Does Bodily Pain Arise Only Due to Kamma Vipāka? / Đau Thân Có Phải Chỉ Sinh Do Kamma Vipāka?

January 12, 2018; revised November 23, 2023 (#1)

Ngày 12/1/2018; sửa ngày 23/11/2023 (#1)

  1. Vedanā can be categorized into five types (WebLink: suttacentral: Paṭhama Vibhaṅga Sutta (SN 48.36)):

Vedanā có thể được phân thành năm loại (xem WebLink: suttacentral: Paṭhama Vibhaṅga Sutta (SN 48.36)):

  • Two felt by the body (called kāyikaṁ sukhaṁ and kāyikaṁ dukkhaṁ in the above Sutta @ markers 2.2 and 3.2) and are “real,” not mind-made: sukha (bodily pleasure) and dukkha (bodily pain). Of course, they arise only if there is a dense, physical body. Devās and Brahmās don’t experience those since they have less dense “subtle bodies.”

Hai loại được cảm nhận qua thân (được gọi là kāyikaṁ sukhaṁ và kāyikaṁ dukkhaṁ trong Sutta ở các mục 2.2 và 3.2) và chúng “thật” — không phải do tâm tạo: sukha (lạc thọ thân) và dukkha (khổ thọ thân). Tất nhiên, chúng chỉ sinh khi có thân vật lý thô. Devā và Brahmā không trải nghiệm loại này vì thân của họ vi tế hơn.

  • All others are generated by the mind (“cetasikaṁ sukhaṁ” and “cetasikaṁ dukkhaṁ” in the above Sutta) due to one’s gati: somanassa (joy) and domanassa (misery).
    Tất cả các loại còn lại đều do tâm tạo (“cetasikaṁ sukhaṁ” và “cetasikaṁ dukkhaṁ” trong Sutta), tùy theo gati của mỗi người: somanassa (hỷ) và domanassa (ưu).
  • Neutral: adukkhama sukha (without pain or pleasure) or upekkha (without somanassa or domanassa). In the Sutta it is stated @ marker 6.1: “Katamañca, bhikkhave, upekkhindriyaṁ? Yaṁ kho, bhikkhave, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā nevasātaṁ nāsātaṁ vedayitaṁ—idaṁ vuccati, bhikkhave, upekkhindriyaṁ.”

Trung tính: adukkhama-asukha (không khổ, không lạc) hay upekkhā (không hỷ, không ưu). Trong Sutta, mục 6.1 ghi: “Này các bhikkhu, thế nào là upekkhindriya? Này các bhikkhu, bất kỳ vedanā nào — thân hay tâm — không lạc không khổ, được gọi là upekkhindriya.”

  • Kāyika sukha and dukkha are also experienced by the mind, but they come through the body as direct results of the previous kammā, as discussed below.

Kāyika sukha và dukkha cũng được tâm cảm nhận, nhưng chúng đến qua thân như là kết quả trực tiếp của các kammā trong quá khứ, như sẽ được bàn dưới đây.

  1. As clearly stated in the “WebLink: suttacentral: Nakulapitu Sutta (SN 22.1)”:

Như được nêu rõ trong “WebLink: suttacentral: Nakulapitu Sutta (SN 22.1)”:

  • Those vedanā generated by the mind do not arise in Arahants. They are “samphassa jā vedanā”; see, “Vedanā (Feelings) Arise in Two Ways,” and at a deeper level “Vedanā and Samphassa-Jā-Vedanā – More Than Just Feelings.”

Các vedanā do tâm tạo không sinh nơi Arahant. Chúng là “samphassa-jā vedanā”; xemVedanā (Feelings) Arise in Two Ways” và sâu hơn trong “Vedanā and Samphassa-Jā-Vedanā – More Than Just Feelings.”

  • Arahants do experience those two felt by the body due to kammā vipāka.

Arahant vẫn trải nghiệm hai vedanā thân do kammā vipāka.

  • This is also explained in the “WebLink: suttacentral: Salla Sutta (SN 36.6),” saying that while an average human experiences both types of vedanā when pierced by a spear (including “samphassa jā vedanā”), an Arahant experiences only the “direct vedanā” caused by the wound.

Điều này cũng được giải thích trong “WebLink: suttacentral: Salla Sutta (SN 36.6),” trong khi người bình thường bị đâm bằng giáo sẽ trải nghiệm cả hai loại vedanā (kể cả “samphassa-jā vedanā”), một Arahant chỉ trải nghiệm “vedanā trực tiếp” do vết thương gây ra.

Only the Vedanā Due to Physical Body Are “Real”

Chỉ Các Vedanā Do Thân Vật Lý Tạo Ra Là “Thật”

  1. This is why, in Abhidhamma, all sensory inputs via the other five sense inputs (other than the physical body) are initially felt as upekkhā (neutral) vedanā. Only the bodily sense inputs could lead to dukkha vedanā (getting injured, headaches, cancer, etc) or sukha vedanā (good massage, lying on a comfortable bed, etc).

Đây là lý do trong Abhidhamma, tất cả cảm nhận qua năm giác quan còn lại (ngoài thân) ban đầu đều được cảm nhận như upekkhā (vedanā trung tính). Chỉ cảm thọ qua thân mới dẫn đến dukkha vedanā (như bị thương, đau đầu, ung thư, v.v.) hoặc sukha vedanā (như được mát-xa, nằm trên giường êm).

  • When we generate joy upon seeing something we like, for example, it is a neutral vedanā. We generate joy via “samphassa jā vedanā” based on our gati.

Khi chúng ta sinh hoan hỷ khi thấy điều mình ưa thích, cảm thọ ban đầu thực chất là một vedanā trung tính. Niềm hoan hỷ ấy do ta tự tạo qua “samphassa-jā vedanā” tùy theo gati của chính mình.

  • A good example is seeing a well-known politician. Some people generate good feelings and others may generate bad feelings; but it is the same person they were all looking at. The joy or disgust was not in the politician, it was within the observer. One may need to contemplate this and let the idea sink in. It is an important point. It holds for any sensory input other than the bodily sense inputs (except kāma guna,
    discussed in #6 below).

Một ví dụ điển hình là khi thấy một chính trị gia nổi tiếng. Có người sinh cảm thọ hỷ, có người sinh cảm thọ bất hỷ; nhưng tất cả đều nhìn cùng một con người. Niềm vui hay sự chán ghét không nằm nơi chính trị gia, mà nằm trong người quan sát. Ta cần quán chiếu để thấm sâu điều này. Đây là điểm rất quan trọng. Nó đúng với mọi đối tượng giác quan ngoài các cảm thọ do thân (trừ kāma guna, sẽ được thảo luận ở mục #6 bên dưới).

  1. Regarding Abhidhamma, most people use the book “WebLink: PDF file download: Bhikkhu Bodhi – Comprehensive Manual of Abhidhamma,” by Bhikkhu Bodhi (2000, PDF 2012). This is the English translation of the “Abhidhammattha Sangaha,” a commentary to the Abhidhamma Piṭaka in the Tipiṭaka, by Acariya Anuruddha, who lived around the same time as Acariya Buddhaghosa, who wrote the commentary Visuddhimagga.

Về Abhidhamma, đa số người dùng sách WebLink: PDF file download: Bhikkhu Bodhi – Comprehensive Manual of Abhidhamma,” của Bhikkhu Bodhi (2000, PDF 2012). Đây là bản dịch tiếng Anh của “Abhidhammattha Sangaha,” một bộ luận về Abhidhamma Piṭaka trong Tipiṭaka, do Acariya Anuruddha trước tác, sống cùng thời với Acariya Buddhaghosa — tác giả Visuddhimagga.

  • Both these recent commentaries have material inconsistent with the Tipiṭaka; see, “Incorrect Theravāda Interpretations – Historical Timeline.”

Cả hai bộ luận này đều có những nội dung không nhất quán với Tipiṭaka; xem “Incorrect Theravāda Interpretations – Historical Timeline.”

Sách “Comprehensive Manual of Abhidhamma” cũng được thảo luận tại diễn đàn với bài: “WebLink: Pure Dhamma Forums: Comprehensive Manual of Abhidhamma (Bhikkhu Bodhi) – Grave Error on p. 164.”

  1. Going back to our original discussion, the critical point from Abhidhamma is that only bodily sensory inputs (experienced via the physical body) can bring in sukha (pleasant) or dukha (unpleasant or painful) bodily

Quay lại chủ đề chính, điểm quan trọng trong Abhidhamma là: chỉ các cảm thọ qua thân (trải nghiệm qua thân vật lý) mới có thể sinh sukha (lạc thân) hoặc dukkha (khổ thân).

  • In other words, when we experience joy (upon seeing a loved one) and dislike (upon seeing an enemy), both are mind-made; the same is true for taste, sounds, and smell. The same is true for dhammā that comes to the mind (recalling past events or expectations for the future).

Nói cách khác, khi ta sinh hoan hỷ (khi thấy người thân) hay không thích (khi thấy kẻ thù), cả hai đều do tâm tạo; điều này cũng đúng với vị, âm thanh và mùi. Dhammā sinh khởi trong tâm (như các hồi ức hoặc kỳ vọng tương lai) cũng vậy.

  • However, kāyika sukha or kāyika dukkha arises from injuries and sicknesses (headaches, cancer, etc.) and is thus “real.”

Tuy nhiên, kāyika sukha hay kāyika dukkha sinh từ chấn thương hoặc bệnh tật (đau đầu, ung thư, v.v.) và vì thế là “thật.”

  • We have discussed these in various posts, but I wanted to find a couple of Suttā where this is clearly stated concisely. Those are given in #1 and #2 above.

Chúng ta đã bàn điều này trong nhiều bài viết, nhưng ở đây có vài Sutta trình bày rõ ràng và ngắn gọn, như trong mục #1 và #2 phía trên.

Vedanā Can be Analyzed in Many Ways

Vedanā Có Thể Được Phân Tích Theo Nhiều Cách

  1. It must also be stated that the Buddha has described vedanā as two types to 108 types depending on the analysis; see, for example, “WebLink: suttacentral: Bahuvedanīya Sutta (MN 59).” For this discussion, the five types are appropriate.

Cũng cần nói thêm rằng Đức Phật đã mô tả vedanā từ 2 loại đến 108 loại tùy theo cách phân tích; xem “WebLink: suttacentral: Bahuvedanīya Sutta (MN 59).” Trong thảo luận này, năm loại là phù hợp nhất.

  • Another complexity involved is due to sensory experiences that arise as part of a being’s bhava (yet at the root still determined by kammā), which are called “kāma guna”; see “Kāma Rāga Dominates Rūpa Rāga and Arūpa Rāga.” This is also mentioned in the above Sutta.

Một sự phức tạp khác là cảm thọ giác quan phát sinh như một phần của bhava (nhưng gốc rễ vẫn được quyết định bởi kammā), gọi là “kāma guna”; xem “Kāma Rāga Dominates Rūpa Rāga and Arūpa Rāga.” Điều này cũng được đề cập trong Sutta nêu trên.

  • For example, dogs and pigs eat feces because they taste such things as tasty. Humans, in general, taste sugar as sweet and salty as salty, etc. Those are kāma guna associated with each bhava; an Arahant would taste them the same way.

Ví dụ, chó và heo ăn phân vì chúng cảm nhận vị đó là ngon. Con người, nói chung, cảm nhận đường là ngọt và muối là mặn. Đây là kāma guna của từng bhava; một Arahant cũng sẽ cảm nhận vị như vậy.

  1. Everything in this world arises with the mind as the root cause. That is what is meant by the Dhammapada gāthā: “mano pubbangamā dhammā, mano setta manomayā…” See “Manopubbangamā dhammā…

Mọi thứ trong thế giới này sinh khởi với tâm làm nhân gốc. Đó là ý nghĩa của câu kệ Dhammapada: “mano pubbaṅgamā dhammā, mano setthā manomayā…” Xem “Manopubbangamā dhammā…”

  • At the very fundamental level, those “kammā bīja” or “kammic energy” have their root in javana citta with one or more of the six root causes: lobha, dosa, moha, and alobha, adosa, amoha.

Ở mức nền tảng, những “kammā bīja” hay “năng lượng kammā” có gốc trong các javana citta với một hay nhiều trong sáu nguyên nhân gốc: lobha, dosa, moha, và alobha, adosa, amoha.

  • It is also important to realize that the three types of kammā are done by mano, vacī, and kāya saṅkhāra: “Saṅkhāra – What It Really Means.” [Three types of kammā done through the saṅkhāra paccayā viññāṇa where viññāṇa dhātu (nine stages
    of a thought – citta mano mānasaṁ hadayaṁ paṇḍaraṁ … viññāṇa viññāṇakkhandha
    tajjāmanoviññāṇadhātu
    ) is created.]

Điều quan trọng nữa là ba loại kammā được thực hiện qua mano, vacī và kāya saṅkhāra: xem “Saṅkhāra – What It Really Means.” [Ba loại kammā được làm qua tiến trình saṅkhāra paccayā viññāṇa, nơi viññāṇa dhātu (chín giai đoạn của một tiến trình tư tưởng — citta, mano, mānasaṁ, hadayaṁ, paṇḍaraṁ … viññāṇa, viññāṇakkhandha, tajjāmanoviññāṇadhātu) được tạo thành.]

We Do New Kamma Based on Kamma Vipāka

Chúng Ta Tạo Kamma Mới Dựa Trên Kamma Vipāka

  1. This vicious cycle of “vipāka” leading to new “kammā” (via acting with avijjā), which in turn leads to more “vipāka”, is the process that binds us to the saṁsāra of endless rebirths, or perpetuates our “world” of suffering; see, “How Are Paṭicca Samuppāda Cycles Initiated?.”

Vòng luẩn quẩn này, trong đó “vipāka” dẫn đến “kammā” mới (thông qua hành động với avijjā), rồi lại dẫn đến nhiều “vipāka” hơn nữa, chính là tiến trình trói buộc chúng ta vào saṁsāra của những tái sinh vô tận, hay duy trì “thế giới” đầy khổ đau; xem “How Are Paṭicca Samuppāda Cycles Initiated?.”

  • The Buddha described this as, “kammā vipākā vaddanti, vipāko kammā sambhavo, tasmā punabbhavo hoti, evan loko pavattati.”

Đức Phật đã mô tả điều này như sau: “kammā vipākā vaddanti, vipāko kammā sambhavo, tasmā punabbhavo hoti, evan loko pavattati.”

  • That means, “kammā lead to vipāka, vipāka, in turn, lead to kammā and thus to rebirth (punabbhavo), and that is how the world (existence) is maintained.”

Điều đó có nghĩa là: “kammā dẫn đến vipāka; vipāka, đến lượt nó, lại dẫn đến kammā và do đó dẫn đến tái sinh (punabbhavo); và đó là cách mà thế giới (sự hiện hữu) được duy trì.”

  • Here, “sambhava” is “saŋ” + “bhava,” or “adding more existences.” Also, “loka” is world and “pavatta” means “maintain.”

Ở đây, “sambhava” là “saŋ” + “bhava”, nghĩa là “gia tăng thêm các sự hiện hữu”. Ngoài ra, “loka” là thế giới và “pavatta” có nghĩa là “duy trì”.

  1. However, the working of kammā/kamma vipāka is NOT deterministic. Just because one has done an evil (or good) deed in the past, that DOES NOT mean one would get the corresponding result (bad or good); see, “What is Kamma? – Is Everything Determined by Kamma?.”

Tuy nhiên, sự vận hành của kammā/kamma vipāka KHÔNG mang tính định mệnh cứng nhắc. Chỉ vì một người đã làm một hành động xấu (hay tốt) trong quá khứ không có nghĩa là người đó chắc chắn sẽ nhận kết quả tương ứng (xấu hay tốt); xem “What is Kamma? – Is Everything Determined by Kamma?.”

  • This is because “conditions” are a crucial aspect of Paṭicca Samuppāda (cause and effect) in Buddha Dhamma. Just because there are causes (kammā bīja), the corresponding vipāka does not take place unless suitable conditions come into play; see, “How Are Paṭicca Samuppāda Cycles Initiated?” and “Paṭṭhāna Dhammā.”

Điều này là vì “duyên” là một yếu tố then chốt của Paṭicca Samuppāda (nhân–quả) trong Dhamma của Đức Phật. Chỉ vì có các nguyên nhân (kammā bīja) không có nghĩa là vipāka tương ứng sẽ xảy ra, trừ khi các điều kiện thích hợp hội đủ; xem “How Are Paṭicca Samuppāda Cycles Initiated?” và “Paṭṭhāna Dhammā.”

Things Happen Due to Causes and Conditions

Mọi Sự Việc Xảy Ra Do Nhân và Duyên

  1. On the other hand, things DO NOT just happen. One or more causes MUST be the root cause for a good (or harmful) effect. Therefore, a kammā, vipāka (the result of a past kamma) is ALWAYS needed to act as the cause.

Mặt khác, mọi việc KHÔNG tự nhiên mà xảy ra. Một hay nhiều nguyên nhân PHẢI là căn nguyên của một kết quả tốt (hoặc có hại). Do đó, LUÔN LUÔN cần có một kammā, vipāka (kết quả của một kamma trong quá khứ) đóng vai trò là nguyên nhân.

  • The above is an important point, so let me give an example. When someone gets a headache or cancer, that is a bodily vedanā arising solely due to a kammā vipāka, and one’s action at that time does not come into play. Of course, one can take subsequent actions to either alleviate that problem or even to get rid of it; that is where “conditions” play a role. See #5 through the end of “What is Kamma? – Does Kamma determine Everything?.”

Điểm trên rất quan trọng, nên hãy xét một ví dụ. Khi một người bị đau đầu hay ung thư, đó là một vedanā thân phát sinh hoàn toàn do kammā vipāka, và hành động của người ấy tại thời điểm đó không trực tiếp tạo ra nó. Tất nhiên, người đó có thể thực hiện các hành động tiếp theo để làm giảm nhẹ vấn đề hoặc thậm chí loại bỏ nó; đó là nơi mà “duyên” đóng vai trò. Xem từ mục #5 cho đến hết bài “What is Kamma? – Does Kamma determine Everything?.”

  • Some kamma vipāka may not have a specific single cause. Those happen because we are born with this physical body via a kamma vipāka.

Một số kamma vipāka có thể không có một nguyên nhân đơn lẻ cụ thể. Chúng xảy ra vì chúng ta sinh ra với thân thể vật chất này thông qua một kamma vipāka.

  • On the other hand, one may encounter sufferings that are not directly due to kammā vipāka. For example, one may have breathing problems because one’s body has excess phlegm (semha). So, it appears that the cause of breathing problems is excess phlegm. But there is a root cause for phlegm to be present at high levels in one’s body, and that is a past kammā. The same is valid for bile (pita), gas (vāta), body fluids (sannipāta), climate change (utu), careless behavior (visama), and others’ harmful actions (opakkama).

Mặt khác, một người có thể gặp những khổ đau không trực tiếp do kammā vipāka. Ví dụ, một người có thể bị khó thở vì trong cơ thể có quá nhiều đàm (semha). Khi đó, dường như nguyên nhân của vấn đề hô hấp là do dư thừa đàm. Nhưng vẫn có một nguyên nhân gốc rễ khiến đàm tồn tại ở mức cao trong cơ thể, và đó là một kammā trong quá khứ. Điều này cũng đúng đối với mật (pita), gió (vāta), các dịch trong cơ thể (sannipāta), biến đổi khí hậu (utu), hành vi bất cẩn (visama), và hành động gây hại của người khác (opakkama).

  1. There are three Suttā (SN 36.21, AN 5.104, and AN 10.60) that the reader Siebe mentioned in the discussion forum (“Could Bodily Pain be due Causes Other Than Kamma Vipāka?”), that list eight such possible “secondary causes” for bodily pain.

Có ba bài Suttā (SN 36.21, AN 5.104 và AN 10.60) mà độc giả Siebe đã nhắc đến trong diễn đàn thảo luận (“Could Bodily Pain be due Causes Other Than Kamma Vipāka?”), trong đó liệt kê tám “nguyên nhân thứ cấp” có thể có của đau đớn thân thể.

  • One should read that discussion topic to get a good understanding of how this discussion evolved, but let me briefly describe the background.

Độc giả nên đọc toàn bộ chủ đề thảo luận đó để hiểu rõ quá trình phát triển của cuộc trao đổi, nhưng ở đây tôi sẽ trình bày ngắn gọn phần bối cảnh.

  1. Those other seven “causes” (except kammā) are not root causes. They all have past kammā as the root cause. Nothing in this world happens without a connection somewhere to the six root causes: lobha, dosa, moha, and alobha, adosa, amoha.

Bảy “nguyên nhân” còn lại (ngoại trừ kammā) không phải là nguyên nhân gốc rễ. Tất cả chúng đều có kammā trong quá khứ làm nguyên nhân căn bản. Không có điều gì trong thế giới này xảy ra mà không có mối liên hệ nào đó với sáu căn nguyên: lobha, dosa, moha, và alobha, adosa, amoha.

  • One may get an idea to stand on one’s leg. But if one is mindful, one can see the bodily pain associated with that action and decide not to go through with it. Note that the kammā vipāka, in this case, came initially as a mental input (through mana indriya). But one has the CHOICE not to go along with that. Therefore, a second kammā of standing on one leg (one’s willingness to go along with it) is needed for the kāya vedanā to arise.

Một người có thể nảy ra ý định đứng bằng một chân. Nhưng nếu có chánh niệm, người ấy có thể nhận ra cảm thọ đau đớn nơi thân liên quan đến hành động đó và quyết định không làm theo. Lưu ý rằng trong trường hợp này, kammā vipāka ban đầu xuất hiện như một tác động nơi tâm (thông qua mana indriya). Tuy nhiên, người ấy có SỰ LỰA CHỌN là không thuận theo nó. Do đó, cần phải có một kammā thứ hai là hành động đứng một chân (tức sự sẵn lòng làm theo) thì kāya vedanā mới phát sinh.

  • The first case above in #10 (cancer etc.) illustrates the vipāka solely attributed to past kammā. Pain due to standing on a leg is also an immediate kammā vipāka. Other cases involve those vipāka arising due to the seven other types of causes that are discussed in the Suttā mentioned in #11.

Trường hợp đầu tiên nêu ở mục #10 (ung thư, v.v.) minh họa cho vipāka hoàn toàn do kammā trong quá khứ. Cơn đau do đứng bằng một chân cũng là một kammā vipāka xảy ra ngay tức thì. Những trường hợp khác liên quan đến các vipāka phát sinh do bảy loại nguyên nhân khác, như được trình bày trong các Suttā được nhắc đến ở mục #11.

  1. Therefore, sometimes it may not be easy to figure out what the cause is and what the effect is, because the result of a past action itself can act as a (new) cause.

Vì vậy, đôi khi không dễ để phân định đâu là nguyên nhân và đâu là kết quả, bởi chính kết quả của một hành động trong quá khứ lại có thể đóng vai trò như một nguyên nhân (mới).

  • The above example of standing on one’s leg is a good example. The kāya vedanā WOULD NOT arise unless one lets the initial kammā vipāka (came through the mana indriya) proceed. One can stop that kāya vedanā from arising.

Ví dụ đứng bằng một chân ở trên là một minh họa rõ ràng. Kāya vedanā SẼ KHÔNG phát sinh nếu người ấy không để cho kammā vipāka ban đầu (đi qua mana indriya) tiếp diễn. Người ta có thể ngăn chặn kāya vedanā đó không cho khởi lên.

  • On the other hand, one cannot stop cancer by will. One could come up with indirect ways (called upakkama or prayoga) to alleviate a bodily vedanā due to a kammā vipāka. By the way, upakkama is one of the eight mentioned loosely as causes in those Suttā that mention possible eight causes for kammā vipāka.

Ngược lại, người ta không thể chấm dứt ung thư chỉ bằng ý chí. Tuy nhiên, có thể tìm ra những phương cách gián tiếp (gọi là upakkama hay prayoga) để làm giảm bớt một vedanā thân do kammā vipāka gây ra. Nhân tiện, upakkama là một trong tám yếu tố được nêu một cách khái quát như là các “nguyên nhân” trong những Suttā đề cập đến tám khả năng gây ra kammā vipāka.

Only a Buddha Can Sort Out the Reason for a Specific Kamma Vipāka

Chỉ Một Vị Phật Mới Có Thể Phân Định Nguyên Nhân Của Một Kammā Vipāka Cụ Thể

  1. Those upakkama or prayoga can work in the following way, too. An upakkama by person A may cause harm to person B. For example, when person B detonates a suicide bomb, person A may die as a result of that action.

Những upakkama hay prayoga đó cũng có thể vận hành theo cách sau. Một upakkama do người A tạo ra có thể gây hại cho người B. Ví dụ, khi người B kích nổ một quả bom tự sát, người A có thể chết do hành động đó.

  • But here again, person A MUST have a pending kammā vipāka for that action by person B to cause harm to him. As I have mentioned many times, we have collected innumerable kammā vipāka and they are waiting for such conditions to appear to give vipāka.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, người A PHẢI có một kammā vipāka đang chờ trổ quả thì hành động của người B mới có thể gây hại cho người ấy. Như tôi đã nhiều lần đề cập, chúng ta đã tích lũy vô số kammā vipāka, và chúng đang chờ các điều kiện thích hợp để cho vipāka.

  • Twenty four such conditions are listed and discussed in “Paṭṭhāna Dhamma.” So far, I have discussed only a few.

Hai mươi bốn điều kiện như vậy được liệt kê và phân tích trong “Paṭṭhāna Dhamma”. Cho đến nay, tôi mới chỉ bàn đến một vài điều kiện trong số đó.

  • Some people escape such attacks “miraculously.” There is no miracle, just the fact that there may not have been a suitable kammā vipāka waiting to be ripened, OR a past good kammā could overcome even some pending bad vipāka.

Một số người thoát khỏi những cuộc tấn công như vậy một cách tưởng chừng “kỳ diệu”. Thực ra không có phép màu nào cả, chỉ là vì có thể không có kammā vipāka thích hợp đang chờ trổ quả, HOẶC một kammā thiện trong quá khứ đã đủ mạnh để lấn át thậm chí cả một số vipāka bất thiện đang chờ.

  • This is why the Buddha said that a human can’t figure out the causes of kammā vipāka.

Đó là lý do vì sao Đức Phật dạy rằng con người không thể tự mình phân định được các nguyên nhân của kammā vipāka.

  • Another such particular case is the demise of all living beings in the realms BELOW the Ābhassara Brahma realm at the destruction of the “material world” (loka vināsaya); over a long time, all beings in the lower realms are reborn in higher realms above the Ābhassara Brahma realm until a new world (new Earth in our case) is formed over billions of years. We will not get to discuss this for a while, since more background material is needed.

Một trường hợp đặc biệt khác là sự chấm dứt tồn tại của tất cả chúng sinh trong các cõi BÊN DƯỚI cõi Ābhassara Brahma khi “thế giới vật chất” bị hủy diệt (loka vināsaya). Trong một khoảng thời gian rất dài, tất cả chúng sinh ở các cõi thấp hơn sẽ tái sinh lên các cõi cao hơn, vượt trên cõi Ābhassara Brahma, cho đến khi một thế giới mới (trong trường hợp của chúng ta là một Trái Đất mới) được hình thành qua hàng tỷ năm. Chúng ta sẽ chưa bàn sâu về vấn đề này, vì cần thêm nhiều tư liệu nền tảng.

Even the Buddha Experienced Kamma Vipāka

Ngay Cả Đức Phật Cũng Trải Nghiệm Kammā Vipāka

  1. One would think that the Buddha’s good kammā done in his last life would be more than enough to override any kammā vipāka from the past. However, remnants of vipāka of an ānantariya kammā were there, and also there could have been other strong kammā. That is the only exception, and that is the kammā vipāka listed among the eight other possible causes. The other seven are not the root causes, but effects that appear as causes.

Người ta có thể nghĩ rằng những kammā thiện mà Đức Phật đã tạo trong đời cuối cùng của Ngài hẳn đã đủ để vượt thắng mọi kammā vipāka từ quá khứ. Tuy nhiên, vẫn còn những dư sót vipāka của một ānantariya kammā, và cũng có thể còn những kammā mạnh khác. Đây là trường hợp ngoại lệ duy nhất, và đó chính là kammā vipāka được liệt kê trong số tám khả năng được nêu ra. Bảy yếu tố còn lại không phải là nguyên nhân gốc rễ, mà là các kết quả xuất hiện dưới hình thức như những nguyên nhân.

Người ta nói rằng Đức Phật đã phải đối diện với 12 kammā vipāka (“WebLink: suttacentral: Pubbakammapilotikabuddhaapadāna; Therāpadāna.” Bản dịch tiếng Anh có tại: “WebLink: ancient buddhist-texts.net: The Connection with Previous Deeds – Pubbakammapilotika-Buddhāpadānaṁ”). Xin tán thán công đức của hai độc giả đã gửi cho tôi các tài liệu tham khảo này. Tôi khuyến nghị nên đọc bản dịch tiếng Anh.

  • Five of those 12 were due to remnants of ānantariya papa kammā involving verbally or physically hurting Buddhas in past lives. Two were for killings, two for abusing sages, one for breaking the back of a wrestler, one for giving wrong medication intentionally, and another for watching others engaged in fishing and enjoying it.

Năm trong số mười hai kammā vipāka đó là do dư sót của ānantariya papa kammā, liên quan đến việc làm tổn hại chư Phật trong các đời quá khứ, bằng lời nói hoặc thân hành. Trong số đó có hai trường hợp do giết người, hai do lăng mạ các bậc hiền trí, một do bẻ gãy lưng của một đô vật, một do cố ý cho thuốc sai, và một do chứng kiến người khác đánh cá rồi khởi tâm thích thú.

  • By the way, Moggallāna Thero was beaten to death due to remnants of a kammā of killing his parents in a past life. He paid for most of his kammā in a niraya (worst realms in apāyā).

Nhân tiện, Tôn giả Moggallāna đã bị đánh đến chết do dư sót của một kammā giết cha mẹ trong một đời quá khứ. Ngài đã trả phần lớn kammā đó trong một niraya (các cõi khổ nhất trong apāyā).

  1. Finally, I would caution that material in the Milindapanha is based on conversations between Ven. Nagasena and King Milinda more than 100 years after the Buddha’s Parinibbāna. Even though most of the material in Milindapanha seems to be compatible with the Suttā, it is possible that Ven. Nagasena referred to those extra seven causes as “root causes” just because those three Suttā in #11 above (SN 36.21, AN 5.104, and AN 10.60) did not elaborate on the deeper explanation that we discussed above.

Cuối cùng, tôi xin lưu ý rằng nội dung trong Milindapanha dựa trên các cuộc đối thoại giữa Tôn giả Nagasena và vua Milinda, diễn ra hơn 100 năm sau khi Đức Phật Parinibbāna. Mặc dù phần lớn nội dung trong Milindapanha có vẻ phù hợp với các Suttā, nhưng có thể Tôn giả Nagasena đã gọi bảy yếu tố bổ sung đó là “nguyên nhân gốc rễ” chỉ vì ba Suttā được nêu ở mục #11 ở trên (SN 36.21, AN 5.104 và AN 10.60) không trình bày chi tiết phần giải thích sâu xa mà chúng ta đã thảo luận.

  • Furthermore, as reader Akvan pointed out in the discussion forum, Ven. Nagasena’s statement about Buddha not having to face kammā vipāka is not correct (I have not personally read that account in Milindapanaha, if it is there).

Hơn nữa, như độc giả Akvan đã chỉ ra trong diễn đàn thảo luận, phát biểu của Tôn giả Nagasena cho rằng Đức Phật không phải đối diện với kammā vipāka là không đúng (cá nhân tôi chưa trực tiếp đọc đoạn này trong Milindapanha, nếu quả thực có).

Importance of Removing Micchā Diṭṭhi

Tầm Quan Trọng Của Việc Đoạn Trừ Micchā Diṭṭhi

  1. One’s understanding of how kammā/kammā vipāka operates will grow only with an understanding of basic concepts. Until then, one’s ingrained belief systems will operate based on the ten types of micchā diṭṭhi. There are two levels of micchā diṭṭhi. First one needs to remove the ten types of micchā diṭṭhi.

Sự hiểu biết của một người về cách vận hành của kammā/kammā vipāka chỉ có thể phát triển khi có sự nắm vững các khái niệm căn bản. Trước khi đạt được điều đó, các hệ thống niềm tin ăn sâu trong tâm vẫn sẽ vận hành dựa trên mười loại micchā diṭṭhi. Micchā diṭṭhi có hai tầng mức. Trước hết, cần đoạn trừ mười loại micchā diṭṭhi này.

  • Then, one can start on the Noble Eightfold Path AFTER learning about the deeper level of micchā diṭṭhi. That is to realize that it is a wrong view to believe that things in this world can bring long-term happiness. This second level of wrong views is dispelled when one comprehends Tilakkhaṇa, the Three Characteristics of this world: anicca, dukkha, and anatta.

Sau đó, người ấy mới có thể bước vào Bát Thánh Đạo SAU KHI hiểu rõ tầng sâu hơn của micchā diṭṭhi, tức là nhận ra rằng tin tưởng các pháp thế gian có thể mang lại hạnh phúc lâu dài là một tà kiến. Tầng tà kiến thứ hai này được đoạn trừ khi người ta thấu hiểu Tilakkhaṇa, Ba Đặc Tính của thế gian: anicca, dukkha và anatta.

  • The ten types of micchā diṭṭhi do the strongest immoral deeds. They inevitably lead to suffering and can lead to rebirth in the apāyā.

Mười loại micchā diṭṭhi này thúc đẩy những hành vi bất thiện nặng nề nhất. Chúng tất yếu dẫn đến khổ đau và có thể đưa đến tái sinh trong các apāyā.

  1. One can attain Nibbāna only by getting rid of the second level of micchā diṭṭhi, i.e., only by comprehending Tilakkhaṇa. Thus ultimate and permanent happiness can be attained only by getting rid of the second level of micchā diṭṭhi.

Một người chỉ có thể chứng đạt Nibbāna bằng cách đoạn trừ tầng micchā diṭṭhi thứ hai, tức là chỉ bằng việc thấu hiểu Tilakkhaṇa. Do đó, hạnh phúc tối hậu và bền vững chỉ có thể đạt được khi đoạn trừ được tầng micchā diṭṭhi này.

  • Both types of micchā diṭṭhi are discussed in the post: “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.”

Cả hai loại micchā diṭṭhi đều được trình bày trong bài viết: “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *