Future Suffering – Why It Arises / Khổ Đau Trong Tương Lai – Vì Sao Phát Sinh

January 22, 2017; revised July 19, 2022

Ngày 22/01/2017; sửa đổi ngày 19/07/2022

In the subsection “Living Dhamma – Fundamentals,” we mentioned that there are two types of suffering that can be eliminated according to Buddha Dhamma. In that subsection, we discussed and explained how some suffering in this life could be stopped from arising. With this post, we will start a discussion on the second type suffering associated with future rebirths — which is even more important — can be stopped from arising.

Trong tiểu mục “Living Dhamma – Fundamentals”, chúng ta đã đề cập rằng theo Dhamma của Đức Phật, có hai loại khổ đau có thể được đoạn trừ. Trong phần đó, chúng ta đã bàn luận và giải thích cách một số khổ đau trong đời này có thể được ngăn không cho phát sinh. Với bài viết này, chúng ta sẽ bắt đầu thảo luận về loại khổ đau thứ hai, gắn liền với các tái sinh trong tương lai — điều này còn quan trọng hơn — và cách để ngăn nó không cho phát sinh.

  1. Let us first review the existing ideas from other religions and philosophies. First, let us discuss the dominant religious view.

Trước hết, chúng ta hãy điểm lại những quan niệm hiện có trong các tôn giáo và triết học khác. Đầu tiên, hãy bàn về quan điểm tôn giáo phổ biến.

  • Most major religions have a worldview based on three “realms” of existence: the human realm, the heavenly realm, and hell. If one lives according to the religious teachings, one will be happy in the heaven forever; if not, one will suffer in hell forever.

Hầu hết các tôn giáo lớn đều có một thế giới quan dựa trên ba “cõi” tồn tại: cõi người, cõi trời và địa ngục. Nếu một người sống theo giáo lý tôn giáo, người đó sẽ hạnh phúc mãi mãi trên thiên đường; nếu không, sẽ chịu khổ đau vĩnh viễn trong địa ngục.

  • It does not explain how one is born into the human realm. It could be that the Creator created Adam and Eve, and their descendants are just born. In this view, the sentient beings in this world started off at just two and will grow with time. How is that possible?

Quan điểm này không giải thích được làm thế nào một người lại sinh ra trong cõi người. Có thể cho rằng Đấng Tạo Hóa đã tạo ra Adam và Eve, và con cháu của họ cứ thế sinh ra. Theo cách nhìn này, các chúng sinh trong thế giới này ban đầu chỉ có hai và rồi sẽ gia tăng theo thời gian. Điều đó làm sao có thể xảy ra?

  • In Hinduism, the “eternal realm of happiness” is not heaven but the Brahma realm (there is only one, where one merges with Mahā Brahma). Also, there is no permanent hell, as I understand.

Trong Ấn Độ giáo, “cõi hạnh phúc vĩnh cửu” không phải là thiên đường mà là cõi Brahma (chỉ có một cõi, nơi chúng sinh hợp nhất với Mahā Brahma). Theo hiểu biết của tôi, Ấn Độ giáo cũng không thừa nhận một địa ngục vĩnh viễn.

  1. In Christianity, based on whether one lives according to the “particular religious teachings” or not, one will be born in heaven or hell FOREVER.

Trong Kitô giáo, tùy theo một người có sống đúng theo “những giáo huấn tôn giáo cụ thể” hay không, người ấy sẽ được sinh lên thiên đường hoặc rơi vào địa ngục VĨNH VIỄN.

  • Of course, these religious teachings will vary from one religion to another.

Dĩ nhiên, các giáo huấn tôn giáo này khác nhau giữa các tôn giáo.

  • Furthermore, even within one religion, they can be changed by a decree from the “head of the Church.”

Hơn nữa, ngay trong cùng một tôn giáo, các giáo huấn đó vẫn có thể bị thay đổi bằng một sắc lệnh từ “người đứng đầu Giáo hội”.

  • Since all those making those decisions are human, it seems illogical that they can decide on their fate.

Vì tất cả những người đưa ra các quyết định đó đều là con người, nên thật khó hợp lý khi cho rằng họ có thể quyết định vận mệnh tối hậu của mình.

  1. Turning to philosophy, many people today — especially those who believe that the above religious reasoning is illogical — take the materialistic view that one is born out of inert matter only to die and be recycled back to the Earth. They are the so-called atheists.

Chuyển sang lĩnh vực triết học, ngày nay nhiều người — đặc biệt là những người cho rằng lập luận tôn giáo nói trên là phi lý — chấp nhận quan điểm duy vật, cho rằng con người sinh ra từ vật chất vô tri, rồi chết đi và bị hoàn nguyên trở lại Trái Đất. Họ thường được gọi là những người vô thần.

  • In this case, the logic would say that one could live immorally since immoral actions to benefit oneself would not have consequences.

Theo logic này, người ta hoàn toàn có thể sống bất thiện, vì các hành động bất thiện nhằm mang lại lợi ích cho bản thân sẽ không có hậu quả gì.

  • Still, most who belong to this category live moral lives. They have an innate feeling that morality must be adhered to, but cannot quite explain why.

Tuy vậy, phần lớn những người thuộc nhóm này vẫn sống một đời sống đạo đức. Họ có một cảm nhận bẩm sinh rằng đạo đức cần phải được tuân thủ, nhưng lại không thể giải thích rõ ràng vì sao.

  1. I have discussed the above points in several posts:

Tôi đã thảo luận các điểm trên trong một số bài viết:

  • On religion, see “The Language of God” by Francis Collins and “What Does Buddha Dhamma Say about Creator, Satan, Angels, and Demons?”.

Về tôn giáo, xem “The Language of God” của Francis Collins và “What Does Buddha Dhamma Say about Creator, Satan, Angels, and Demons?”.

  • On the belief in a materialistic view, see “Why Does the World Exist?” by Jim Holt and “Waking Up” by Sam Harris.

Về niềm tin duy vật, xem “Why Does the World Exist?” của Jim Holt và “Waking Up” của Sam Harris.

  • In the commonly-used sense of the word “religion” Buddha Dhamma is not a religion; see “Is Buddha Dhamma (Buddhism) a Religion?” and “What is Unique in Buddha Dhamma?”.

Theo cách hiểu thông thường của từ “tôn giáo”, Dhamma của Đức Phật không phải là một tôn giáo; xem “Is Buddha Dhamma (Buddhism) a Religion?” và “What is Unique in Buddha Dhamma?”.

  • I would welcome any comments/criticisms on my points above. I can go into more details if needed, and I believe the above points cannot be logically refuted.

Tôi hoan nghênh mọi ý kiến nhận xét hay phê bình đối với các quan điểm trên. Tôi có thể trình bày chi tiết hơn nếu cần, và tôi tin rằng những điểm nêu trên không thể bị bác bỏ một cách hợp lý.

  1. Buddha Dhamma (true and pure Buddhism) does not belong to the above two categories.

Dhamma của Đức Phật (Phật giáo chân chính và thuần khiết) không thuộc về hai nhóm quan điểm nói trên.

  • The complex world view of Buddha Dhamma is explained in the subsection “The Grand Unified Theory of Dhamma.” Still, a brief introduction is in the post, “What Reincarnates? – Concept of a Lifestream.”

Thế giới quan phức tạp của Dhamma của Đức Phật được trình bày trong tiểu mục “The Grand Unified Theory of Dhamma”. Tuy nhiên, một phần giới thiệu ngắn gọn có trong bài “What Reincarnates? – Concept of a Lifestream”.

  • Briefly, one is born in one of 31 realms of existence. From the beginning-less time, we all have been undergoing this rebirth process. But most times, we are born in the lower four realms filled with suffering; thus, the long-term solution is to stop the rebirth process. This is done in four steps, and at the Arahant stage, one stops the rebirth process.

Tóm lại, chúng sinh được sinh ra trong một trong 31 cõi tồn tại. Từ vô thủy, tất cả chúng ta đã không ngừng trôi lăn trong tiến trình tái sinh này. Tuy nhiên, phần lớn thời gian chúng ta sinh vào bốn cõi thấp đầy khổ đau; do đó, giải pháp lâu dài là chấm dứt tiến trình tái sinh. Điều này được thực hiện qua bốn giai đoạn, và ở giai đoạn Arahant, tiến trình tái sinh chấm dứt.

  • This is not a nihilistic or pessimistic view; see “Nibbāna ‘Exists’, but Not in This World.”

Đây không phải là một quan điểm hư vô hay bi quan; xem “Nibbāna ‘Exists’, but Not in This World”.

  1. So, that is the background for our discussion. Let us discuss how one can get to Nibbāna or stop future suffering.

Như vậy, đó là phần bối cảnh cho cuộc thảo luận của chúng ta. Giờ đây, hãy bàn xem làm thế nào một người có thể đạt đến Nibbāna hay chấm dứt khổ đau trong tương lai.

  • Some Buddhists believe that Nibbāna can be attained by living a moral life and doing meritorious deeds (puñña kamma).

Một số Phật tử tin rằng Nibbāna có thể đạt được bằng cách sống đạo đức và làm các công đức (puñña kamma).

  • We will now discuss why just living a moral life and doing puñña kamma will not lead to Nibbāna, even though they are necessary parts of the process.

Bây giờ, chúng ta sẽ bàn về lý do vì sao chỉ sống đạo đức và làm puñña kamma thì vẫn chưa thể dẫn đến Nibbāna, mặc dù đó là những phần cần thiết của tiến trình tu tập.

  1. We are born in one of the 31 realms due to six root causes (hetu): lobha, dosa, moha and alobha, adosa, and amoha. This categorization can be used to look at births in different realms in another way.

Chúng ta sinh ra trong một trong 31 cõi là do sáu căn nguyên (hetu): lobha, dosa, moha và alobha, adosa, amoha. Sự phân loại này có thể được dùng để nhìn nhận việc tái sinh trong các cõi khác nhau theo một cách khác.

  • Deeds (kamma) done with lobha, dosa, moha lead to rebirth in the apāyā (lowest 4 realms). For these deeds, moha is always present with either lobha (pretha and asura realms births) or dosa (niraya or the lowest realm). Births in the animal realms can be due to either.

Các hành động (kamma) được thực hiện với lobha, dosa, moha dẫn đến tái sinh trong các apāyā (bốn cõi thấp nhất). Trong những kamma này, moha luôn hiện diện cùng với lobha (dẫn đến sinh vào cõi pretha và asura) hoặc cùng với dosa (dẫn đến sinh vào niraya, cõi thấp nhất). Việc tái sinh vào cõi súc sinh có thể do một trong hai trường hợp này.

  • Those deeds are done with one or more alobha, adosa, or amoha, leading to rebirth in the higher realms, starting with the human realm.

Những hành động ấy được thực hiện với một hay nhiều trong các căn lành alobha, adosa hoặc amoha, dẫn đến tái sinh vào các cõi cao hơn, bắt đầu từ cõi người.

  1. As discussed, for example in the WebLink: suttacentral: Dutiyasikkhāpada Sutta (AN 4.236), a verse that summarizes the results of meritorious deeds and immoral deeds is: “Atthi, bhikkhave, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇha vipākaṁ; kammaṁ sukkaṁ sukka vipākaṁ..

Như đã được thảo luận, chẳng hạn trong WebLink: suttacentral: Dutiyasikkhāpada Sutta (AN 4.236), có một bài kệ tóm lược kết quả của các hành động phước thiện và bất thiện như sau: “Atthi, bhikkhave, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇha vipākaṁ; kammaṁ sukkaṁ sukka vipākaṁ..”

Here the word kaṇha means bad or dark. Sukka means pure or white.

Ở đây, từ kaṇha có nghĩa là xấu hay đen tối. Sukka có nghĩa là trong sạch hay trắng.

  • So, the word “kaṇhaṁ” in the above verse refers to immoral deeds done with lobha, dosa, moha and other asobhana cetasika. “Sukkaṁ” implies meritorious deeds done with alobha, adosa, amoha, and other sobhana cetasika.

Vì vậy, từ “kaṇhaṁ” trong bài kệ trên chỉ các hành động bất thiện được thực hiện với lobha, dosa, moha và các asobhana cetasika khác. “Sukkaṁ” hàm ý các hành động phước thiện được thực hiện với alobha, adosa, amoha và các sobhana cetasika khác.

  • How different types of cetasika contribute to either defile or purify our minds is discussed in the subsection, “Living Dhamma – Fundamentals.”

Cách các loại cetasika khác nhau góp phần làm ô nhiễm hay thanh tịnh tâm được trình bày trong tiểu mục “Living Dhamma – Fundamentals”.

  1. In this beginning-less rebirth process, this is how we have been born in almost all of the 31 realms because we keep accumulating both kaṇha vipāka and sukka vipāka.

Trong tiến trình tái sinh vô thủy này, đó là lý do vì sao chúng ta đã từng sinh ra trong hầu hết 31 cõi, bởi vì chúng ta không ngừng tích lũy cả kaṇha vipāka lẫn sukka vipāka.

  • Furthermore, we have accumulated enough of both kinds to bring about many, many future births in all those realms.

Hơn nữa, chúng ta đã tích lũy đủ cả hai loại này để dẫn đến vô số lần tái sinh trong tương lai ở tất cả các cõi ấy.

  • Even if we do not commit a single kaṇha vipāka in this life, we have done enough of them in the past to bring about births in the apāyā in the future. This is a point that not many people understand. Many people have said, “I don’t harm anyone, so I hope to get a good rebirth.” Unfortunately, they are wrong.

Ngay cả khi trong đời này chúng ta không tạo ra một kaṇha vipāka nào, thì trong quá khứ chúng ta cũng đã tạo đủ để dẫn đến tái sinh vào các apāyā trong tương lai. Đây là một điểm mà không nhiều người hiểu được. Nhiều người nói: “Tôi không làm hại ai cả, nên tôi hy vọng sẽ có một tái sinh tốt.” Đáng tiếc thay, họ đã hiểu sai.

  1. Puñña kamma with “sukka vipāka” leads to two important results in this and future lives that make suitable conditions for attaining Nibbāna:

Puñña kamma với “sukka vipāka” dẫn đến hai kết quả quan trọng trong đời này và các đời sau, tạo ra những điều kiện thuận lợi để chứng đạt Nibbāna:

  • Rebirth in the “good realms” (human realm and above). Attaining Nibbāna — or even working towards it — is possible only in the good realms, especially in the human realm.

Tái sinh vào các “cõi lành” (cõi người và cao hơn). Việc chứng đạt Nibbāna — hay thậm chí chỉ là nỗ lực hướng đến nó — chỉ có thể thực hiện được trong các cõi lành, đặc biệt là cõi người.

  • If done correctly, merits acquired through puñña kamma can lead to a long life (āyusa), flawless sense faculties (vaṇṇa), healthy life without much physical suffering (sukha), and necessary resources to live without hardships (bala). These benefits make suitable conditions for one to focus on attaining Nibbāna. For example, if one is sick or is very poor, it is not easy to follow the Path.

Nếu được thực hiện đúng cách, công đức tích lũy qua puñña kamma có thể dẫn đến tuổi thọ dài (āyusa), các căn đầy đủ không khiếm khuyết (vaṇṇa), đời sống khỏe mạnh ít khổ thân (sukha), và các điều kiện vật chất cần thiết để sống không thiếu thốn (bala). Những lợi ích này tạo ra điều kiện thuận lợi để một người chuyên tâm hướng đến Nibbāna. Ví dụ, nếu một người bệnh nặng hoặc quá nghèo khổ, thì việc đi theo Con đường Tu tập không hề dễ dàng.

  1. On the other hand, “kaṇha vipāka” or results of immoral deeds lead to births in the apāyā where the suffering is intense.

Ngược lại, “kaṇha vipāka”, tức là các kết quả của hành động bất thiện, dẫn đến tái sinh trong các apāyā, nơi khổ đau vô cùng dữ dội.

  • We have been born in the human realm due to a good upapatthi sukka vipāka.

Chúng ta đã sinh vào cõi người nhờ một upapatthi sukka vipāka tốt.

  • But in this unique human realm one is subject to both kaṇha vipāka and sukka vipāka as pavutti kamma vipāka that bring results during the lifetime.

Nhưng trong cõi người đặc biệt này, mỗi người đều chịu tác động của cả kaṇha vipāka lẫn sukka vipāka dưới dạng pavutti kamma vipāka, tức là các quả nghiệp trổ sinh ngay trong đời sống hiện tại.

  • The way those six root causes lead to rebirths among the 31 realms is discussed in “Kilesa – Relationship To Akusala, Kusala, And Puñña Kamma.”

Cách mà sáu căn nguyên này dẫn đến tái sinh trong 31 cõi được trình bày trong bài “Kilesa – Relationship To Akusala, Kusala, And Puñña Kamma”.

  1. Births in the human realm could be a tihetuka (“ti” + hetu,” meaning all three of alobha, adosa, amoha), dvihetuka (“dvi” + hetu,” meaning alobha and adosa), or ahetuka.

Việc sinh vào cõi người có thể là tihetuka (“ti” + hetu, nghĩa là đầy đủ cả ba alobha, adosa, amoha), dvihetuka (“dvi” + hetu, nghĩa là chỉ có alobha và adosa), hoặc ahetuka.

  • Those humans with tihetuka births can attain magga phala in this life if they strive enough.

Những người có sinh tihetuka có thể chứng đạt magga phala ngay trong đời này nếu tinh tấn đầy đủ.

  • Those with dvihetuka births cannot attain magga phala in this life. Since they do not have the amoha root cause, their wisdom level (paññā) cannot grow beyond a certain point. However, they can do puñña kamma and be eligible to be reborn a human with a tihetuka birth in future lives.

Những người có sinh dvihetuka không thể chứng đạt magga phala trong đời này. Do không có căn amoha, mức độ trí tuệ (paññā) của họ không thể phát triển vượt quá một giới hạn nhất định. Tuy nhiên, họ vẫn có thể làm puñña kamma và đủ điều kiện để tái sinh làm người với sinh tihetuka trong các đời sau.

  • Even though the word ahetuka means “without causes”, here it means a weak version of dvihetuka. Here ahetuka means “without sufficiently good hetu” to be able to follow the Path. They are born with mental deficiencies.

Mặc dù từ ahetuka có nghĩa là “không có căn”, nhưng trong ngữ cảnh này nó chỉ một dạng yếu của dvihetuka. Ở đây, ahetuka có nghĩa là “không có đủ các hetu tốt” để có thể đi trên Con đường Tu tập. Những người này sinh ra với các khiếm khuyết về tâm trí.

  1. It is very important to realize that no one (at present) can distinguish between tihetuka and dvihetuka On the surface, both types appear the same. For example, there could be people with higher education who are dvihetuka, and some with no education who are tihetuka.

Điều rất quan trọng cần nhận ra là hiện nay không ai có thể phân biệt được giữa sinh tihetuka và sinh dvihetuka. Bề ngoài, hai loại này trông hoàn toàn giống nhau. Ví dụ, có thể có những người học vấn cao nhưng lại là dvihetuka, và cũng có những người không được học hành mà lại là tihetuka.

  • So, the thing to do is to strive to the best of one’s ability. No matter whether one is tihetuka or dvihetuka, the efforts will pay off in the long run. Furthermore, being tihetuka does not take one automatically to Nibbāna; one has to strive.

Vì vậy, điều cần làm là nỗ lực hết khả năng của mình. Bất kể là tihetuka hay dvihetuka, sự tinh tấn ấy sẽ mang lại kết quả về lâu dài. Hơn nữa, sinh tihetuka cũng không tự động đưa một người đến Nibbāna; vẫn cần phải nỗ lực tu tập.

  • Furthermore, no one should be discouraged and believe they are dvihetuka, if the efforts are not paying off quickly. One prominent example in the Tipiṭaka is the story about the Cūḷapanthaka Thero. He almost disrobed because he could not even memorize a single gātha after trying hard for months. But with Buddha’s help, he was able to attain Arahanthood in a day, and even developed abhiññā powers: “WebLink: suttacentral: Cūḷapanthaka.”

Hơn nữa, không ai nên nản chí và cho rằng mình là dvihetuka chỉ vì nỗ lực chưa mang lại kết quả nhanh chóng. Một ví dụ nổi bật trong Tipiṭaka là câu chuyện về Trưởng lão Cūḷapanthaka. Ngài suýt hoàn tục vì sau nhiều tháng cố gắng vẫn không thể ghi nhớ nổi một bài kệ gātha. Nhưng với sự trợ giúp của Đức Phật, Ngài đã chứng đạt quả Arahant chỉ trong một ngày, và thậm chí còn phát triển được các năng lực abhiññā; xem “WebLink: suttacentral: Cūḷapanthaka.”

  1. Therefore, by thinking good thoughts, doing good deeds, and by living a moral life, we can improve our chances (but not guarantee) of a good future rebirth. In fact, this is the goal of all major religions (to be born in heaven and live there forever).

Do đó, bằng cách suy nghĩ thiện, làm việc thiện và sống một đời sống đạo đức, chúng ta có thể cải thiện cơ hội (nhưng không thể bảo đảm) cho một tái sinh tốt trong tương lai. Thực ra, đây chính là mục tiêu của hầu hết các tôn giáo lớn (được sinh lên thiên đường và sống ở đó vĩnh viễn).

  • However, nothing in this world of 31 realms is everlasting. Furthermore, we do not have control over where we will be born in the next life, regardless of how well we live this life.

Tuy nhiên, không có điều gì trong thế giới 31 cõi này là vĩnh cửu. Hơn nữa, chúng ta không có quyền kiểm soát mình sẽ sinh vào đâu trong đời sau, bất kể đời này chúng ta sống tốt đến mức nào.

  • It is important to realize that one or more past bad deeds (kamma vipāka) may still lead to a bad rebirth, and it will be very difficult to again get a good rebirth.

Điều quan trọng cần nhận ra là một hay nhiều hành động bất thiện trong quá khứ (kamma vipāka) vẫn có thể dẫn đến một tái sinh xấu, và khi đó sẽ rất khó để lại có được một tái sinh tốt.

  • This is one aspect of the anicca nature, the futility of believing that there is happiness to be achieved somewhere in this world.

Đây là một khía cạnh của bản chất anicca: sự vô ích của niềm tin rằng có thể đạt được hạnh phúc ở đâu đó trong thế gian này.

  • The opposite belief that somehow happiness is to be achieved somewhere in this world gives rise to deeply-embedded nicca saññā (a sense of hope) in our minds.

Niềm tin ngược lại — rằng bằng cách nào đó hạnh phúc có thể đạt được trong thế gian này — làm phát sinh nicca saññā ăn sâu trong tâm chúng ta (một cảm giác hy vọng).

  • One cannot avoid future suffering until one comprehends first that immoral deeds with the nicca saññā lead to kaṇha vipāka and will bring much suffering. Even though moral deeds with the nicca saññā lead to sukka vipāka with happiness, one cannot avoid immoral deeds in the long run, BECAUSE OF this nicca saññā.

Một người không thể tránh được khổ đau trong tương lai nếu trước hết không hiểu rằng các hành động bất thiện đi kèm với nicca saññā sẽ dẫn đến kaṇha vipāka và mang lại nhiều khổ đau. Mặc dù các hành động thiện đi kèm với nicca saññā dẫn đến sukka vipāka và hạnh phúc, nhưng về lâu dài người ta vẫn không thể tránh khỏi các hành động bất thiện, CHÍNH VÌ nicca saññā này.

  1. Therefore, until we change our wrong view (and the corresponding wrong perception or saññā) that there is happiness to be had in this world.

Vì vậy, chừng nào chúng ta còn chưa thay đổi tà kiến (và tri giác sai lầm tương ứng, tức saññā) rằng trong thế gian này có hạnh phúc để đạt được,

  • This is the unique message of the Buddha. We will discuss how we can get rid of this nicca saññā and cultivate the anicca saññā in the next post [Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Affect Saṅkhāra].

Đây là thông điệp độc đáo của Đức Phật. Trong bài tiếp theo, chúng ta sẽ bàn cách đoạn trừ nicca saññā này và nuôi dưỡng anicca saññā [Vipallāsa (Diṭṭhi, Saññā, Citta) Affect Saṅkhāra].

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *