Pañcupādānakkhandha – It Is All Mental / Pañcupādānakkhandha – Tất cả đều là Tâm

January 1, 2016; revised November 2, 2017, June 28, 2019

Ngày 1/1/2016; sửa ngày 2/11/2017, ngày 28/6/2019

Rūpa and Rūpakkhandha are two different things. There are rūpa made up of “physical matter” (suddhaṭṭhaka) in the rūpa loka. Rūpakkhandha consists of each person’s memories, hopes, and desires for some of the rūpa in the rūpa loka. Since the other four khandha (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) are all mental anyway, all five are MENTAL.

Rūpa và Rūpakkhandha là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Có rūpa được tạo bằng “vật chất” (suddhaṭṭhaka) trong rūpa loka. Rūpakkhandha gồm ký ức, hy vọng và ước muốn của mỗi người đối với một số rūpa trong rūpa loka. Vì bốn uẩn còn lại (vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) vốn đã là tâm, nên cả năm uẩn đều là TÂM.

  1. In the previous post, “Pañcakkhandha or Five Aggregates – A Misinterpreted Concept,” we discussed a deeper meaning of the pañca khandha or the five heaps or the five aggregates that define a given living being. Each person’s pañca khandha or the “world” is different from another’s.

Trong bài trước, “Pañcakkhandha or Five Aggregates – A Misinterpreted Concept,” chúng ta đã bàn ý nghĩa sâu hơn của pañca khandha, tức năm “tập hợp uẩn” định nghĩa mỗi chúng sinh. Pañca khandha hay “thế giới riêng” của mỗi người đều khác nhau.

  • Of course, in the 31 realms of existence there are rūpa, or material (and energy). But our experiences are all mental (which also has energy). Please read the previous post again if you think rūpakkhandha is material. Rūpakkhandha consists of our thoughts, memories, perceptions, desires, etc. on rūpa that we have experienced, are experiencing now, and hope to experience in the future. We have those “imprints of rūpa” in our minds even if we cannot recall all of them.

Tất nhiên, trong 31 cõi có rūpa, tức vật chất (và năng lượng). Nhưng các kinh nghiệm của ta đều mang tính tâm (cũng có năng lượng). Hãy đọc lại bài trước nếu bạn vẫn nghĩ rūpakkhandha là vật chất. Rūpakkhandha bao gồm tư tưởng, ký ức, tri giác, ước muốn… của ta về các rūpa mà ta đã kinh nghiệm, đang kinh nghiệm và hy vọng sẽ kinh nghiệm trong tương lai. Ta có những “dấu ấn của rūpa” trong tâm, ngay cả khi không nhớ hết.

  • We experience the “material world” only at the “present time” (in a citta vīthi), then it is gone. We actually experience not a single citta — or even a single citta vīthi — but the overall effect of many citta vīthi that run in the blink of an eye.

Ta chỉ kinh nghiệm “thế giới vật chất” trong khoảnh khắc hiện tại (trong một citta vīthi), rồi nó biến mất. Điều ta kinh nghiệm thật ra không phải một citta, thậm chí không phải một citta vīthi, mà là hiệu ứng tổng hợp của vô số citta vīthi xảy ra trong chớp mắt.

  1. This “overall experience of seeing” within a short time is what we actually call seeing (ditta). Same for hearing (suta). For the other three physical senses (muta), it can be there as long as we are actually experiencing them.

“Trải nghiệm tổng hợp của việc thấy” trong một khoảnh khắc ngắn ngủi này chính là điều ta gọi là thấy (ditta). Tương tự cho nghe (suta). Với ba giác quan còn lại (muta), kinh nghiệm kéo dài bao lâu tùy thuộc vào việc ta còn đang tiếp xúc với chúng.

  • For example, when we are eating a meal, the sense contact is there until we finish eating. When we have a headache (an actual dukha vedanā) or while getting a massage (an actual sukha vedanā), the sense experience is there for a while.

Ví dụ, khi ta đang ăn, xúc chạm giác quan tồn tại cho đến lúc ăn xong. Khi ta bị nhức đầu (một dukkha vedanā thật sự) hoặc đang được xoa bóp (một sukha vedanā thật sự), kinh nghiệm giác quan kéo dài một lúc.

  • But thinking about them (vinnāta) — via the sixth sense, the mind — can be experienced at any time; we can recall a past experience or conjure up an enticing future experience.

Nhưng suy nghĩ về chúng (vinnāta) — qua giác quan thứ sáu, tức ý — có thể xảy ra bất cứ lúc nào; ta có thể nhớ lại kinh nghiệm cũ hoặc tưởng tượng một kinh nghiệm tương lai hấp dẫn.

  • Ditta, suta, muta, vinnāta include everything that we experience. They are re-categorized as rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa or the five heaps.

Ditta, suta, muta, vinnāta bao gồm mọi thứ ta kinh nghiệm. Chúng được phân loại lại thành rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, và viññāṇa — tức năm uẩn.

  • It is not necessary to memorize terms like ditta, suta, muta, vinnāta. I am merely naming them to avoid any confusion, since those terms are in the suttā. With time, one will remember.

Không cần phải học thuộc các từ ditta, suta, muta, vinnāta. Tôi nêu tên chúng chỉ để tránh nhầm lẫn, vì chúng được dùng trong các suttā. Theo thời gian, bạn sẽ ghi nhớ tự nhiên.

  1. Upādāna (“upa” + “ādāna” where “upa” means “close” and “ādāna” means “pull”) means “pull and keep close.” One tries to pull and keep close only things that one really desires: pañca upādāna khandha or pañcaupādānakkhandha. We can translate the term, pañcaupādānakkhandha, as “five clinging aggregates.”

Upādāna (“upa” + “ādāna,” trong đó “upa” là “gần,” “ādāna” là “kéo”) nghĩa là “kéo vào và giữ sát bên.” Người ta chỉ cố kéo và giữ những gì mình thật sự ham muốn; đó là pañca upādāna khandha hay pañcaupādānakkhandha. Ta có thể dịch là “năm uẩn chấp thủ.”

  • Thus out of an infinite variety of “things (material and mental)” one has experienced (not only in this life, but in all of existence countless rebirths) — pañcakkhandha —, those that one really has bonding with, and has the desire to “keep close” are pañca upādāna khandha or pañcaupādānakkhandha. It is important to realize that “rūpakkhandha” is mental too; see, “Rūpa, Vedanā, Saññā, Saṅkhāra,
    Viññāṇa – Mostly Misunderstood
    .” Same for the other four khandhas.

Vì thế, trong vô số “thứ” (vật chất và tâm) mà ta đã từng kinh nghiệm (không chỉ trong đời này mà trong vô lượng kiếp) — tức pañcakkhandha — những thứ ta thật sự “gắn bó” và muốn “giữ bên mình” tạo thành pañca upādāna khandha hay pañcaupādānakkhandha. Điều quan trọng là hiểu rằng rūpakkhandha cũng là tâm; xem thêm bài “Rūpa, Vedanā, Saññā, Saṅkhāra, Viññāṇa – Mostly Misunderstood.” Bốn uẩn còn lại cũng thế.

  • Thus pañcaupādānakkhandha is what we desire, and is ALL MENTAL too. It is a small fraction of pañcakkhandha.

Do đó, pañcaupādānakkhandha là phần ta ham muốn, và cũng HOÀN TOÀN LÀ TÂM. Nó chỉ là một phần nhỏ trong pañcakkhandha.

  1. First, let us dig a bit deeper into the concept of pañca khandha (five heaps) or pañcakkhandha. Then one can see connections to other concepts at a deeper level.

Trước hết, hãy đào sâu hơn vào khái niệm pañca khandha (năm tập hợp uẩn) hay pañcakkhandha. Khi làm vậy, ta sẽ thấy sự liên hệ với nhiều khái niệm khác ở mức độ sâu hơn.

  • As we recall, the five heaps include everything that one has experienced (rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) in the past, one is experiencing right now, and one hopes to experience in the future and in each of these three categories, they can be subdivided into other categories like paṇīta (likes) and appaṇīta (dislikes); see the previous post.

Như đã nói, năm uẩn bao gồm tất cả những gì một người từng kinh nghiệm (rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) trong quá khứ, đang kinh nghiệm hiện tại, và hy vọng kinh nghiệm trong tương lai; và trong mỗi nhóm (quá khứ–hiện tại–tương lai) lại có thể chia ra thành các loại như paṇīta (ưa thích) và appaṇīta (không thích). Xem bài trước.

  • Since each person’s experience is unique, one’s pañcakkhandha is unique, and is different from that of another living being. That is because even if the external rūpa are the same, the mental impressions are different.

Vì kinh nghiệm của mỗi người là duy nhất, pañcakkhandha của mỗi người cũng duy nhất, khác với của chúng sinh khác. Dù các rūpa bên ngoài giống nhau, dấu ấn tâm về chúng lại khác nhau.

  1. A new born baby does not have much of an experience in this life (other than some while in the womb). But he/she still has infinite things from the past in those five heaps or aggregates.

Một đứa trẻ mới sinh không có nhiều kinh nghiệm trong đời này (ngoài đôi chút khi còn trong bụng mẹ). Nhưng em vẫn mang vô lượng điều từ quá khứ trong năm uẩn ấy.

  • As the baby grows, its pañcakkhandha grows each day, adding to the five heaps not only with what is experienced, but also expectations and desires about the future.

Khi em bé lớn lên, pañcakkhandha của nó cũng lớn lên mỗi ngày, bổ sung vào năm uẩn không chỉ những gì được kinh nghiệm, mà còn cả những mong đợi và ước muốn về tương lai.

  • We, of course, remember only a fraction of what is in our pañcakkhandha even from our present life. Each day, we experience many things and forget most of it by the next day.

Dĩ nhiên, chúng ta chỉ nhớ được một phần rất nhỏ trong pañcakkhandha của mình, ngay cả trong đời này. Mỗi ngày ta trải nghiệm nhiều điều và rồi quên phần lớn chúng vào ngày hôm sau.

  1. However, some of deeper desires and habits and character remain, sometimes even unknown to us, beneath the surface as our gathi and āsavas (by the way, those will be reflected in the cetasika that automatically arise with our citta). As that baby grows, depending on its parents, friends, and other environmental factors, some of those (good and bad) gathi resurface and even grow.

Tuy nhiên, một số ước muốn sâu kín, thói quen và đặc tính của ta vẫn tồn tại bên dưới bề mặt như gathi và āsava (chúng được phản ánh trong các cetasika sinh tự động với citta). Khi đứa bé lớn lên, tùy vào cha mẹ, bạn bè và môi trường, một số gathi (tốt hoặc xấu) có thể trồi lên và thậm chí mạnh hơn.

  • This is why each person is good at some things. If one has musical talent from the past lives, that child can flourish in an environment that provides suitable conditions. If that baby grows in a family that does not provide “a musical environment,” then that gathi is kept hidden.

Đó là lý do mỗi người giỏi một số lĩnh vực khác nhau. Nếu mang theo tài năng âm nhạc từ các đời trước, đứa trẻ ấy có thể phát triển mạnh trong môi trường phù hợp. Nếu môi trường gia đình không có “không khí âm nhạc”, thì gathi ấy sẽ bị che lấp.

  • Similarly, one who had the tendency to like alcohol, may be kept out of that habit in a family environment that looks down upon drinking. We can think about zillion other character features that can be suppressed or brought to surface to flourish depending on the environment.

Tương tự, người có xu hướng thích rượu có thể tránh được thói quen đó nếu sống trong môi trường gia đình không chấp nhận việc uống rượu. Có vô số đặc tính khác có thể bị đè nén hoặc được khơi dậy để phát triển tùy theo môi trường.

  • This is why some people, who have not shown any talent for anything for many years, suddenly “take off and thrive” in a new venture. Stated in another way, one may not realize that “one has upādāna” for certain things, unless exposed to it.

Đó là lý do có người suốt nhiều năm không thể hiện năng lực gì, nhưng bỗng nhiên “bật sáng và thành công” khi gặp lĩnh vực phù hợp. Nói cách khác, ta có thể không biết mình có upādāna với một số thứ cho đến khi được tiếp xúc với chúng.

  • We all have good and bad things that we have “upādāna” for. We should stay away from bad ones (forcibly if needed to) and find and cultivate good ones. This is why parent and teachers can play a big role in a child’s future.

Ai cũng có những điều tốt và xấu mà mình “có upādāna” đối với chúng. Ta nên tránh xa điều xấu (dù phải cưỡng ép) và tìm – nuôi dưỡng điều tốt. Đây là lý do cha mẹ và thầy cô đóng vai trò lớn trong tương lai một đứa trẻ.

  • Eventually, we need to lose “upādāna” for everything, but that comes much later in the Path when one has attained the Anāgāmī stage, or at least the Sakadāgāmī stage of Nibbāna. First we need to lose “upādāna” for the highly immoral activities. At the Sotāpanna stage, one realizes the perils of “upādāna” for only the worst habits that makes one eligible to be born in the apāyā. It is a gradual process.

Cuối cùng, ta phải từ bỏ mọi loại upādāna, nhưng điều đó chỉ xảy ra ở giai đoạn rất sâu của Con đường Tu tập — khi đạt Anāgāmī hoặc ít nhất Sakadāgāmī. Trước hết phải đoạn trừ upādāna với các hành vi cực kỳ bất thiện. Ở giai đoạn Sotāpanna, người ấy thấy được hiểm họa của upādāna vào các thói quen tệ hại nhất có thể dẫn đến tái sinh vào apāyā. Đây là một tiến trình từ từ.

  1. The tendency to recreate past experiences and future desires need to be clearly distinguished from the ABILITY TO RECALL past experiences. The Buddha was able to recall things that happened trillions of years ago, but did not either enjoy them or had a revulsion to them.

Xu hướng tái tạo các kinh nghiệm quá khứ và ước muốn tương lai cần phân biệt rõ với KHẢ NĂNG NHỚ LẠI các kinh nghiệm quá khứ. Đức Phật có thể nhớ lại những sự kiện xảy ra từ vô số kiếp trước, nhưng Ngài không khởi tâm hoan hỷ hay chán ghét đối với chúng.

  • As we discussed in the section, “Assāda, Ādīnava, Nissaraṇa,” kāma (or more precisely kāma rāga) is the tendency to enjoy such mind-made pleasures from the past or future.

Như đã bàn trong phần “Assāda, Ādīnava, Nissaraṇa,” kāma (chính xác hơn là kāma rāga) là xu hướng hưởng thụ các khoái lạc tâm tạo từ quá khứ hoặc tương lai.

  • Each person’s set of pañca upādāna khandha has embedded in them the certain types of things and events they give priority to, i.e., one’s gathi and anusaya. They automatically come out as particular set of cetasika (hate and fearlessness of doing immoral things, for example) in our citta or thoughts.

Bộ pañca upādāna khandha của mỗi người chứa đựng các loại sự vật – sự việc mà họ ưu tiên, tức gathi và anusaya của họ. Chúng biểu hiện tự động qua một số cetasika (như sân hận hoặc sự không sợ làm điều bất thiện) trong citta hay ý nghĩ của ta.

  • Those kāma rāga that correspond to gathi in the apāyā can lead to rebirth in the apāyā.

Những kāma rāga tương ứng với gathi thuộc apāyā có thể dẫn đến tái sinh trong apāyā.

  • Rūpa rāga and arūpa rāga are the tendencies to enjoy jhānic pleasures corresponding to rūpa and arūpa

Rūpa rāga và arūpa rāga là xu hướng hưởng các lạc jhāna tương ứng với các cõi rūpa và arūpa.

  1. Thus now we can see Nibbāna in terms of pañcaupādānakkhandha. As one sheds “upādāna” for gathi corresponding to the apāyā, higher kāma loka, and rūpa or arūpa loka successively, one attains the Sotāpanna, Anāgāmī (via Sakadāgāmī stage), and the Arahant stage respectively.

Như vậy, ta có thể thấy Nibbāna dưới góc độ pañcaupādānakkhandha. Khi một người dần loại bỏ upādāna đối với các gathi tương ứng lần lượt với apāyā, rồi kāma loka cao hơn, rồi các cõi rūpa và arūpa, người ấy tuần tự đạt Sotāpanna, rồi Anāgāmī (qua giai đoạn Sakadāgāmī), và cuối cùng Arahant.

  • As one keeps shedding layers of pañcaupādānakkhandha, one proceeds to higher stages of Nibbāna, and upon attaining the Arahant stage loses all “upādāna” and thus pañcaupādānakkhandha. However, the pañcakkhandha remains, and upon the death all of it will stay in the nāma loka as nāma gotta.

Khi liên tục trút bỏ các lớp pañcaupādānakkhandha, người ấy tiến dần đến các tầng cao hơn của Nibbāna. Khi đạt bậc Arahant, người ấy chấm dứt hoàn toàn mọi upādāna và do đó chấm dứt pañcaupādānakkhandha. Tuy nhiên, pañcakkhandha vẫn còn, và khi vị ấy qua đời, tất cả sẽ tồn tại trong nāma loka như nāma gotta.

  • Thus anyone with sufficient abhiññā powers can examine those nāma gotta. That is how the Buddha Gotama described the lives of many previous Buddhas, and we learn about them today.

Vì vậy, bất kỳ ai có abhiññā đầy đủ đều có thể khảo sát các nāma gotta. Đó là cách Đức Phật Gotama mô tả đời sống của nhiều Đức Phật quá khứ, và nhờ đó chúng ta biết về họ ngày nay.

  1. Unless one has attained the Sotāpanna stage, it is possible for “apāya gathi” to come to the surface (as cetasika like greed, shamelessness in doing immoral things, etc. in our citta or thoughts), especially under extreme conditions. We all have been in the apāyā uncountable times, so it is not something to be speculated; we have had those gathi, and it is possible that they can resurface. This is the danger that we need to realize.

Trừ khi đã chứng đạt Sotāpanna, “apāya gathi” vẫn có thể trồi lên bề mặt (biểu hiện qua các cetasika như tham lam, không hổ thẹn khi làm điều bất thiện, v.v. trong các citta hay ý nghĩ), nhất là trong những hoàn cảnh cực đoan. Tất cả chúng ta đã từng ở apāyā vô số lần, nên đây không phải là điều để suy đoán — chúng ta từng mang những gathi ấy, và chúng hoàn toàn có thể tái sinh trong tâm. Đây là mối nguy mà ta cần nhận ra.

  • Even if we manage to avoid such “extreme conditions” in this life because we have been fortunate to be born under good conditions, we have no idea where we will be born in the future. This is why the Buddha said, “..appamadena sampadetha” or “make haste and sort out ‘saŋ’ or what to do and what not to do.”

Ngay cả khi tránh được các “hoàn cảnh cực đoan” trong đời này nhờ sinh ra trong điều kiện thuận lợi, ta vẫn không biết đời sau sẽ sinh vào đâu. Vì vậy Đức Phật dạy: “appamādena sampādetha” — “hãy tinh tấn để xử lý ‘saŋ’, tức điều nên làm và điều không nên làm.”

  1. As we mentioned in the beginning, each one’s pañcakkhandha is unique. Each has his/her own feelings, perceptions, mental attributes (good and bad), and viññāṇa regarding any sense event. We make our decisions accordingly. Our character (gathi) is in pañcakkhandha (the way we see and comprehend the world) and even more so in our pañcaupādānakkhandha (our desires for the worldly things).

Như đã nói từ đầu, pañcakkhandha của mỗi người là độc nhất. Mỗi người có cảm thọ, tri giác, các yếu tố tâm (thiện và bất thiện), và viññāṇa riêng đối với mỗi cảnh giác quan. Các quyết định của ta phụ thuộc vào đó. Tính cách (gathi) của ta nằm trong pañcakkhandha (cách ta nhìn và hiểu thế giới), và càng được thể hiện rõ trong pañcaupādānakkhandha (những ham muốn và bám víu đối với thế gian).

  • And diṭṭhi (our world views) is a critical part of both pañcakkhandha and pañcaupādānakkhandha. Our decisions depend critically on our diṭṭhi. There are many posts at the site on the importance of diṭṭhi. The first step to Nibbāna (the Sotāpanna stage) is sammā diṭṭhi.

Và diṭṭhi (quan kiến của ta về thế giới) là yếu tố then chốt trong cả pañcakkhandha lẫn pañcaupādānakkhandha. Các quyết định của ta phụ thuộc rất mạnh vào diṭṭhi. Có nhiều bài viết nói về tầm quan trọng của diṭṭhi. Bước đầu tiên hướng đến Nibbāna (tức Sotāpanna) chính là sammā diṭṭhi.

  • Unless one comprehends the true nature of this world of 31 realms (anicca, dukkha, anatta), one cannot attain sammā diṭṭhi at least to some extent.

Nếu không hiểu đúng bản chất thật của thế giới 31 cõi (anicca, dukkha, anatta), thì không thể đạt sammā diṭṭhi, dù ở mức căn bản.

  1. When one acts with avijjā (due to not comprehending the true nature of the world), one does (abhi) saṅkhāra, and keeps adding to the pañcaupādānakkhandha.

Khi hành động với avijjā (do không hiểu bản chất thật của thế giới), người ấy tạo saṅkhāra (đặc biệt là abhisaṅkhāra), và tiếp tục chất chồng thêm vào pañcaupādānakkhandha.

  • When we start with the “avijjā paccayā saṅkhāra” step, it leads to “upādāna paccayā bhava.” Thus according the types of (abhi) saṅkhāra one does, one makes “bonding” or “attaches to” certain types of “bhava” or existence.

Khi tiến trình bắt đầu từ “avijjā paccayā saṅkhāra,” nó dẫn đến “upādāna paccayā bhava.” Do đó, tùy loại abhisaṅkhāra mà ta tạo, ta sẽ tạo “sự gắn kết” hay “bám chấp” vào một loại bhava (hiện hữu) tương ứng.

  • Paṭicca samuppāda explains how we make bhava according to the level of avijjā (as indicated by our gathi, anusaya, etc.) that is embedded in our pañcaupādānakkhandha.

Paṭicca samuppāda giải thích cách ta tạo bhava tùy theo mức độ avijjā (được phản ánh qua gathi, anusaya, v.v.) vốn được “khắc” trong pañcaupādānakkhandha.

  • Thus, one’s pañcaupādānakkhandha has embedded in it the “cravings and desires” of oneself, and where one is destined to have rebirths.

Như vậy, pañcaupādānakkhandha chứa đựng “tham ái và ước muốn” của mỗi người, và cũng là yếu tố định hướng nơi tái sinh của họ.

  1. Therefore, we can see that no matter how we analyze things, they all converge to the same fundamentals. Before we embark on the journey to safety (Nibbāna, or at least the Sotāpanna stage), we need to figure out the “lay of the land.” That is anicca, dukkha, anatta, the nature of this world.

Vì vậy, dù phân tích theo cách nào, tất cả đều quay về những nền tảng giống nhau. Trước khi bắt đầu hành trình đến nơi an toàn (Nibbāna, hoặc ít nhất là Sotāpanna), ta cần hiểu “bản đồ thực tại.” Đó chính là anicca, dukkha, anatta — bản chất của thế giới này.

  • Only then that our minds will willingly give up the diṭṭhis or wrong views.

Chỉ khi đó tâm ta mới sẵn sàng từ bỏ các diṭṭhi hay tà kiến.

  • Only then that our minds will see the dangers of sense pleasures, starting at the excess levels of kāma chanda and vyāpāda, which could lead to rebirth in the apāyā.

Chỉ khi đó, tâm ta mới thấy rõ nguy hiểm của dục lạc, đặc biệt là các mức độ mạnh của kāma chanda và vyāpāda, vốn có thể dẫn đến tái sinh ở apāyā.

  • If you could not grasp everything, that is fine. Come back and read the post again later, especially after reading other relevant posts. Each time you read, you may be able to grasp something that was not clear. It happens to me all the time. When the mind starts grasping at least partly, it will become much easier.

Nếu bạn chưa nắm hết, cũng không sao. Hãy quay lại đọc bài này sau, nhất là sau khi đọc các bài liên quan. Mỗi lần đọc lại, bạn có thể hiểu thêm điều trước đó chưa rõ. Bản thân tôi cũng vậy. Khi tâm bắt đầu nắm được một phần, mọi thứ sẽ trở nên dễ hơn nhiều.

  1. It is very important to see the difference between the “physical world” which is made of “satara mahā bhūta” and the pañcakkhandha which is all mental.

Điều rất quan trọng là thấy được sự khác biệt giữa “thế giới vật lý” — được tạo bởi satara mahā bhūta — và pañcakkhandha, vốn hoàn toàn là tâm.

  • The physical world out there is the same for all of us. But our mental impressions of it (pañcakkhandha) are different for each of us. It is easy to see that our feelings, perceptions, and saṅkhāra that we create upon seeing the same person are different.

Thế giới vật lý bên ngoài là như nhau đối với tất cả chúng ta. Nhưng ấn tượng tâm về nó (pañcakkhandha) lại khác nhau ở mỗi người. Rõ ràng là cảm thọ, tri giác, và saṅkhāra của ta khi thấy cùng một người hoàn toàn khác nhau.

  • Our pañcaupādānakkhandha, or the fraction of the pañcakkhandha that we have attachment for, is even more personal, unique for each person.

Pañcaupādānakkhandha, tức phần trong pañcakkhandha mà ta có sự dính mắc, lại càng riêng tư và độc nhất đối với mỗi người.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *