June 23, 2020
Ngày 23/06/2020
The View of “Me and Mine”- Only For About a Hundred Years
Quan Kiến “Ta và Của Ta” – Chỉ Trong Khoảng Một Trăm Năm
- An average human has the wrong view that it is beneficial to consider mind-pleasing things in this world as “me” or “mine.” As we discussed in the previous few posts, the most valuable rūpa in the world is one’s physical body. Then there are parents, spouses, children, friends, etc that are considered to be “mine.” See, “Five Aggregates – Connection to Tilakkhaṇa.”
Một người bình thường có tà kiến rằng thật có lợi khi xem những điều vừa ý trong đời là “ta” hay “của ta.” Như đã bàn trong các bài trước, rūpa quý nhất trên đời chính là thân xác của mỗi người. Rồi đến cha mẹ, vợ/chồng, con cái, bạn bè… tất cả đều được xem là “của ta.” Xem thêm “Five Aggregates – Connection to Tilakkhaṇa.”
- It is critical to realize that all those things last only about 100 years.
Điều rất quan trọng là phải thấy rằng tất cả những thứ đó chỉ tồn tại chừng khoảng 100 năm.
- Upon death, even if one is reborn human, it will be a different body and a different set of humans that will become “me” and “mine.” We would not even know who we were in our previous life. We would not know what happened to all those “loved ones” we had in the previous life.
Khi chết đi, dù có tái sinh trở lại làm người, thì đó cũng là một thân khác và một nhóm người khác trở thành “ta” và “của ta.” Ta thậm chí không biết mình từng là ai trong kiếp trước. Ta cũng không biết điều gì đã xảy ra với tất cả những “người thân yêu” mà ta từng có trong kiếp trước.
- That is the “big picture” that we need to focus on. That big picture can be discovered only by a Buddha.
Đó chính là “bức tranh toàn cảnh” mà ta cần chú ý. Và bức tranh toàn cảnh ấy chỉ có thể được khám phá bởi một vị Phật.
- It would be impossible for any other human to discover the “real nature of the wider world of 31 realms” where a given living-being goes through the birth/death process.
Không một phàm nhân nào có thể tự mình khám phá “bản chất thật của thế giới rộng lớn 31 cõi,” nơi một hữu tình trôi lăn trong vòng sinh–tử.
- But once explained by a Buddha or a true disciple of the Buddha, one can see the truth in his teachings.
Nhưng khi được một vị Phật hay một bậc đệ tử chân chánh của Ngài giảng giải, người ta có thể nhận ra chân lý trong giáo pháp ấy.
“Me and Mine” View Can Lead to Immoral Actions
Quan Kiến “Ta và Của Ta” Có Thể Dẫn Đến Hành Vi Bất Thiện
- Based on that wrong view of “me” and “mine” we are sometimes forced to do immoral actions. Think about it carefully. If we lie, steal, or hurt others, such actions can always be traced back to “taking care of me or mine.”
Dựa trên tà kiến về “ta” và “của ta,” đôi khi chúng ta bị thôi thúc làm những hành vi bất thiện. Hãy suy ngẫm cho kỹ: nếu ta nói dối, trộm cắp hay làm tổn hại người khác, thì rốt cuộc các hành động ấy luôn có thể truy ngược về động cơ “bảo vệ ta hoặc của ta.”
- It is critical to understand that this wrong view of “me and mine” (sakkāya diṭṭhi) is different from the perception of “me and mine.” Diṭṭhi means “view.”
Điều rất quan trọng là phải hiểu rằng tà kiến “ta và của ta” (sakkāya diṭṭhi) khác với sự nhận thức “ta và của ta.” Diṭṭhi có nghĩa là “quan kiến.”
- Even after getting rid of the wrong view of “me and mine” that wrong-perception will still be there. That perception of “me” or the innate feeling of “me” will go away only at the Arahant
Ngay cả khi đã đoạn trừ tà kiến về “ta và của ta,” sự nhận thức sai lầm ấy vẫn còn. Cảm nhận về “ta,” hay cảm giác bám chặt vào “cái ta” chỉ chấm dứt hoàn toàn ở tầng Arahant.
- However, just “seeing” that it is not fruitful to act on the basis of “me and mine” is enough for the mind to stay away from doing highly-immoral deeds. That “seeing” happens when one becomes a Sotāpanna.
Tuy vậy, chỉ cần “thấy” rằng hành động dựa trên “ta và của ta” là không mang lại lợi ích đã đủ để tâm tránh xa các hành động cực kỳ bất thiện. Sự “thấy” ấy xảy ra khi một người chứng đắc Sotāpanna.
- Of course, it may not be easy to comprehend. That is why the Buddha said, “this Dhamma has not been known to the world.”
Dĩ nhiên, điều này không dễ hiểu. Vì vậy Đức Phật mới dạy rằng: “Dhamma này chưa từng được thế gian biết đến.”
“Me and Mine” View Cannot Be Removed by Will Power – It Is Lost via Understanding the “True Nature”
Quan kiến “Ta và Của Ta” Không Thể Đoạn Trừ Bằng Ý Chí – Nó Chỉ Mất Đi Nhờ Hiểu Biết Đúng Về “Bản Chất Thật”
- The logic of Buddha Dhamma cannot be understood without the underlying principles. Those underlying principles are the rebirth process, laws of kamma, how Paṭicca Samuppāda to give rise to new births, etc. For that, one first needs to get rid of the ten wrong views and learn basic concepts like gati, anusaya, etc. See, “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.”
Logic của Dhamma của Đức Phật không thể được hiểu nếu thiếu các nguyên lý nền tảng. Những nguyên lý ấy là tiến trình tái sinh, luật kamma, cách Paṭicca Samuppāda vận hành để tạo ra các sinh hữu mới, v.v. Để làm được điều đó, trước hết phải đoạn trừ mười tà kiến và học các khái niệm căn bản như gati, anusaya, v.v. Xem bài “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.”
- It is not easy to put all that together and see the truth of the “wider world-view.” Yet, without that foundation, it is not possible to see that big picture and realize the truth of it.
Không dễ gì kết nối tất cả các yếu tố ấy lại và thấy được sự thật của “bức tranh thế giới rộng lớn hơn.” Nhưng nếu thiếu nền tảng đó, ta sẽ không thể thấy được bức tranh toàn diện và nhận ra chân lý của nó.
- It may be hard to believe, but just that “understanding of the big picture” will lead to the removal of 99% of the “gunk” that has been accumulated in our minds in a rebirth process that has no discernible beginning.
Nghe có vẻ khó tin, nhưng chỉ cần “hiểu được bức tranh lớn” cũng đủ để loại bỏ 99% những “cặn bẩn” đã tích lũy trong tâm qua một tiến trình tái sinh vốn không có điểm khởi đầu có thể nhận biết.
- I recommend reading the recently compiled English text of discourse on this subject by the late Waharaka Thero: WebLink: PDF file: How to Attain Nibbāna as a Buddhist Layman – Part 1
Tôi khuyến nghị đọc bản tiếng Anh được biên soạn gần đây về đề tài này của Cố Hòa thượng Waharaka Thero: WebLink: PDF file: How to Attain Nibbāna as a Buddhist Layman – Part 1
That “Big Picture” Must be Learnt From a Buddha
“Bức Tranh Lớn” Ấy Phải Được Học Từ Một Vị Phật
- If one has not heard the above from a Buddha or a true disciple of the Buddha, that person — no matter how intelligent — would not be able to figure that out by him/herself.
Nếu một người chưa từng nghe những điều trên từ một vị Phật hay một đệ tử chân thật của Ngài, thì cho dù người ấy có thông minh đến đâu cũng không thể tự phát hiện ra.
- The Buddha called such a person “assutavā puthujjano.” That means “an ignorant person who had not heard this Dhamma.”
Đức Phật gọi những người như vậy là “assutavā puthujjano,” nghĩa là “người phàm phu chưa từng nghe Dhamma này.”
- Of course, many people cannot and will not agree with that “new Dhamma.” They do not have the capability to grasp it. They may not be willing to discard the wrong views that they have. There is nothing we can do about that.
Dĩ nhiên, nhiều người không thể và sẽ không chấp nhận “Dhamma mới lạ” ấy. Họ không có khả năng để nắm bắt nó, hoặc họ không sẵn lòng từ bỏ các tà kiến của mình. Ta không thể làm gì khác.
- I have come this far in the rebirth process because I also had been incapable of grasping that in my previous lives.
Tôi đã trôi lăn đến tận ngày nay trong tiến trình tái sinh vì trong vô số kiếp trước, tôi cũng không có khả năng hiểu được điều đó.
- So, all we can do is try our best to understand. Even if one cannot understand, one needs to live a moral life and engage in meritorious deeds, so that the understanding can come in future life.
Vậy nên điều duy nhất ta có thể làm là cố gắng hết sức để hiểu. Nếu hiện tại vẫn chưa hiểu được, thì cũng cần sống đạo đức và tích lũy công đức, để sự hiểu biết có thể đến trong kiếp tương lai.
Who Is an Assutavā Puthujjano?
Ai là một Assutavā Puthujjano?
- There are many suttā where the Buddha described an “assutavā puthujjano.”
Có nhiều sutta nơi Đức Phật mô tả một “assutavā puthujjano.”
For example, the “WebLink: suttacentral: Paṭipadā Sutta (SN 22.44)” states, “Katamā ca, bhikkhave, sakkāya samudayagāminī paṭipadā? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammasa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto, rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ attato samanupassati”
Ví dụ, trong “WebLink: suttacentral: Paṭipadā Sutta (SN 22.44)” có câu:
“Katamā ca, bhikkhave, sakkāya samudayagāminī paṭipadā? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammasa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto, rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ attato samanupassati”
Translated: “And what, bhikkhus, is the path leading to the origination of identity view? Here, bhikkhus, an ignorant person who has not heard Dhamma … regards form as self … vedanā as self … saññā as self … saṅkhāra as self … viññāṇa as self”
Dịch nghĩa: “Này các bhikkhu, thế nào là con đường đưa đến sự khởi sinh của thân kiến? Ở đây, này các bhikkhu, một người phàm phu chưa từng nghe Dhamma … xem rūpa là tự ngã … vedanā là tự ngã … saññā là tự ngã … saṅkhāra là tự ngã … viññāṇa là tự ngã.”
- “Rūpaṁ attato samanupassati” means, “regards form (meaning one’s body) as ‘me’ in one of four ways. In the same way, that person may consider each of the other four aggregates as ‘me’ in one of four ways.”
“Rūpaṁ attato samanupassati” có nghĩa là “xem rūpa (tức thân của mình) là ‘ta’ theo một trong bốn cách.” Tương tự, người ấy có thể xem mỗi uẩn còn lại là “ta” theo một trong bốn cách.
- Thus, considering each of the five aggregates in four ways “to be mine”, leads to the “self-view” or “identity view.” That is “twenty-types of sakkāya diṭṭhi” or “vīsativatthukā sakkāya diṭṭhi.” See, “WebLink: suttacentral: Nayasamuṭṭhāna (Ne 36 / Netti 5)” of Nettipakaraṇa.
Do đó, việc xem mỗi trong năm uẩn theo bốn cách như “của ta” dẫn đến thân kiến hay ngã kiến. Đó là “hai mươi loại sakkāya diṭṭhi” hay “vīsativatthukā sakkāya diṭṭhi.” Xem thêm tại “WebLink: suttacentral: Nayasamuṭṭhāna (Ne 36 / Netti 5).”
- Anyone who has not heard the correct explanation of sakkāya diṭṭhi is an “uninformed/ignorant” human or assutavā puthujjano. That is why most people today belong to this category. Even when explained, some people have a hard time grasping this “previously unheard Dhamma.”
Bất kỳ ai chưa nghe được lời giải thích đúng đắn về sakkāya diṭṭhi đều là một người “chưa được nghe, còn vô minh,” tức assutavā puthujjano. Đó là lý do tại sao hầu hết mọi người ngày nay thuộc nhóm này. Ngay cả khi được giải thích, một số người vẫn rất khó nắm bắt được “Dhamma chưa từng được nghe trước đây.”
Sutavā Ariyasāvako – One Who Has Heard and Comprehended Dhamma
Sutavā Ariyasāvako – Người Đã Nghe Và Thấu Hiểu Dhamma
- The opposite of an assutavā puthujjano is a sutavā ariyasāvako, who has heard and comprehended the correct teachings of the Buddha. Such a person knows the dangers in attaching to worldly things.
Trái ngược với assutavā puthujjano là sutavā ariyasāvako, người đã nghe và hiểu đúng giáo pháp của Đức Phật. Người ấy nhận ra các nguy hiểm trong việc chấp trước các pháp thế gian.
- There are many suttā in SN 35 (especially SN 35.1 through SN 35.12) that discuss a sutavā ariyasāvako. For example, “WebLink: suttacentral: Ajjhattāniccātītānāgata Sutta (SN 35.7)” says:
Có nhiều bài suttā trong SN 35 (đặc biệt từ SN 35.1 đến SN 35.12) nói về sutavā ariyasāvako. Ví dụ, trong “WebLink: suttacentral: Ajjhattāniccātītānāgata Sutta (SN 35.7)” có ghi:
“Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ atītānāgataṁ; ko pana vādo paccuppannassa. Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako atītasmiṁ cakkhusmiṁ anapekkho hoti; anāgataṁ cakkhuṁ nābhinandati; paccuppannassa cakkhussa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti. Sotaṁ aniccaṁ … ghānaṁ aniccaṁ …”
“Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ atītānāgataṁ; ko pana vādo paccuppannassa … Sotaṁ aniccaṁ … ghānaṁ aniccaṁ …”
Translated: “Bhikkhus, the eye of the past and future (let alone the present) is of anicca nature. Seeing this, a learned noble disciple doesn’t attach to the eye of the past, he doesn’t look forward to enjoying the eye in the future, and he practices for non-attachment, dispassion, and cessation regarding the eye of the present. The ear … nose …”
Dịch nghĩa: “Này các bhikkhu, con mắt thuộc quá khứ và tương lai (chứ chưa nói đến hiện tại) đều có bản chất anicca. Thấy vậy, một vị đệ tử Thánh đã học pháp không còn bám níu vào con mắt quá khứ, không mong đợi được hưởng thọ con mắt tương lai, và hành trì hướng đến nhàm chán, ly tham và đoạn diệt đối với con mắt hiện tại. Tai … mũi …”
- Note that translating “anicca” as “impermanent” does not make any sense. The “eye of the past” has already been destroyed. There is no need to talk about the impermanence of it. What the verse says is that it is not beneficial to recall one’s past and think fondly about it, hoping to enjoy such an eye in the future.
Lưu ý rằng dịch “anicca” thành “vô thường” trong đoạn này không hợp lý. “Con mắt của quá khứ” đã không còn, nên không có gì để nói về sự “vô thường” của nó. Ý của bài kệ là: việc nhớ lại quá khứ và nuối tiếc nó, mong được hưởng lại những điều đó trong tương lai, là điều không mang lại lợi ích.
An Assutavā Puthujjano Has Sakkāya Diṭṭhi
Một Assutavā Puthujjano Có Sakkāya Diṭṭhi
- Thus sakkāya diṭṭhi (identity or self-view) arises because one takes one’s body as “me.” Of course, one may take one’s vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa as self too. In other words, anyone who views one or more of the five aggregates as “mine” has sakkāya diṭṭhi.
Do đó sakkāya diṭṭhi (thân kiến hay ngã kiến) sinh khởi khi một người xem thân mình là “ta.” Dĩ nhiên, họ cũng có thể xem vedanā, saññā, saṅkhāra hay viññāṇa là tự ngã. Nói cách khác, bất kỳ ai xem một hay nhiều uẩn trong năm uẩn là “của ta” đều có sakkāya diṭṭhi.
“WebLink: suttacentral: Sakkāyadiṭṭhi Sutta (SN 22.155)” the Buddha says, “rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa sakkāya diṭṭhi uppajjati. Vedanāya sati … saññāya sati … saṅkhāresu sati … viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa sakkāya diṭṭhi uppajjati.”
Trong “WebLink: suttacentral: Sakkāyadiṭṭhi Sutta (SN 22.155),” Đức Phật dạy: “rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa sakkāya diṭṭhi uppajjati. Vedanāya sati … saññāya sati … saṅkhāresu sati … viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa sakkāya diṭṭhi uppajjati.”
- OR, “When one focuses on rūpa when one is ‘immersed’ in rūpa and keep them close (in one’s mind), identity view The same can happen with vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa.
HOẶC: “Khi một người chú tâm vào rūpa, ‘thấm đắm’ vào rūpa và giữ chúng gần bên trong tâm, thì thân kiến sinh khởi. Điều tương tự xảy ra với vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa.”
Then the Buddha asks, “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Rồi Đức Phật hỏi: “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti
- OR, “bhikkhus, are those rūpā of nicca or anicca nature?”
NGHĨA LÀ: “Này các bhikkhu, những rūpa ấy có bản chất nicca hay anicca?”
- Anicca and nicca are complex Pāli words with multiple (but related) meanings. See, “Anicca – True Meaning.”
Anicca và nicca là những từ Pāli phức tạp với nhiều nghĩa (nhưng có liên hệ). Xem thêm bài “Anicca – True Meaning.”
- Those two words are related to “icca” or “icchā” meaning liking or desire. See, “Icca, Nicca, Anicca – Important Connections.”
Hai từ này liên hệ đến “icca” hay “icchā” nghĩa là ưa thích hoặc ham muốn. Xem bài “Icca, Nicca, Anicca – Important Connections.”
- We will discuss the correct meaning of “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? in #9 below. First, let us look at the common INCORRECT meaning of it.
Chúng ta sẽ bàn về ý nghĩa đúng của câu “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?” ở mục #9 bên dưới. Trước hết, hãy xem cách hiểu SAI LẦM thường gặp.
Critical Error in Equating “Nicca and Anicca” in Pāli as “Nitya and Anitya” in Sanskrit
Sai Lầm Nghiêm Trọng Khi Đồng Nhất “Nicca Và Anicca” Trong Pāli Với “Nitya Và Anitya” Trong Sanskrit
- The INCORRECT translation of “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? is, “bhikkhus, are those rūpā permanent or impermanent?”
Cách dịch SAI của câu “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?” là: “Này các bhikkhu, rūpa ấy là thường hay vô thường?”
- That is the English translation that appears in most current English texts. It is WRONG!
Đó là bản dịch tiếng Anh xuất hiện trong phần lớn các tài liệu hiện nay. Và nó SAI!
- The Pāli word “nicca” DOES NOT mean “permanent” and “anicca” DOES NOT mean “impermanent.”
Trong Pāli, “nicca” KHÔNG có nghĩa “thường hằng,” và “anicca” KHÔNG có nghĩa “vô thường.”
- However, the Sanskrit words “nitya” and “anitya” DO MEAN “permanent” and “impermanent.”
Tuy nhiên, trong Sanskrit, “nitya” và “anitya” THỰC SỰ CÓ NGHĨA “thường hằng” và “vô thường.”
- That grave mistake of confusing Pāli words with wrong Sanskrit words has kept so many people from grasping the correct Buddha Dhamma.
Sự nhầm lẫn trầm trọng khi dùng nghĩa của Sanskrit để giải thích Pāli đã khiến vô số người không hiểu đúng Dhamma của Đức Phật.
- Pāli words for “permanent” is niyata AND dhuva. Impermanence is expressed as “aniyata” or “addhuva.”
Từ Pāli chỉ “thường hằng” là niyata VÀ dhuva. “Vô thường” trong Pāli được biểu đạt bằng “aniyata” hoặc “addhuva.”
- For the life of me, I do not understand why all these “learned bhikkhus and scholars” refuse to take a bit of time to go through the Tipiṭaka and figure this out. They should keep in mind that teaching wrong Dhamma is an offense. The Buddha admonished that dealing with Dhamma is like handling a snake. If you get hold of the wrong end, you will be in danger.
Thật lòng tôi không hiểu tại sao nhiều vị “học giả và bhikkhu uyên bác” lại không chịu dành chút thời gian khảo sát Tipiṭaka để thấy rõ điều này. Họ cần nhớ rằng giảng dạy sai Dhamma là một lỗi nặng. Đức Phật đã cảnh báo rằng tiếp xúc với Dhamma giống như cầm một con rắn: nếu cầm nhầm đầu, sẽ nguy hiểm ngay.
Correct Translation of “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản Dịch Đúng của “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?”
- In fact, there are more suttā in this series that probe deeper into how the root causes of suffering are tied up to the view of “me” and “mine” based on the high-value for world objects.
Thật ra, có nhiều sutta trong cùng bộ kinh này phân tích sâu hơn về cách gốc rễ của khổ dính liền với quan kiến “ta” và “của ta” khi ta đặt giá trị quá cao vào các đối tượng thế gian.
For example, WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 22.159) further clarifies what we discussed in #6 above. In that sutta, the Buddha explains to Ven. Ānanda how attachment to rūpa with VIEW of “me and mine” leads to suffering and, thus, is the wrong view. The conversation goes as follows.
Ví dụ, “WebLink: suttacentral: Ānanda Sutta (SN 22.159)” minh họa thêm điều đã nói ở mục #6. Trong sutta này, Đức Phật giải thích cho Tôn giả Ānanda cách chấp thủ rūpa với quan kiến “ta và của ta” dẫn đến khổ đau, và do đó là quan kiến sai lầm. Cuộc đối thoại như sau:
- “Taṁ kiṁ maññasi, ānanda, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
- “Aniccaṁ, bhante.”
- “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
- “Dukkhaṁ, bhante.”
- “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? [kalla : [adj.] 1. clever; able; 2. healthy; sound; 3. ready; 4. proper.]
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? [kalla : [tính từ] 1. khéo léo; có khả năng; 2. mạnh khoẻ; ổn định; 3. sẵn sàng; 4. thích hợp.]
- “No hetaṁ, bhante.”
Translation:
Dịch nghĩa:
- “What do you think, Ānanda? Can anyone maintain rūpa to one’s liking?”
“Này Ānanda, ông nghĩ sao? Có ai có thể giữ gìn rūpa theo đúng ý mình muốn không?”
- “One cannot (aniccaṁ), Bhante.”
“Không thể (aniccaṁ), bạch Thế Tôn.”
- “If one cannot maintain something to one’s liking, does that lead to suffering or happiness?”
“Nếu không thể duy trì điều gì theo ý mình muốn, điều đó dẫn đến khổ hay lạc?”
- “Suffering, Bhante.”
“Thưa Thế Tôn, dẫn đến khổ.”
- “If something cannot be maintained to one’s liking, leads to suffering, and is subject to unexpected changes, is it wise to regard that as: ‘This is mine, I am this, this is my self or identity’?”
“Nếu một điều gì đó không thể được giữ theo ý mình muốn, dẫn đến khổ, và chịu các biến đổi bất ngờ, thì có hợp lý không khi xem rằng: ‘Đây là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã hay danh tính của ta’?”
- “No, Bhante.”
“Thưa Thế Tôn, không hợp lý.”
Then the Buddha asks about the other four aggregates (the mental aggregates) of vedanā, saññā, saṅkhāra, and viññāṇa.
Rồi Đức Phật hỏi tương tự về bốn uẩn còn lại (các uẩn thuộc tâm): vedanā, saññā, saṅkhāra và viññāṇa.
- Venerable Ānanda agrees that those are also unfit to be “taken as mine or my identity.”
Tôn giả Ānanda đồng ý rằng những uẩn ấy cũng không thích hợp để xem là “của ta” hay “là bản ngã của ta.”
Is It Wise to Take the Five Aggregates As “Me and Mine”?
Có Hợp Lý Không Khi Xem Năm Uẩn Là “Ta Và Của Ta”?
- The key point is that these suttā only talk about whether it is SUITABLE or WISE to take any of the five aggregates as me or mine.
Điểm mấu chốt là các suttā này chỉ bàn về việc liệu có HỢP LÝ hay KHÔN NGOAN không khi xem bất kỳ uẩn nào trong năm uẩn là “ta” hay “của ta.”
- That pertains only to one’s view of a “me.” Getting rid of that VIEW is getting rid of sakkāya diṭṭhi.
Điều này chỉ liên quan đến quan kiến về “ta.” Đoạn trừ quan kiến ấy chính là đoạn trừ sakkāya diṭṭhi.
- One may still have the feeling/perception of a “me.” That goes away only at the Arahant
Một người vẫn có thể còn cảm nhận hay nhận thức về “ta.” Cảm nhận này chỉ chấm dứt ở tầng Arahant.
- Yet many people today try to start with “I do not exist” (with the incorrect translation of anatta as “no-self”). It is ridiculous to say, “I do not exist.” It is obvious that we all exist.
Tuy nhiên, ngày nay có nhiều người cố bắt đầu bằng quan điểm “tôi không tồn tại” (do dịch sai anatta thành “vô ngã = không có tự ngã”). Nói “tôi không tồn tại” là vô lý — rõ ràng là ai cũng tồn tại.
- We will discuss the concept of anatta in the next post. That basically says one will be helpless in the rebirth process with the wrong view and wrong perception of a “me.” That “me” will go through uncountable “bad births” with that wrong view/perception of a “me.”
Chúng ta sẽ bàn về khái niệm anatta trong bài tiếp theo. Ý chính là: người có quan kiến sai lầm và nhận thức sai lầm về “ta” sẽ bất lực trong tiến trình tái sinh; cái “ta” ấy sẽ đi qua vô số “tái sinh bất lợi” do chính tà kiến và tà nhận thức ấy.
One Could Be Reborn a Human, Deva, Brahma, Animal, Hell-Being – Which One Is “Me”?
Một Người Có Thể Tái Sinh Làm Người, Deva, Brahma, Súc Sinh, Chúng Địa Ngục – Vậy “Ta” Là Cái Nào?
- Think about that. Is “me” a human, animal, a Brahma, (or any of the many births possible)? This is why one cannot comprehend Buddha Dhamma without understanding the “big picture” of the Buddha about this world.
Hãy suy nghĩ về điều đó. “Ta” là con người, là loài vật, là một vị Brahma, hay là bất kỳ kiểu sinh hữu nào trong vô số sinh hữu có thể có? Đây là lý do vì sao không thể hiểu Dhamma của Đức Phật nếu không hiểu “bức tranh lớn” mà Đức Phật thấy về thế giới này.
- That “big picture” is the non-stop rebirth process within the 31 realms of this world.
“Bức tranh lớn” đó là tiến trình tái sinh không ngừng nghỉ trong 31 cõi của thế giới này.
- It also includes the laws of kamma and Paṭicca Samuppāda. Here, Paṭicca Samuppāda explains how different existences (bhava) arise due to abhisaṅkhāra (strong kamma.)
Nó cũng bao gồm luật kamma và Paṭicca Samuppāda. Paṭicca Samuppāda giải thích cách các loại hiện hữu (bhava) khác nhau khởi sinh do abhisaṅkhāra (kamma mạnh).
- It is those abhisaṅkhāra (done with avijjā) that lead to different existences as a human, Deva, Brahma, animal, hell-being, etc.
Chính các abhisaṅkhāra (được tạo ra cùng với avijjā) dẫn đến những hiện hữu khác nhau: người, Deva, Brahma, súc sinh, chúng địa ngục, v.v.
- Any living-being will be “preparing one’s own future births” via generating corresponding abhisaṅkhāra (or good or bad kamma) due to ignorance (avijjā.) That was the conclusion of the series of posts on “Origin of Life.” See, “Origin of Life – One Creates One’s Own Future Lives.”
Mọi hữu tình đều đang “chuẩn bị cho các tái sinh trong tương lai” của chính mình bằng cách tạo ra các abhisaṅkhāra tương ứng (tức các kamma tốt hoặc xấu) do vô minh (avijjā). Đó là kết luận của loạt bài về “Origin of Life.” Xem bài “Origin of Life – One Creates One’s Own Future Lives.”
- That avijjā will reduce by a huge fraction when one gets rid of sakkāya diṭṭhi. It will completely go away at the Arahant stage with the removal of “asmi māna.”
Vô minh ấy sẽ giảm đi rất nhiều khi một người đoạn trừ sakkāya diṭṭhi. Và nó sẽ biến mất hoàn toàn ở tầng Arahant khi “asmi māna” được đoạn tận.
