8.1.2.1. Saññā – Ý Nghĩa Thực Sự Của Nó
December 31, 2017; revised August 22, 2019; November 1, 2021; rewritten April 11, 2025
Ngày 31/12/2017; sửa đổi ngày 22/08/2019; ngày 01/11/2021; viết lại ngày 11/04/2025
Saññā is a critical concept in Buddha’s teachings. Most of our feelings (vedanā) are due to saññā. In many cases, it is hard to distinguish between saññā and vedanā.
Saññā là một khái niệm then chốt trong các lời dạy của Đức Phật. Phần lớn các cảm thọ (vedanā) của chúng ta là do saññā chi phối. Trong nhiều trường hợp, rất khó phân biệt rõ ràng giữa saññā và vedanā.
[Five Types of Feeling:[Năm Loại Cảm Thọ:
- Sukha (Physical happiness)
Sukha (Hạnh phúc thân)
- Dukkha (Physical pain)
Dukkha (Đau đớn thân)
- and 2.: Felt by body (vedanā).
- và 2.: Được cảm nhận bởi thân (vedanā).
- Somanassa (Mental happiness)
Somanassa (Hỷ lạc tâm)
- Domanassa (Mental displeasure)
Domanassa (Bất mãn, khổ tâm)
- and 4.: Felt through mind (saññā).
- và 4.: Được cảm nhận qua tâm (saññā).
- Upekkhā (Equanimity or Neutral feeling)
Upekkhā (xả, hay cảm thọ trung tính)
5.: Felt by eye, ear, nose, and tongue (a Neutral vedanā). Felt through mind (Equanimity – a saññā).
5.: Được cảm nhận bởi mắt, tai, mũi và lưỡi (một vedanā trung tính); đồng thời cũng được cảm nhận qua tâm (xả – một saññā).]
Saññā – No equivalent Word in English
Saññā – Không Có Từ Tương Đương Trong Tiếng Anh
- Saññā is usually translated to English as “perception” and sometimes as “recognition”; it is both and more! Saññā has simple and deeper meanings.
Saññā thường được dịch sang tiếng Anh là “perception” (tri giác) và đôi khi là “recognition” (nhận diện); nó bao hàm cả hai nghĩa đó và còn hơn thế nữa. Saññā có những ý nghĩa đơn giản và cả những tầng nghĩa sâu xa.
- A better translation is “incorrect or distorted perception.” It does not represent the actual reality of anything in this world. Based on that “distorted perception,” average humans (puthujjana) make wrong decisions. The deeper analyses in “Mūlapariyāya Sutta – The Root of All Things” and other advanced posts require a good understanding of what the Pāli word saññā means; it cannot be translated into English in a single word.
Một cách diễn đạt sát hơn là “tri giác sai lệch hay méo mó”. Saññā không phản ánh đúng thực tại của bất cứ pháp nào trong thế gian. Dựa trên “tri giác sai lệch” đó, con người phàm tục (puthujjana) đưa ra những quyết định sai lầm. Những phân tích sâu trong “Mūlapariyāya Sutta – The Root of All Things” và các bài nâng cao khác đòi hỏi sự hiểu biết vững chắc về ý nghĩa của từ Pāli saññā; nó không thể được dịch trọn vẹn bằng một từ tiếng Anh duy nhất.
- We will start with some basic ideas in this post.
Trong bài này, chúng ta sẽ bắt đầu với một số ý niệm căn bản.
- Saññā is pronounced “sangnā” and gives an encoded meaning in Pāli and Sinhala with that pronunciation: WebLink: Listen to the Pāli word “saññā”
Saññā được phát âm gần như “sangnā” và cách phát âm này hàm chứa một ý nghĩa được mã hóa trong Pāli và Sinhala; xem WebLink: Listen to the Pāli word “saññā”.
- It means “sign” or, even closer, “the embedded message.” That latter expresses it well since it is how one “instantaneously gets the idea of what is meant by an external signal.”
Nó có nghĩa là “dấu hiệu”, hay chính xác hơn là “thông điệp được hàm chứa”. Cách diễn đạt này phản ánh đúng bản chất của saññā, vì đó là cách người ta “ngay lập tức nắm bắt được ý nghĩa của một tín hiệu bên ngoài”.
Saññā – Basic Idea
Saññā – Ý niệm Căn bản
- When we understand what is meant by saññā, we can clarify many things, including how humans can communicate with beings in other realms via saññā.
Khi hiểu được ý nghĩa của saññā, chúng ta có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề, bao gồm cả việc con người giao tiếp với các chúng sinh ở những cõi khác thông qua saññā như thế nào.
- Saññā is the “universal language.” To give an analogy: if a sign reads, “winding road ahead,” only those who know English can understand what that sign says.
Saññā là “ngôn ngữ phổ quát”. Lấy một ví dụ so sánh: nếu một tấm biển ghi “winding road ahead”, chỉ những ai biết tiếng Anh mới hiểu được nội dung của biển đó.
- But those universal signs—showing a picture of a winding road—provide the “saññā” that the road ahead will be curvy.
Nhưng những biển báo mang tính phổ quát—chẳng hạn hình vẽ một con đường quanh co—lại cung cấp “saññā” rằng con đường phía trước sẽ ngoằn ngoèo.
- A second example shows a sign with a hand; that conveys the “saññā” để dừng lại.
Một ví dụ khác là biển báo có hình bàn tay; hình ảnh đó truyền đạt “saññā” rằng phải dừng lại.
- At a fundamental level, saññā means “recognition” of an object, person, or concept, i.e., getting “full comprehension” of what it is AND what it means.
Ở mức căn bản, saññā có nghĩa là sự “nhận diện” một đối tượng, con người hay khái niệm, tức là đạt được “sự hiểu biết trọn vẹn” về nó là gì VÀ nó có ý nghĩa gì.
- Whether one says “fire” in English, “ginna” in Sinhala, or “feu” in French, that will convey the “saññā of a fire.” Of course, a person MUST know to associate any of those words with “fire.” That is the saññā that comes to one’s mind when one hears either the word “fire,” “ginna,” or “feu.”
Dù người ta nói “fire” trong tiếng Anh, “ginna” trong tiếng Sinhala hay “feu” trong tiếng Pháp, thì những từ đó đều truyền đạt “saññā về lửa”. Tất nhiên, một người PHẢI biết gắn các từ đó với “lửa”. Chính saññā ấy khởi lên trong tâm khi người ta nghe một trong các từ “fire”, “ginna” hay “feu”.
- Those words do not mean anything to someone who does not speak those three languages. However, with the following picture, anyone will have the idea that it is about a fire or a flame.
Những từ ấy sẽ không có ý nghĩa gì đối với người không biết ba ngôn ngữ đó. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào hình ảnh minh họa sau, bất kỳ ai cũng sẽ có được ý niệm rằng đó là lửa hay ngọn lửa.
- As a child raised in an English-speaking household, one is taught that the word “fire” represents it. After that training, one will immediately get the “saññā or a mental image resembling the above picture” upon hearing the word “fire.”
Khi được nuôi dưỡng trong một gia đình nói tiếng Anh, một đứa trẻ được dạy rằng từ “fire” biểu thị cho lửa. Sau quá trình huấn luyện đó, khi nghe từ “fire”, người ấy sẽ lập tức khởi lên “saññā hay một hình ảnh trong tâm tương tự như hình minh họa ở trên”.
- Thus, associating a specific perception with a word requires “preconditioning.” One must have prior experience involving it.
Do đó, việc gắn một tri giác cụ thể với một từ ngữ đòi hỏi phải có sự “điều kiện hóa trước”. Một người phải có kinh nghiệm liên quan từ trước.
“Gods Must Be Crazy” Movie
Bộ phim “Thượng Đế Cũng Phải Cười”
- The 1980 comedy movie “The Gods Must Be Crazy” provides a good example of how saññā of a worldly object is established in mind via familiarity and experience (“preconditioning”).
Bộ phim hài năm 1980 “Thượng Đế Cũng Phải Cười” cung cấp một ví dụ rất hay về cách saññā đối với một vật thể thế gian được hình thành trong tâm thông qua sự quen thuộc và kinh nghiệm (“điều kiện hóa trước”).
- The movie stars Xi, a hunter-gatherer of the Kalahari Desert whose tribe discovers a glass Coca-Cola bottle dropped from an airplane.
Bộ phim xoay quanh nhân vật Xi, một người săn bắt – hái lượm ở sa mạc Kalahari, cùng bộ tộc của anh đã phát hiện ra một chai Coca-Cola bằng thủy tinh bị rơi từ máy bay xuống.
- Since the tribe is fully isolated from the modern world, they have no idea about Coke or even glass bottles. Thus, they were utterly confused when they saw the glass bottle. They initially thought it was a gift from the Gods.
Vì bộ tộc này hoàn toàn cách biệt với thế giới hiện đại, họ không hề biết Coca-Cola là gì, thậm chí cũng không biết đến chai thủy tinh. Do đó, khi nhìn thấy cái chai, họ vô cùng bối rối và ban đầu còn nghĩ rằng đó là món quà của các vị thần.
- The following clip, up to 1 minute, is enough to get the idea. The rest is related to other aspects of the movie storyline.
Đoạn phim ngắn sau đây, chỉ khoảng một phút, là đủ để nắm được ý chính. Phần còn lại liên quan đến các khía cạnh khác của cốt truyện.
WebLink: suttacentral: Coca-Cola bottle dropped from gods? | The Gods Must Be Crazy
- One must have prior experience with an object to identify it, i.e., to establish saññā about it!
Một người phải có kinh nghiệm trước đó với một đối tượng thì mới có thể nhận diện nó, tức là mới có thể thiết lập saññā về đối tượng ấy.
Saññā Is More Than Recognition
Saññā Không Chỉ Đơn Thuần Là Sự Nhận Diện
- Therefore, saññā is the “full picture/clarification that comes to mind instantaneously.”
Do đó, saññā chính là “toàn bộ bức tranh hay sự hiểu rõ trọn vẹn khởi lên trong tâm một cách tức thì”.
- In a more complex example, parents can teach a child (Y) that a particular person (X) is bad and not to talk to him (that is “preconditioning”). Whenever the child Y sees X, it instantly perceives him as a “bad person” and will try to avoid him.
Trong một ví dụ phức tạp hơn, cha mẹ có thể dạy cho đứa trẻ (Y) rằng một người nào đó (X) là xấu và không nên nói chuyện với người ấy (đó là “điều kiện hóa trước”).
Mỗi khi đứa trẻ Y nhìn thấy X, nó lập tức tri nhận X là một “người xấu” và sẽ cố tránh xa.
- However, X’s child (Z) most likely perceives X as a “loving father.”
Tuy nhiên, đứa con của X (Z) rất có thể lại tri nhận X là một “người cha thương yêu”.
- Therefore, two people will have very different perceptions (saññā) of person X. Recognition/perception is relative!
Do đó, hai người khác nhau có thể có những tri giác (saññā) hoàn toàn khác nhau về cùng một người X. Sự nhận diện/tri giác mang tính tương đối!
- Also, see “The Amazing Mind – Critical Role of Nāmagotta (Memories)” to understand how fast this perception/recognition happens.
Ngoài ra, hãy xem bài “The Amazing Mind – Critical Role of Nāmagotta (Memories)” để hiểu rõ tốc độ nhanh đến mức nào của tiến trình tri nhận/nhận diện này.
Based on Saññā, Vedanā Arise
Dựa trên Saññā, Vedanā Phát sinh
- In the above example, the sight of X leads to agitation/displeasure in the mind of child Y; in contrast, the sight of X leads to joy/pleasure in the mind of Z, X’s child.
Trong ví dụ trên, hình ảnh của X khiến tâm của đứa trẻ Y trở nên dao động/bất mãn; trái lại, hình ảnh của X lại dẫn đến niềm vui/sự dễ chịu trong tâm của Z, con của X.
- As a baby grows up, it learns to associate words and pictures with each object, person, and concept it experiences. This requires many parts of the brain to develop, so it takes a newborn several years to become fully functional in the world.
Khi một đứa trẻ lớn lên, nó học cách liên kết từ ngữ và hình ảnh với từng đối tượng, con người và khái niệm mà nó trải nghiệm. Điều này đòi hỏi nhiều phần của não bộ phải phát triển, vì vậy một trẻ sơ sinh cần nhiều năm để có thể hoạt động đầy đủ trong thế giới này.
- This is why babies take time to develop saññā about things: “Distorted Saññā Arises in Every Adult but Not in a Newborn.”
Đó là lý do vì sao trẻ sơ sinh cần thời gian để phát triển saññā về các sự vật: “Distorted Saññā Arises in Every Adult but Not in a Newborn.”
- In #5 and #6, we discussed the next level of saññā, which is more than just recognition. For example, when two people hear the name of a person X, they will have the picture of that person (or “saññā”) coming to their mind automatically. They would also recall specific qualities they had attached to that person through interactions with X. One may say, “It is my Dad. I love him so much.” Another would say, “Oh, he is a crook.”
Trong các mục #5 và #6, chúng ta đã bàn đến tầng mức tiếp theo của saññā, vượt lên trên sự nhận diện đơn thuần. Ví dụ, khi hai người nghe tên của một người X, hình ảnh của người đó (hay “saññā”) sẽ tự động hiện lên trong tâm họ. Đồng thời, họ cũng nhớ lại những phẩm chất cụ thể mà họ đã gán cho người ấy thông qua các tương tác với X. Một người có thể nói: “Đó là cha tôi. Tôi rất thương ông.” Người khác lại nói: “Ồ, hắn là một kẻ lừa đảo.”
- Then, based on that saññā, each will generate different feelings (vedanā) about X that can lead to attachment via like or dislike. That automatically creates good or bad conscious thoughts (mano saṅkhāra). If one keeps thinking about X, one will consciously generate more thoughts about X and may even speak out (vacī saṅkhāra). If the feelings get strong, kāya saṅkhāra may arise (leading to bodily actions).
Sau đó, dựa trên saññā đó, mỗi người sẽ khởi sinh những cảm thọ (vedanā) khác nhau đối với X, có thể dẫn đến sự dính mắc qua thích hay ghét. Điều này tự động tạo ra các tư duy có chủ ý thiện hoặc bất thiện (mano saṅkhāra). Nếu tiếp tục suy nghĩ về X, người ấy sẽ có ý thức tạo thêm nhiều ý nghĩ về X và thậm chí có thể nói ra (vacī saṅkhāra). Khi cảm thọ trở nên mạnh mẽ, kāya saṅkhāra có thể phát sinh (dẫn đến các hành động thân).
- Therefore, based on the same thought object, different people can get different saññā and thus may respond differently.
Vì vậy, dựa trên cùng một đối tượng tư duy, những người khác nhau có thể có những saññā khác nhau và do đó phản ứng khác nhau.
- Vedanā and saññā are interrelated. (Distorted) saññā built into our bodies gives rise to (mind-made) vedanā; both occur in Arahants, but their minds do not attach to such vedanā. See #6 of “Taṇhā – Result of Saññā Giving Rise to Mind-Made Vedanā.”
Vedanā và saññā có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Saññā (bị sai lệch) được tích hợp sẵn trong thân thể chúng ta làm phát sinh vedanā (do tâm tạo); cả hai đều xuất hiện nơi các bậc Arahant, nhưng tâm của các Ngài không dính mắc vào những vedanā đó. Xem mục #6 của “Taṇhā – Result of Saññā Giving Rise to Mind-Made Vedanā.”
“Distorted” Means “Not Correct”
“Sai lệch” Có Nghĩa Là “Không Đúng”
- I must emphasize that the word “distorted” DOES NOT mean “defiled” (with rāga, dosa, moha). The world is such that “distorted saññā” arises in anyone born in this world, including Arahants.
Tôi cần nhấn mạnh rằng từ “sai lệch” KHÔNG có nghĩa là “ô nhiễm” (bị chi phối bởi rāga, dosa, moha). Bản chất của thế giới này là “saññā sai lệch” khởi sinh nơi bất kỳ ai sinh ra trong thế giới ấy, kể cả các bậc Arahant.
- “Distorted saññā” arises automatically upon receiving a sensory input. For example, “sweetness of honey” is a distorted saññā, and Arahants also taste honey as sweet. This is called “rasa paṭisaṁvedī” in a “tasting event.”
“Saññā sai lệch” tự động khởi lên khi có một tiếp xúc giác quan. Ví dụ, “vị ngọt của mật ong” là một saññā sai lệch, và các bậc Arahant cũng cảm nhận mật ong là ngọt. Điều này được gọi là “rasa paṭisaṁvedī” trong một “sự kiện nếm vị”.
- Within a split second, that “taste of honey” makes a puthujjana’s mind attach to it. This is the next step, called “rasa rāga paṭisaṁvedī.” This second step does not occur in Arahant’s mind. See #9 in “Sandiṭṭhiko – What Does It Mean?.”
Chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn, “vị ngọt của mật ong” khiến tâm của một puthujjana dính mắc vào nó. Đây là bước kế tiếp, gọi là “rasa rāga paṭisaṁvedī”. Bước thứ hai này không xảy ra trong tâm của bậc Arahant. Xem mục #9 trong “Sandiṭṭhiko – What Does It Mean?.”
- At the Sotāpanna stage, one becomes a “sandiṭṭhiko” (“who knows how a mind becomes contaminated/defiled”) by understanding this key idea: A mind can stop this automatic attachment via “rāga” (“kāma rāga” for humans) by cleansing the mind. The “mind-cleansing” involves comprehension of the contamination process!
Ở giai đoạn Sotāpanna, một người trở thành “sandiṭṭhiko” (“người biết rõ cách tâm bị ô nhiễm/bị làm nhiễm”) nhờ hiểu được điểm then chốt này: tâm có thể chặn đứng sự dính mắc tự động thông qua “rāga” (“kāma rāga” đối với con người) bằng cách thanh lọc tâm. Việc “thanh lọc tâm” này bao hàm sự thấu hiểu tiến trình ô nhiễm của tâm.
- See “Sandiṭṭhiko – What Does It Mean?.”
Xem “Sandiṭṭhiko – What Does It Mean?.”
- The Buddha taught that anyone born into this world would have “built-in wrong saññā.” Our physical and mental bodies both have such “distorted saññā.” See “Fooled by Distorted Saññā (Sañjānāti) – Origin of Attachment (Taṇhā).”
Đức Phật dạy rằng bất kỳ ai sinh ra trong thế giới này đều có “saññā sai lệch được tích hợp sẵn”. Cả thân thể vật chất lẫn thân tâm của chúng ta đều mang những “saññā sai lệch” như vậy. Xem “Fooled by Distorted Saññā (Sañjānāti) – Origin of Attachment (Taṇhā).”
- However, there is no attachment yet in that instant of getting the “distorted saññā.” Arahants, who have understood the origin of that “distorted saññā,” are not fooled by it; their minds do not attach to it.
Tuy nhiên, ngay tại khoảnh khắc tiếp nhận “saññā sai lệch” đó, vẫn chưa có sự dính mắc. Các bậc Arahant, do đã hiểu rõ nguồn gốc của “saññā sai lệch”, không bị nó đánh lừa; tâm của các Ngài không dính mắc vào đó.
- On the other hand, the main reason a puthujjana engages in immoral activities is that “distorted saññā.” If one or more of the ten saṁyojana remain intact, a mind could attach to that “distorted saññā” without conscious thinking.
Mặt khác, nguyên nhân chính khiến một puthujjana thực hiện các hành vi bất thiện chính là “saññā sai lệch”. Nếu một hay nhiều trong mười saṁyojana vẫn còn tồn tại, tâm có thể dính mắc vào “saññā sai lệch” đó mà không cần đến suy nghĩ có ý thức.
- When all ten saṁyojana are removed at the Arahant stage, that cleansed mind will never again attach to a pleasant or unpleasant vedanā brought in by the “distorted saññā.”
Khi cả mười saṁyojana được đoạn trừ ở giai đoạn Arahant, tâm đã được thanh tịnh ấy sẽ không bao giờ còn dính mắc vào các vedanā dễ chịu hay khó chịu do “saññā sai lệch” mang lại.
Types of Saññā Present in Kāma, Rūpa, and Arūpa Loka
Các Loại Saññā Hiện hữu trong Kāma Loka, Rūpa Loka và Arūpa Loka
- We can gain some insights into saññā by comparing the types of saññā present in kāma loka (where the lowest eleven realms are located), with only one kind of saññā present in any of the four realms in arūpa loka.
Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về saññā bằng cách so sánh các loại saññā hiện hữu trong kāma loka (nơi có mười một cõi thấp nhất) với việc chỉ có một loại saññā duy nhất hiện hữu trong mỗi cõi thuộc arūpa loka.
- Our feelings arise based on sight, sound, taste, smell, or physical touch. In addition, memories of past experiences with them can trigger feelings (good or bad). We live in kāma loka and have all six sense faculties (eyes, ears, tongue, nose, physical body, mind).
Các cảm thọ của chúng ta phát sinh dựa trên thấy, nghe, nếm, ngửi hay xúc chạm thân. Ngoài ra, ký ức về những trải nghiệm quá khứ liên quan đến các giác quan ấy cũng có thể khơi dậy cảm thọ (tốt hay xấu). Chúng ta sống trong kāma loka và có đủ sáu căn: mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý.
- In contrast, arūpa loka Brahmās have only the mind; they do not have a solid physical body and, thus, cannot see, hear, taste, smell, or touch; in other words, they don’t generate saññā/vedanā associated with sight, sound, taste, smell, or physical touch.
Trái lại, các Brahmā trong arūpa loka chỉ có tâm; họ không có thân vật chất thô nên không thể thấy, nghe, nếm, ngửi hay xúc chạm. Nói cách khác, họ không khởi sinh saññā/vedanā liên quan đến thấy, nghe, nếm, ngửi hay xúc chạm thân.
- Even though we say arūpa loka Brahmās can recall memories, they cannot recall memories (say, from past lives) associated with sights, sounds, tastes, smells, or physical touches because they don’t have saññā about such sensory inputs.
Mặc dù nói rằng các Brahmā ở arūpa loka có thể nhớ lại ký ức, nhưng họ không thể nhớ các ký ức (chẳng hạn từ những đời trước) liên quan đến hình sắc, âm thanh, mùi vị hay xúc chạm thân, vì họ không có saññā về những dữ liệu giác quan ấy.
- The four realms of arūpa loka are located well above the Earth’s surface. They don’t have a physical environment with sights, sounds, etc.
Bốn cõi của arūpa loka nằm rất xa phía trên bề mặt Trái Đất. Chúng không có môi trường vật chất với hình sắc, âm thanh, v.v.
- Even if an arūpa loka Brahma visits the human world, they would not have any recognition/perception of sights, sounds, etc.
Ngay cả khi một vị Brahmā ở arūpa loka “đến” thế giới loài người, họ cũng sẽ không có bất kỳ sự nhận diện/tri giác nào đối với hình sắc, âm thanh, v.v.
- Arūpa loka Brahmās have only one type of saññā. For example, those in the Ākāsānañcāyatana realm have their minds mainly focused on “infinite space.”
Các Brahmā ở arūpa loka chỉ có một loại saññā. Ví dụ, những vị ở cõi Ākāsānañcāyatana có tâm chủ yếu an trú nơi “không gian vô biên”.
- When human yogis enter the first arūpa samāpatti, their minds are also focused on “infinite space” (just like arūpa loka Brahmās) and nothing else. While in that samāpatti, a human yogi cannot experience sights, sounds, tastes, smells, or physical touches; i.e., saññā of such sense inputs do not register in their minds.
Khi các yogi loài người nhập vào arūpa samāpatti thứ nhất, tâm của họ cũng tập trung vào “không gian vô biên” (giống như các Brahmā ở arūpa loka) và không có gì khác. Trong trạng thái samāpatti đó, yogi không thể trải nghiệm hình sắc, âm thanh, mùi vị hay xúc chạm thân; tức là saññā của các dữ liệu giác quan ấy không ghi nhận trong tâm.
- The 16 realms in rūpa loka experience sights and sounds but not taste, smell, or physical touch.
Mười sáu cõi trong rūpa loka có trải nghiệm về hình sắc và âm thanh, nhưng không có nếm, ngửi hay xúc chạm thân.
- Thus, they experience more types of saññā than the four realms in arūpa loka but less than in kāma loka.
Do đó, họ trải nghiệm nhiều loại saññā hơn bốn cõi arūpa loka, nhưng ít hơn so với kāma loka.
- Even though they experience sights and sounds, those do not trigger kāma rāga in rūpa loka Brahmas since they have no perception of taste, smell, and touch (including sex).
Mặc dù có trải nghiệm về hình sắc và âm thanh, những điều này không khơi dậy kāma rāga nơi các Brahmā ở rūpa loka, vì họ không có tri giác về mùi vị, xúc chạm (bao gồm cả tình dục).
Kāma Saññā Lead to the Worst Attachments
Kāma Saññā Dẫn Đến Những Sự Dính Mắc Nặng Nề Nhất
- For humans and Devās (in “kāma loka”), the “kāma saññā” is responsible for many immoral thoughts, words, and actions that can bring potent vipāka. In contrast, “rūpa saññā” and “arūpa saññā” in rūpa and arūpa loka realms do not lead to future rebirths; see #10 and #11 in “Loka and Nibbāna (Āloka) – Complete Overview.”
Đối với loài người và các Devā (trong “kāma loka”), “kāma saññā” là nguyên nhân của nhiều ý nghĩ, lời nói và hành động bất thiện, có thể đưa đến những vipāka mạnh mẽ. Trái lại, “rūpa saññā” và “arūpa saññā” trong các cõi rūpa loka và arūpa loka không dẫn đến tái sinh trong tương lai; xem mục #10 và #11 trong “Loka and Nibbāna (Āloka) – Complete Overview.”
- Those are deeper aspects pointed out in the series of posts in the “Worldview of the Buddha” section.
Đó là những khía cạnh sâu xa hơn được nêu ra trong loạt bài thuộc phần “Worldview of the Buddha”.
- To understand such posts, one must first realize that our perceptions of the external world are incorrect, i.e., all average humans have “distorted/wrong saññā.” See “Fooled by Distorted Saññā (Sañjānāti) – Origin of Attachment (Taṇhā).”
Để hiểu được những bài viết như vậy, trước hết cần nhận ra rằng các tri giác của chúng ta về thế giới bên ngoài là không đúng, tức là mọi con người phàm tục đều có “saññā sai/sai lệch”. Xem “Fooled by Distorted Saññā (Sañjānāti) – Origin of Attachment (Taṇhā).”
- The availability of all six senses in kāma loka leads to the availability of six types of major “saññā categories” and, thus, many avenues for “mind corruption” as stated in the “WebLink: suttacentral: Saññā Sutta (SN 27.6).”
Việc có đầy đủ sáu căn trong kāma loka dẫn đến sự hiện hữu của sáu loại “nhóm saññā” chính, và do đó mở ra nhiều con đường cho sự “băng hoại của tâm”, như được nêu trong “WebLink: suttacentral: Saññā Sutta (SN 27.6).”
- Within those six major categories, there are numerous types of saññā.
Trong sáu nhóm chính đó, có vô số loại saññā khác nhau.
- All these types of saññā lead to “mind corruption” and trigger Paṭicca Samuppāda cycles, which lead to direct (within this life) and indirect suffering (in future lives); see “WebLink: suttacentral: Saññā Sutta (SN 26.6).”
Tất cả các loại saññā này đều dẫn đến “băng hoại của tâm” và kích hoạt các chu trình Paṭicca Samuppāda, từ đó đưa đến khổ đau trực tiếp (ngay trong đời này) và gián tiếp (trong các đời tương lai); xem “WebLink: suttacentral: Saññā Sutta (SN 26.6).”
- Out of those six categories, the five types of saññā (for sights, sounds, tastes, smells, or physical touches) associated with beings with (relatively) dense physical bodies in kāma loka are bundled together as “kāma saññā.”
Trong sáu nhóm đó, năm loại saññā (liên quan đến thấy, nghe, nếm, ngửi và xúc chạm thân) gắn với các chúng sinh có thân vật chất (tương đối) thô nặng trong kāma loka được gom chung lại thành “kāma saññā”.
- Such “kāma saññā” leads to two other types of saññā associated with only the kāma loka, i.e., byāpāda saññā (which triggers aversion/anger) and vihiṁsā saññā (which triggers thoughts of hurting others). See “WebLink: suttacentral: Saññā Sutta (AN 6.110).”
Những “kāma saññā” như vậy lại dẫn đến hai loại saññā khác chỉ đặc thù cho kāma loka, đó là byāpāda saññā (kích hoạt sự chống đối/sân hận) và vihiṁsā saññā (kích hoạt ý nghĩ làm tổn hại người khác). Xem “WebLink: suttacentral: Saññā Sutta (AN 6.110).”
- Thus, “kāma saññā” is responsible for most akusala kamma that generate kammic energies to power future existences, i.e., to extend the rebirth process.
Vì vậy, “kāma saññā” chịu trách nhiệm cho phần lớn akusala kamma, những kamma tạo ra năng lực kamma để vận hành các sự hiện hữu trong tương lai, tức là kéo dài tiến trình tái sinh.
Saññā Is a Critical Concept
Saññā là một Khái Niệm Then Chốt
- Understanding the concept of saññā is necessary to get onto AND progress on the Noble Path.
Hiểu rõ khái niệm saññā là điều cần thiết để có thể bước vào VÀ tiến triển trên Thánh Đạo.
- I recommend reading the following posts, which discuss various aspects of saññā. Please feel free to ask questions in the forum by referring to the specific post and bullet numbers. They are roughly in increasing difficulty.
Tôi khuyến nghị đọc các bài viết sau đây, trình bày nhiều khía cạnh khác nhau của saññā. Xin cứ thoải mái đặt câu hỏi trên diễn đàn, nêu rõ bài viết và số mục cụ thể. Các bài này được sắp xếp theo mức độ khó tăng dần.
- Try to capture the basic concept by focusing on posts that seem easier at first.
Hãy cố gắng nắm bắt ý niệm căn bản bằng cách tập trung vào những bài có vẻ dễ hơn lúc ban đầu.
Cognition Modes – Sañjānāti, Vijānāti, Pajānāti, Abhijānāti; Saññā Vipallāsa – Distorted Perception; Saññā – All Our Thoughts Arise With “Distorted Saññā”; Fooled by Distorted Saññā (Sañjānāti) – Origin of Attachment (Taṇhā); Distorted Saññā Arises in Every Adult but Not in a Newborn; Saññā Nidāna hi Papañca Saṅkhā – Immoral Thoughts Based on “Distorted Saññā”; Ārammaṇa (Sensory Input) Initiates Critical Processes; Saññā Gives Rise to Most of the Vedanā We Experience; A Sensory Input Triggers (Distorted) Saññā and Pañcupādānakkhandha; Kāma Saññā – How to Bypass to Cultivate Satipaṭṭhāna.
Các Phương Thức Nhận Thức – Sañjānāti, Vijānāti, Pajānāti, Abhijānāti; Saññā Vipallāsa – Tri giác Sai lệch; Saññā – Mọi Ý Nghĩ Của Chúng Ta Đều Khởi Lên Cùng Với “Saññā Sai Lệch”; Bị Đánh Lừa Bởi Saññā Sai Lệch (Sañjānāti) – Nguồn gốc của Dính mắc (Taṇhā); Saññā Sai Lệch Khởi Lên Nơi Mọi Người Trưởng Thành Nhưng Không Có Ở Trẻ Sơ Sinh; Saññā Nidāna hi Papañca Saṅkhā – Tư Duy Bất Thiện Dựa Trên “Saññā Sai Lệch”; Ārammaṇa (Dữ Liệu Giác Quan) Khởi Phát Các Tiến Trình Then Chốt; Saññā Làm Phát Sinh Phần Lớn Vedanā Mà Chúng Ta Trải Nghiệm; Một Dữ Liệu Giác Quan Kích Hoạt Saññā (Sai lệch) và Pañcupādānakkhandha; Kāma Saññā – Cách Vượt Qua Để Tu Tập Satipaṭṭhāna.
