May 10, 2025; revised #7 on May 15, 2025
Ngày 10/05/2025; chỉnh sửa lần #7 ngày 15/05/2025
Like several other Pāli words, rūpa conveys different meanings in different contexts. However, in most cases, rūpa refers to “rūpa upādānakkhandha” that arises in the mind upon experiencing an external rūpa.
Cũng như nhiều thuật ngữ Pali khác, rūpa mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, rūpa được dùng để chỉ “rūpa upādānakkhandha” khởi lên trong tâm khi trải nghiệm một rūpa bên ngoài.
Introduction
Dẫn nhập
- We can clear up many misconceptions by realizing that pañcupādānakkhandha (pañca upādāna khandha) is a mental process. All the terms in pañcupādānakkhandha arise in the mind.
Chúng ta có thể tháo gỡ nhiều ngộ nhận bằng cách nhận ra rằng pañcupādānakkhandha (pañca upādāna khandha) là một tiến trình tâm. Tất cả các thành phần trong pañcupādānakkhandha đều khởi lên trong tâm.
- It is clear that the latter four components (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) arise in the mind.
Rõ ràng là bốn thành phần sau (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) đều khởi lên trong tâm.
- So, we must look carefully at the “rūpa” component of pañcupādānakkhandha.
Do đó, chúng ta cần xem xét thật cẩn trọng thành phần “rūpa” trong pañcupādānakkhandha.
- When we understand that, we can see why pañcakkhandha (pañca khandha) NEVER arises in a puthujjana or even any Noble Person below the Arahant In all situations, it is the pañcupādānakkhandha (pañca upādāna khandha) that automatically arises with any sensory input, as shown below.
Khi hiểu được điều đó, chúng ta sẽ thấy vì sao pañcakkhandha (pañca khandha) KHÔNG BAO GIỜ khởi lên nơi một puthujjana hay thậm chí bất kỳ bậc Thánh nào dưới quả vị Arahant. Trong mọi trường hợp, chính pañcupādānakkhandha (pañca upādāna khandha) mới là thứ tự động khởi lên cùng với bất kỳ tiếp xúc giác quan nào, như sẽ được minh họa bên dưới.
Mind Sees Rūpa Upādānakkhandha, Not the External Rūpa
Tâm Nhận Biết Rūpa Upādānakkhandha, Chứ Không Phải Rūpa Bên Ngoài
- This may come as a surprise to many. In the suttās, the Buddha almost always used the word “rūpa” to indicate “rūpa upādānakkhandha” (multiple mental images that arise in the mind upon seeing an ‘external rūpa’).
Điều này có thể khiến nhiều người ngạc nhiên. Trong các suttā, Đức Phật hầu như luôn dùng từ “rūpa” để chỉ “rūpa upādānakkhandha” (nhiều hình ảnh tâm khởi lên trong tâm khi thấy một ‘rūpa bên ngoài’).
- Consider a “seeing event” where A sees X approaching. With just one look at X, A can recognize X as his friend. Instantly, a joyful emotion arises in A, and he smiles.
Hãy xét một “sự kiện thấy” khi A thấy X đang tiến lại gần. Chỉ với một cái nhìn thoáng qua, A có thể nhận ra X là bạn của mình. Ngay lập tức, một cảm xúc vui mừng khởi lên nơi A và anh ấy mỉm cười.
- Even though it is a simple example of a “sensory input,” we can learn much by examining what happens in A’s mind upon seeing X.
Mặc dù đây chỉ là một ví dụ đơn giản về “đối tượng giác quan”, nhưng chúng ta có thể học được rất nhiều khi xem xét điều gì diễn ra trong tâm của A khi thấy X.
- Recognition is an unimaginably fast mental process. First, the mind must match what is seen with prior experiences; otherwise, recognition is impossible. Thus, A’s mind must go through past experiences with X to recall past experiences where they had mutually good experiences.
Sự nhận diện là một tiến trình tâm diễn ra nhanh đến mức khó tưởng tượng. Trước hết, tâm phải đối chiếu điều đang thấy với những kinh nghiệm trong quá khứ; nếu không, việc nhận diện là không thể. Do đó, tâm của A phải rà soát các trải nghiệm trước đây với X để gợi lại những lần họ đã có những trải nghiệm tốt đẹp với nhau.
- See “Amazingly Fast Time Evolution of a Thought (Citta).”
Xem “Amazingly Fast Time Evolution of a Thought (Citta)”.
- That means, A’s mind would have gone through at least the most recent interactions with X. It happens so fast that we are unaware that the mind is doing such a scan. Suppose A’s mind recalled, for example, how they went to a party the previous night and had a good time. The mind would recall scenes from the party (without us being aware), who else was there, and the activities that took place there. All those are mental images of not only people and things he saw there, but the emotions he felt are also included.
Điều đó có nghĩa là tâm của A đã lướt qua ít nhất những tương tác gần đây nhất với X. Tiến trình này diễn ra nhanh đến mức chúng ta không hề nhận biết rằng tâm đang thực hiện một sự “quét” như vậy. Giả sử tâm của A gợi lại, chẳng hạn, việc họ đã đi dự tiệc tối hôm trước và có khoảng thời gian vui vẻ. Tâm sẽ gợi lại các cảnh trong buổi tiệc (mà ta không hề hay biết), những ai có mặt ở đó và những hoạt động đã diễn ra. Tất cả những điều đó đều là hình ảnh tâm, không chỉ của con người và sự vật đã thấy, mà còn bao gồm cả những cảm xúc đã trải qua.
- This is why “seeing X” is more than just seeing a “snapshot” of X. It involves “past mental images of X” and also “emotions involved in those activities.”
Đó là lý do vì sao “thấy X” không chỉ đơn thuần là thấy một “ảnh chụp” của X. Nó bao hàm cả “những hình ảnh tâm trong quá khứ về X” và cả “những cảm xúc gắn liền với các hoạt động đó”.
- In other words, recognizing someone or something as a “seeing event” requires recalling past experiences. This is an automatic process that happens without us realizing it.
Nói cách khác, việc nhận diện một người hay một vật trong một “sự kiện thấy” đòi hỏi phải gợi lại các trải nghiệm trong quá khứ. Đây là một tiến trình tự động diễn ra mà chúng ta không hề nhận ra.
- It is accomplished with the saññā, a cetasika (mental factor), which arises with every citta.
Tiến trình đó được thực hiện thông qua saññā, một cetasika (tâm sở), vốn khởi lên cùng với mỗi citta.
Saññā – Based on Prior Experience
Saññā – Dựa Trên Kinh Nghiệm Quá Khứ
- The 1980 comedy movie “The Gods Must Be Crazy” provides a good example of how saññā of a worldly object is established in the mind via familiarity and experience (“preconditioning.”)
Bộ phim hài năm 1980 “The Gods Must Be Crazy” cung cấp một ví dụ sinh động về cách saññā đối với một đối tượng thế gian được hình thành trong tâm thông qua sự quen thuộc và kinh nghiệm (“điều kiện hóa từ trước”).
- The movie stars Xi, a hunter-gatherer of the Kalahari Desert, whose tribe discovers an old-fashioned Coca-Cola bottle dropped from an airplane.
Bộ phim xoay quanh nhân vật Xi, một người săn bắt–hái lượm ở sa mạc Kalahari, khi bộ tộc của anh phát hiện một chai Coca-Cola kiểu cũ rơi xuống từ máy bay.
- Since the tribe is fully isolated from the modern world, they have no idea about Coke or even glass bottles. Thus, they were utterly confused when they saw the glass bottle. They initially thought it was a gift from the Gods.
Vì bộ tộc hoàn toàn tách biệt với thế giới hiện đại, họ không hề biết gì về Coca-Cola hay thậm chí cả chai thủy tinh. Do đó, họ vô cùng bối rối khi nhìn thấy chai thủy tinh này. Ban đầu, họ còn cho rằng đó là món quà từ các vị thần.
- The following clip, up to 1 minute, is enough to get the idea. The rest is related to other aspects of the movie storyline.
Đoạn clip sau, chỉ cần xem đến khoảng một phút, là đủ để nắm được ý chính. Phần còn lại liên quan đến các tình tiết khác của câu chuyện.
WebLink: Youtube: Coca-Cola bottle dropped from gods? | The Gods Must Be Crazy
- If we saw a Coke bottle, the “saññā” of the drink would instantly appear in our minds. However, Xi (or any of his people) had never experienced the taste of Coke or seen a Coke bottle or any glass object. They could not generate a “saññā” for the Coke bottle; it was a mysterious object.
Nếu chúng ta nhìn thấy một chai Coca-Cola, “saññā” về thức uống đó sẽ lập tức khởi lên trong tâm. Tuy nhiên, Xi (hay bất kỳ ai trong bộ tộc của anh) chưa từng nếm Coca-Cola, chưa từng thấy chai Coca-Cola hay bất kỳ vật bằng thủy tinh nào. Họ không thể tạo ra “saññā” đối với chai Coca-Cola; đối với họ, đó là một vật hoàn toàn bí ẩn.
- One must have prior experience with an object to identify it, i.e., to establish saññā about it!
Một người phải có kinh nghiệm trước đó với một đối tượng thì mới có thể nhận diện nó, tức là mới có thể thiết lập saññā về nó!
- The above is from the post, “Saññā – What It Really Means”. It is a good idea to read that post to get a good idea of the meaning of “saññā.”
Phần trình bày trên được trích từ bài “Saññā – What It Really Means”. Nên đọc bài đó để có được sự hiểu biết rõ ràng về ý nghĩa của “saññā”.
- In the “WebLink: suttacentral: Mālukyaputta Sutta (SN 35.95),” the Buddha asked the following question: “What do you think, Māluṅkyaputta? Would any desire or greed arise if you saw something that you had never seen before or had no familiarity with?” and Ven. Māluṅkyaputta answered, “No. Bhante.” See #3 of “‘Diṭṭhe Diṭṭhamattaṁ Bhavissati’ – Connection to Saññā.”
Trong “WebLink: suttacentral: Mālukyaputta Sutta (SN 35.95)”, Đức Phật đặt câu hỏi sau: “Này Māluṅkyaputta, ông nghĩ sao? Nếu ông thấy một vật mà trước đây ông chưa từng thấy hoặc không hề quen thuộc, thì liệu có dục hay tham khởi lên không?” và Tôn giả Māluṅkyaputta trả lời: “Không, bạch Thế Tôn.” Xem mục #3 của “‘Diṭṭhe Diṭṭhamattaṁ Bhavissati’ – Connection to Saññā.”
- It is not easy to come up with an example of something that “we have never seen before or had no familiarity with.” That is why the example in the video above is excellent. That Amazon tribe had never tasted Coca-Cola or seen a Coke bottle (or anything made of glass).
Không dễ để đưa ra một ví dụ về một thứ mà “chúng ta chưa từng thấy trước đây hoặc hoàn toàn không quen thuộc.” Đó là lý do vì sao ví dụ trong đoạn video ở trên là rất xuất sắc. Bộ tộc Amazon đó chưa từng nếm Coca-Cola, cũng chưa từng thấy một chai Coke (hay bất cứ vật gì làm bằng thủy tinh).
- However, saññā is more than recognition. It can also cause attachment via likes or dislikes based on past experiences. That idea of “inducing attachment” is of critical importance to us. The “rūpa” that arises in a mind (not the “external rūpa”) may cause us to attach to it.
Tuy nhiên, saññā không chỉ đơn thuần là sự nhận diện. Nó còn có thể gây ra sự dính mắc thông qua thích hay ghét, dựa trên các kinh nghiệm trong quá khứ. Ý niệm “làm khởi sinh sự dính mắc” này có tầm quan trọng then chốt đối với chúng ta. Chính “rūpa” khởi lên trong tâm (chứ không phải “rūpa bên ngoài”) có thể khiến chúng ta dính mắc vào nó.
- Even though Xi did not generate rāga or dosa upon seeing the Coke bottle, he still became attached to it with moha (ignorance) and started a journey to reach the “end of the world” to get rid of it, as discussed below in #9.
Mặc dù Xi không khởi lên rāga hay dosa khi nhìn thấy chai Coca-Cola, anh ta vẫn dính mắc vào nó bằng moha (vô minh) và bắt đầu một hành trình để đi đến “tận cùng thế giới” nhằm vứt bỏ nó, như sẽ được bàn ở mục #9 bên dưới.
Same “External Rūpa” Leads to Different Emotions in Different People
Cùng Một “Rūpa Bên Ngoài” Nhưng Dẫn Đến Những Cảm Xúc Khác Nhau Nơi Những Người Khác Nhau
- Suppose three people, A, B, and C, sit in a small coffee shop. They are all facing the door, and person X walks in. Suppose that person X is a close friend of A, the worst enemy of B, and C does not know X. We will also assume that all are males.
Giả sử có ba người A, B và C đang ngồi trong một quán cà phê nhỏ. Cả ba đều quay mặt về phía cửa, và người X bước vào. Giả sử rằng X là bạn thân của A, là kẻ thù không đội trời chung của B, còn C thì không hề quen biết X. Ta cũng giả định rằng tất cả đều là nam giới.
- So, let us see what happens within a split second. A recognizes X as his friend, and a smile comes to his face. B recognizes X as his enemy, and his face darkens instantly.
Vậy hãy xem điều gì xảy ra chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn. A nhận ra X là bạn của mình, và một nụ cười hiện lên trên khuôn mặt anh ta. B nhận ra X là kẻ thù của mình, và nét mặt anh ta lập tức trở nên u ám.
- On the other hand, C’s mind does not register anything about X, and X is just another person to him. He immediately goes back to whatever he was doing.
Ngược lại, tâm của C không ghi nhận điều gì đặc biệt về X, và đối với C, X chỉ là một người bình thường khác. Anh ta lập tức quay lại với việc mình đang làm.
- It is informative to consider the vastly different responses from A, B, and C upon seeing X.
Thật là nhiều điều đáng suy ngẫm khi xét đến những phản ứng hoàn toàn khác nhau của A, B và C khi nhìn thấy X.
- In #2 and #3 above, we discussed how A recognizes X as his friend based on past experiences.
Ở các mục #2 và #3 phía trên, chúng ta đã bàn về cách A nhận ra X là bạn mình dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ.
- Recognition is an unimaginably fast mental process. First, the mind must match what is seen with one’s prior experiences. Thus, A’s mind must go through past experiences with X to recall past experiences where they had mutually good experiences. The same holds for B; for him to recognize X as an enemy, his mind would have gone through his past experiences where he got into arguments/fights with X.
Sự nhận diện là một tiến trình tâm nhanh đến mức không thể tưởng tượng. Trước hết, tâm phải đối chiếu điều đang thấy với các kinh nghiệm trước đó. Vì vậy, tâm của A phải rà soát các trải nghiệm trong quá khứ với X để gợi lại những lần họ có những kinh nghiệm tốt đẹp với nhau. Điều tương tự cũng đúng với B; để nhận ra X là kẻ thù, tâm của B phải lướt qua những trải nghiệm trong quá khứ khi anh ta từng tranh cãi hoặc đánh nhau với X.
- Therefore, recognition requires “mental images of past experiences.”
Do đó, sự nhận diện đòi hỏi phải có “những hình ảnh tâm của các trải nghiệm trong quá khứ.”
- This is a critical observation. Even though we think of “seeing something” as “taking a snapshot” (like taking a photo with a camera), even taking one look at X in the above example is a complex process with many steps occurring within a fraction of a second.
Đây là một nhận xét hết sức quan trọng. Mặc dù chúng ta thường nghĩ “thấy một vật gì đó” giống như “chụp một bức ảnh” (như máy ảnh), nhưng ngay cả việc liếc nhìn X một lần trong ví dụ trên cũng là một tiến trình phức tạp, gồm nhiều bước diễn ra chỉ trong một phần rất nhỏ của một giây.
- That complex process happens in an unbelievably short time. This is why the Buddha said he could not even give an example to indicate how fast the mind is. See “WebLink: suttacentral: 5. Paṇihitaacchavagga (AN 1.48).” The short sutta says: “Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekadhammampi samanupassāmi yaṃ evaṃ lahuparivattaṃ yathayidaṃ cittaṃ. Yāvañcidaṃ, bhikkhave, upamāpi na sukarā yāva lahuparivattaṃ cittan”ti.” Translated: “I consider, bhikkhus, that there is no phenomenon that comes and goes so quickly as citta. It is not easy to find an analogy (a simile) to show how quickly cittās rise and fall.”
Tiến trình phức tạp đó diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn đến mức không thể tin được. Chính vì vậy mà Đức Phật đã nói rằng Ngài thậm chí không thể đưa ra một ví dụ nào để minh họa tốc độ của tâm. Xem “WebLink: suttacentral: 5. Paṇihitaacchavagga (AN 1.48).” Bài sutta ngắn này nói rằng: “Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekadhammampi samanupassāmi yaṃ evaṃ lahuparivattaṃ yathayidaṃ cittaṃ. Yāvañcidaṃ, bhikkhave, upamāpi na sukarā yāva lahuparivattaṃ cittan”ti.” Dịch: “Này các bhikkhu, Ta không thấy có một pháp nào khác lại sinh diệt nhanh như citta. Thật không dễ để tìm ra một ví dụ nhằm chỉ ra tốc độ sinh và diệt cực nhanh của các citta.”
All Five Upādānakkhandha Arise In a Sensory Event
Cả Năm Upādānakkhandha Đều Khởi Lên Trong Một Sự Kiện Giác Quan
- A critical observation is the following: Not only “the physical features of X,” but also the joyful memories of past experiences of X would arise in A’s mind upon seeing X.
Một nhận xét then chốt là như sau: không chỉ “những đặc điểm hình thể của X” khởi lên, mà cả những ký ức vui vẻ về các trải nghiệm trong quá khứ với X cũng đồng thời khởi lên trong tâm của A khi thấy X.
- In those past experiences, A would have experienced mostly “sukha vedanā,” and A would have recognized X with “saññā” just as in the present case. A’s mind would have generated saṅkhāra and viññāṇa
Trong những trải nghiệm quá khứ đó, A phần lớn đã trải qua “sukha vedanā”, và A đã nhận diện X bằng “saññā” giống như trong trường hợp hiện tại. Tâm của A cũng đã tạo ra saṅkhāra và viññāṇa.
- In other words, all five upādānakkhandha would have also arisen in those past experiences!
Nói cách khác, trong những trải nghiệm quá khứ ấy, cả năm upādānakkhandha cũng đã từng khởi lên.
- Thus, simultaneously with the recognition of X, those past emotions (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) also came instantly to A’s mind.
Vì vậy, đồng thời với việc nhận ra X, những cảm xúc trong quá khứ ấy (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) cũng lập tức hiện lên trong tâm của A.
- This is why the Buddha described a sensory event with pañcupādānakkhandha, which many translators translate as “five grasping” Here, “grasping” (upādāna) means to attach with rāga, dosa, or moha.
Đó là lý do vì sao Đức Phật mô tả một sự kiện giác quan bằng pañcupādānakkhandha, mà nhiều dịch giả dịch là “năm uẩn chấp thủ”. Ở đây, “chấp thủ” (upādāna) có nghĩa là dính mắc với rāga, dosa hoặc moha.
Mind Attaches to “Rūpa Upādānakkhandha” Even in the Purāṇa Kamma (Vipāka) Stage
Tâm Dính Mắc Vào “Rūpa Upādānakkhandha” Ngay Cả Trong Giai Đoạn Purāṇa Kamma (Vipāka)
- The time sequence of attachment to a “seeing event” is shown in the chart below. It is a simplified version of the charts discussed in previous posts.
Trình tự thời gian của sự dính mắc vào một “sự kiện thấy” được minh họa trong biểu đồ bên dưới. Đây là phiên bản giản lược của các sơ đồ đã được bàn đến trong những bài viết trước.
Purāṇa and Nava Kamma – 5
Purāṇa và Nava Kamma – 5
Download/Print: “WebLink: PDF Download: Purana and Nava Kamma – 5”
Tải xuống/In: “WebLink: PDF Download: Purana and Nava Kamma – 5”
- Even in the “kāma dhātu” stage, to the extreme left, a mind goes through the “recalling past events process” that we discussed in #6 and #7 above. This is when the minds of A, B, and C “get the saññā” of person X. Thus, even though I indicate the “bahiddha viññāṇa” stage with a small dot, it is already complex; with the mind engaging further, it expands as shown.
Ngay cả ở giai đoạn “kāma dhātu”, nằm tận bên trái, tâm vẫn trải qua “tiến trình gợi lại các sự kiện quá khứ” mà chúng ta đã bàn ở mục #6 và #7 phía trên. Chính tại đây, tâm của A, B và C “có được saññā” về người X. Do đó, mặc dù tôi chỉ ký hiệu giai đoạn “bahiddha viññāṇa” bằng một chấm nhỏ, nhưng thực chất nó đã là một tiến trình phức tạp; và khi tâm tiếp tục tham gia sâu hơn, nó sẽ mở rộng ra như được minh họa.
- Even the mind of C (we recall that all three are puthujjanās) instantly moves to the “bahiddha viññāṇa” stage in the kāma loka (red box). As we have discussed, the mind of anyone with all ten saṁyojana intact will ALWAYS move to kāma loka. Thus, even the “vipāka viññāṇa” stage is not attachment-free. See, “Is Cakkhu Viññāṇa Free of Defilements?” However, C’s mind will not get to the “nava kamma” stage because his mind would not go through the “taṇhā paccayā upādāna” step in Paṭicca Samuppāda; see the above chart.
Ngay cả tâm của C (nhớ rằng cả ba đều là puthujjana) cũng lập tức chuyển sang giai đoạn “bahiddha viññāṇa” trong kāma loka (ô màu đỏ). Như chúng ta đã thảo luận, tâm của bất kỳ ai còn đầy đủ cả mười saṁyojana thì LUÔN LUÔN sẽ chuyển sang kāma loka. Vì vậy, ngay cả giai đoạn “vipāka viññāṇa” cũng không phải là không có dính mắc. Xem “Is Cakkhu Viññāṇa Free of Defilements?”. Tuy nhiên, tâm của C sẽ không đi đến giai đoạn “nava kamma”, vì tâm của anh ta không trải qua bước “taṇhā paccayā upādāna” trong Paṭicca Samuppāda; xem sơ đồ phía trên.
- As discussed above, A and B attach to the “seeing event” with liking and dislike, respectively. Their minds advance to the “nava kamma” stage.
Như đã bàn ở trên, A và B dính mắc vào “sự kiện thấy” theo hai cách: thích và ghét tương ứng. Tâm của họ tiến sang giai đoạn “nava kamma”.
- We remember that attachment (taṇhā) can occur via like, dislike, or even with a neutral mind (with rāga, dosa, and moha, respectively). See “Taṇhā – How We Attach Via Greed, Hate, and Ignorance.” In the case of Xi (of the Amazon tribe, discussed in #4), attachment to the Coke bottle happens via moha; even though his mind did not generate rāga or dosa, he was fully confused and got into a lot of trouble trying to get rid of the bottle.
Chúng ta nhớ rằng sự dính mắc (taṇhā) có thể xảy ra thông qua thích, ghét, hoặc thậm chí với tâm trung tính (tương ứng là rāga, dosa và moha). Xem “Taṇhā – How We Attach Via Greed, Hate, and Ignorance.” Trong trường hợp của Xi (thuộc bộ tộc Amazon, đã bàn ở mục #4), sự dính mắc vào chai Coca-Cola xảy ra thông qua moha; mặc dù tâm anh ta không khởi lên rāga hay dosa, anh ta hoàn toàn mê mờ và gặp rất nhiều rắc rối khi cố gắng vứt bỏ cái chai đó.
Mind Deals With “Rūpa Upādānakkhandha” and Not a Single “Snapshot”
Tâm Xử Lý “Rūpa Upādānakkhandha” Chứ Không Phải Một “Ảnh Chụp” Đơn Lẻ
- As we saw in #2 and #3 above, the time sequence for A to recognize X MUST involve the following steps: (i) Upon seeing X (in one glance), A’s mind would have to go through past experiences with X. (ii) Based on those past experiences (which include images of X and the emotions associated with such past images), A recognized X as his friend, and (iii) that recognition led to a positive mindset (viññāṇa) arising in A.
Như chúng ta đã thấy ở mục #2 và #3 phía trên, trình tự thời gian để A nhận ra X BẮT BUỘC phải bao gồm các bước sau: (i) Khi thấy X (chỉ trong một cái liếc nhìn), tâm của A phải rà soát các trải nghiệm quá khứ với X. (ii) Dựa trên những trải nghiệm quá khứ đó (bao gồm hình ảnh về X và các cảm xúc gắn liền với những hình ảnh ấy), A nhận ra X là bạn mình, và (iii) sự nhận diện đó dẫn đến một trạng thái tâm tích cực (viññāṇa) khởi lên nơi A.
- Thus, the process of recognizing X involved much more than receiving a “snapshot of X.” Specifically, it REQUIRED recalling “past rūpa of X” that arose in the mind of A in many past encounters with X and also the mental factors associated with those past experiences.
Vì vậy, tiến trình nhận ra X bao hàm nhiều hơn rất nhiều so với việc tiếp nhận một “ảnh chụp của X”. Cụ thể, nó ĐÒI HỎI phải gợi lại “các rūpa quá khứ của X” đã từng khởi lên trong tâm của A qua nhiều lần gặp gỡ trước đây với X, cùng với các yếu tố tâm liên quan đến những trải nghiệm quá khứ đó.
- This is why a “seeing event” involves “rūpa upādānakkhandha,” which is defined to include “past rūpa” of X (that had arisen in A’s mind). In addition, “past vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa” also contributed to helping recognize X. (In addition to the “past” component, there are ten more possible components in each upādānakkhandha. See “WebLink: suttacentral: Khandha Sutta (SN 22.48).” We will discuss that later.)
Đó là lý do vì sao một “sự kiện thấy” bao hàm “rūpa upādānakkhandha”, được định nghĩa là bao gồm cả “các rūpa quá khứ” của X (đã từng khởi lên trong tâm của A). Ngoài ra, “vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa trong quá khứ” cũng góp phần giúp nhận ra X. (Bên cạnh thành phần “quá khứ”, mỗi upādānakkhandha còn có thêm mười thành phần khả dĩ khác. Xem “WebLink: suttacentral: Khandha Sutta (SN 22.48).” Chúng ta sẽ bàn về điều này sau.)
- Critical conclusion: Any sensory event involves all five aggregates: rūpakkhandha, vedanākkhandha, saññākkhandha, saṅkhārakkhandha, and viññāṇakkhandha. However, since a puthujjana has NEVER experienced pañcakkhandha, but ALWAYS experienced pañcupādānakkhandha, we must re-state that as follows: Any sensory event involves all five “grasping” aggregates: rūpa upādānakkhandha, vedanā upādānakkhandha, saññā upādānakkhandha, saṅkhāra upādānakkhandha, and viññāṇa upādānakkhandha.
Kết luận then chốt: Bất kỳ sự kiện giác quan nào cũng liên quan đến cả năm uẩn: rūpakkhandha, vedanākkhandha, saññākkhandha, saṅkhārakkhandha và viññāṇakkhandha. Tuy nhiên, vì một puthujjana CHƯA BAO GIỜ trải nghiệm pañcakkhandha mà LUÔN LUÔN trải nghiệm pañcupādānakkhandha, nên chúng ta phải diễn đạt lại như sau: Bất kỳ sự kiện giác quan nào cũng liên quan đến cả năm “uẩn chấp thủ”: rūpa upādānakkhandha, vedanā upādānakkhandha, saññā upādānakkhandha, saṅkhāra upādānakkhandha và viññāṇa upādānakkhandha.
Summary
Tóm lược
- It is critical to understand the following to pursue the Noble Path.
Để theo đuổi Thánh Đạo, điều tối quan trọng là phải hiểu rõ những điểm sau đây.
- Saññā means more than “perception” or “recognition.” Our bodies and the external environment are built (via Paṭicca Samuppāda) to generate “false emotions” or “distorted saññā.” This is discussed in detail in “Worldview of the Buddha.”
Saññā có ý nghĩa nhiều hơn là “tri giác” hay “nhận diện”. Thân thể của chúng ta và môi trường bên ngoài được hình thành (thông qua Paṭicca Samuppāda) để tạo ra “những cảm xúc giả tạo” hay “saññā sai lệch”. Điều này được bàn chi tiết trong “Worldview of the Buddha”.
- Each of our sensory experiences leads to Paṭicca Samuppāda The sensory experience for a puthujjana always starts with the “purāṇa kamma” stage. It may proceed to the “nava kamma” stage only if the mind is sufficiently interested in the sensory input. If not, the Paṭicca Samuppāda process stops at the “taṇhā paccayā upādāna” step, and no new “kammic energies” are generated.
Mỗi trải nghiệm giác quan của chúng ta đều dẫn đến các chu trình Paṭicca Samuppāda. Trải nghiệm giác quan của một puthujjana luôn bắt đầu từ giai đoạn “purāṇa kamma”. Nó chỉ có thể tiến sang giai đoạn “nava kamma” nếu tâm đủ quan tâm đến tín hiệu giác quan đó. Nếu không, tiến trình Paṭicca Samuppāda sẽ dừng lại ở bước “taṇhā paccayā upādāna”, và không có “năng lượng kamma” mới nào được tạo ra.
- At the beginning of sensory experience, the mind must first recognize it. That recognition is only one part of saññā. That recognition is based on prior similar experiences, and the emotions associated with them also come to the mind; that leads to automatic attachment to the sensory input for anyone below the Arahant stage, i.e., anyone with unbroken saṁyojana.
Khi một trải nghiệm giác quan bắt đầu, tâm trước hết phải nhận diện nó. Sự nhận diện đó chỉ là một phần của saññā. Sự nhận diện này dựa trên các trải nghiệm tương tự trong quá khứ, và các cảm xúc gắn liền với chúng cũng đồng thời khởi lên trong tâm; điều đó dẫn đến sự dính mắc tự động đối với đối tượng giác quan nơi bất kỳ ai dưới bậc Arahant, tức là bất kỳ ai còn các saṁyojana chưa bị đoạn trừ.
- Until that automatic attachment that takes the mind to the bahiddha viññāṇa stage is stopped, one is not fully released from the rebirth cycle. That can happen only by understanding how the “purāṇa kamma” stage is initiated; see “Sandiṭṭhiko – What Does It Mean?”
Chừng nào sự dính mắc tự động ấy—khiến tâm chuyển sang giai đoạn bahiddha viññāṇa—chưa được chấm dứt, thì người ta vẫn chưa được giải thoát hoàn toàn khỏi vòng tái sinh. Điều đó chỉ có thể xảy ra khi hiểu rõ cách giai đoạn “purāṇa kamma” được khởi lên; xem “Sandiṭṭhiko – What Does It Mean?”.
- The discussion on the origin of the “distorted saññā” leads to the fact that a mind attaches to sensory inputs via a complex process taking into account not just a “snapshot” of the sensory input, but one’s prior experiences. Thus, “rūpa” does not refer only to the external stimulus but is inherently connected to an “aggregate of prior experiences” or “rūpa upādānakkhandha.” It is mainly in Abhidhamma that “external rūpa” made of pathavi, āpo, tejo, vāyo, vaṇṇa, gandha, rasa, oja (i.e.,
suddhaṭṭhaka) are discussed.
Việc bàn luận về nguồn gốc của “saññā sai lệch” dẫn đến sự thật rằng tâm bám chấp vào các đối tượng giác quan thông qua một tiến trình phức tạp, không chỉ dựa trên một “ảnh chụp” tức thời của kích thích giác quan mà còn dựa trên toàn bộ kinh nghiệm quá khứ của mỗi người. Do đó, “rūpa” không chỉ nói đến kích thích bên ngoài mà vốn gắn liền với một “tổng hợp kinh nghiệm đã tích lũy”, tức là “rūpa upādānakkhandha.” Chính trong Abhidhamma mà “rūpa bên ngoài” được tạo thành bởi pathavi, āpo, tejo, vāyo, vaṇṇa, gandha, rasa, oja (tức là suddhaṭṭhaka) được bàn đến chủ yếu.
- In the same way, vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa in the Sutta Piṭaka (almost always) refer to vedanā upādānakkhandha, saññā upādānakkhandha, saṅkhāra upādānakkhandha, and viññāṇa upādānakkhandha.
Tương tự như vậy, vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa trong Sutta Piṭaka (gần như luôn luôn) ám chỉ đến vedanā upādānakkhandha, saññā upādānakkhandha, saṅkhāra upādānakkhandha và viññāṇa upādānakkhandha.
