brahma, v.v., và toàn bộ thế giới này (sabba).”

  • One has a defiled consciousness or viññāṇa until one attains the Arahantship. Until then, one cannot fully comprehend the real “ghost-like” nature of everything in this world, i.e., one’s yathābhūta ñāna is not complete.

Một người còn có thức hay viññāṇa nhiễm ô cho đến khi đạt bậc Arahant. Cho đến lúc đó, người ấy không thể thấu hiểu trọn vẹn bản chất “giống như bóng ma” thật sự của mọi thứ trong thế giới này, tức là yathābhūta ñāna của họ chưa hoàn chỉnh.

  • We will discuss the first part of the verse “Viññāṇaṁ anidassanaṁ anantaṁ sabbato pabhaṁ..” in the next post. This short phrase is commonly mistranslated. See “Anidassana Viññāṇa – What It Really Means.”

Chúng ta sẽ bàn phần đầu của câu kệ “Viññāṇaṁ anidassanaṁ anantaṁ sabbato pabhaṁ..” trong bài kế tiếp. Cụm ngắn này thường bị dịch sai. Xem “Anidassana Viññāṇa – What It Really Means.”

  1. Another major sutta where it appears is “WebLink: suttacentral: Saḷāyatana Vibhaṅga Sutta (MN 137)”: “Rūpānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato uppajjāti somanassaṁ.”

Một sutta quan trọng khác có câu này là “WebLink: suttacentral: Saḷāyatana Vibhaṅga Sutta (MN 137)”: “Rūpānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato uppajjāti somanassaṁ.”

  • Loosely Translated: “Any rūpa that has existed or is in existence now has a ‘ghost-like transient nature.’ That is why they change unexpectedly (vipariṇāma) and have an anicca Comprehending this true nature brings joy to one’s mind (somanassa).”

Dịch ý: “Bất kỳ rūpa nào đã tồn tại hay đang tồn tại đều mang bản chất ‘giống như bóng ma, tạm bợ.’ Vì vậy chúng thay đổi bất ngờ (vipariṇāma) và có tính anicca. Thấu hiểu bản chất thật này mang lại niềm hoan hỷ (somanassa) cho tâm.”

Importance of Comprehending “Saññā Vipallāsa

Tầm Quan Trọng của Việc Thấu Hiểu “Saññā Vipallāsa”

  1. Comprehension of “distorted saññā” and “saññā vipallāsa” plays a significant role in cultivating “yathābhūta ñāṇa.”

Việc thấu hiểu “saññā sai lệch” và “saññā vipallāsa” đóng vai trò rất quan trọng trong việc nuôi dưỡng “yathābhūta ñāṇa.”

  • See “Sotāpanna Stage via Understanding Perception (Saññā).”

Xem “Sotāpanna Stage via Understanding Perception (Saññā).”

Reference (Scientific Theories of Matter)

Tài Liệu Tham Khảo (Các Lý Thuyết Khoa Học về Vật Chất)

  1. Scientists have now verified the illusive nature of matter on a small scale. They thought the atom to be the smallest possible division of matter until 1897, when J.J. Thomson discovered the electron. An atom consists of protons, neutrons, and electrons. Subsequently, protons and neutrons turned out to have structure too. But their sub-units (quarks, etc.) cannot be detected individually).

Các nhà khoa học hiện nay đã xác nhận tính chất hư ảo của vật chất ở cấp độ vi mô. Trước năm 1897, họ cho rằng nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất của vật chất, cho đến khi J.J. Thomson phát hiện electron. Một nguyên tử gồm proton, neutron và electron; sau đó người ta phát hiện proton và neutron cũng có cấu trúc. Nhưng các thành phần con của chúng (như quark, v.v.) không thể phát hiện riêng lẻ.

  • With the advent of quantum mechanics, the distinction between matter and energy has blurred. The mass of a particle depends on its speed. Photons or “particles of light” have zero mass at rest, i.e., zero rest mass. It is typical to state the mass of an elementary particle in terms of energy units.

Với sự ra đời của cơ học lượng tử, ranh giới giữa vật chất và năng lượng trở nên mờ nhạt. Khối lượng của một hạt phụ thuộc vào vận tốc của nó. Photon hay “hạt ánh sáng” có khối lượng nghỉ bằng không. Vì thế, người ta thường biểu thị khối lượng của hạt cơ bản bằng đơn vị năng lượng.

  • All of the above is consistent with the rūpa’s elusive nature (bhūta) in Buddha Dhamma.

Tất cả những điều trên đều phù hợp với bản chất khó nắm bắt của rūpa (bhūta) trong Dhamma của Đức Phật.

  1. Furthermore, it is impossible to determine an elementary particle’s exact position (Heisenberg uncertainty principle.) For example, it is only possible to say that an electron can be within a specific region of space. Thus, an electron is like a ghost. Scientists cannot precisely measure its location at any time.

Hơn nữa, không thể xác định chính xác vị trí của một hạt cơ bản (nguyên lý bất định Heisenberg). Ví dụ, chỉ có thể nói rằng một electron có thể nằm trong một vùng không gian nhất định. Vì vậy, electron giống như một bóng ma; các nhà khoa học không thể đo chính xác vị trí của nó tại bất kỳ thời điểm nào.

  • The situation is even worse for a photon, a particle of light. When a photon is released, one can only find it later by stopping it at a detector. It is IMPOSSIBLE to state the exact path of the photon from the source to the sensor. It could have been anywhere in between. The same applies to an electron, even though it has a non-zero rest mass.

Tình hình còn tệ hơn với photon, hạt ánh sáng. Khi một photon được phát ra, chỉ có thể tìm thấy nó sau này bằng cách chặn nó tại một bộ dò. Không thể nào nói chính xác quỹ đạo của photon từ nguồn đến cảm biến; nó có thể ở bất kỳ đâu ở giữa. Điều này cũng đúng với electron, dù nó có khối lượng nghỉ khác không.

  • Some refer to the above observations as “quantum weirdness.” Microscopic particles are as elusive as ghosts.

Một số người gọi những quan sát trên là “sự kỳ quặc của lượng tử.” Các hạt vi mô khó nắm bắt như những bóng ma.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *